|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2025/DS-ST
Ngày 27 tháng 11 năm 2025
V/v “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Rạng Đông
- Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Cẩm Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 619/2024/TLST- DS ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T4 (T5).
Trụ sở: Tòa nhà T5, số E, phố L, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Lầu D, Tòa nhà C Hậu Giang, phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P – Chức vụ: Chủ tịch Hộ đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn Bảo T – Chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ (Theo văn bản ủy quyền ngày 10/01/2025).
Ông Huỳnh Văn Bảo T ủy quyền lại cho: Ông Nguyễn Văn T1; ông Nguyễn Văn Đ; ông Thạch Trung H; bà Trương Thị Hồng N và bà Lê Thị Ngọc N1 (Theo văn bản ủy quyền ngày 09/6/2025).
- Bị đơn: Bà Phùng Thị T2, sinh năm 1976; CCCD số: 04017603347.
Địa chỉ: Khu phố C Trong C, đặc khu P, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP T4 do người đại diện ủy quyền là bà Trương Thị Hồng N trình bày:
Ngày 05/01/2022, Ngân hàng TMCP T4 (gọi tắt là T5) đã ký kết với bà Phùng Thị T2 đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 199/2021/HDTD/PQC/01, với nội dung:
- Số tiền vay: 740.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Vay mua xe ô tô.
- Thời hạn cho vay: 96 tháng.
- Lãi suất: 12 tháng đầu tiên là 9%/năm; giai đoạn còn lại bằng lãi suất 12 tháng * (* là một loại lãi suất riêng) của T5 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,5%/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T2 đã thanh toán tổng số tiền gốc là 208.124.991 đồng và lãi là 159.371.831 đồng. Từ kỳ trả nợ ngày 15/4/2024 đến nay, bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng tính đến thời điểm ngày 27/11/2025, số tiền còn nợ như sau:
- Nợ gốc: 527.215.009 đồng.
- Lãi trong hạn: 88.536.304 đồng.
- Lãi quá hạn: 20.588.005 đồng.
- Lãi chậm trả: 7.710.429 đồng.
Tổng nợ gốc và lãi theo hợp đồng là 644.049.747 đồng.
Ngoài ra, bà T2 còn ký kết với T5 đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T5 kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 15/01/2022:
- Loại thẻ: Thẻ tín dụng T5.
- Hạn mức: 50.000.000 đồng.
Tính đến ngày 27/11/2025 còn nợ:
- Nợ gốc: 38.862.573 đồng.
- Lãi: 49.244.077 đồng.
Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng: Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, bà T2 đã thế chấp cho T5 tài sản bảo đảm theo đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 199/2021/HDTD/PQC/01 ngày 05/01/2022 đối với tài sản bảo đảm là: Xe ô tô nhãn hiệu FORT RANGER, số khung RL2UMFF60MER 15821, số máy YN2QPME15821, biển kiểm soát 68C-134.90. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 68 004896, do Phòng C Công an tỉnh K cấp ngày 31/12/2021 cho bà Phùng Thị T2.
Trong thời gian qua, Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện đôn đốc, gửi thông báo, trực tiếp xuống làm việc với bà T2 để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đã cam kết nhưng không nhận được sự hợp tác từ phía bà T2. Do bà T2 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu:
- Buộc bà Phùng Thị T2 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng T4 tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/11/2025 là 644.049.747 đồng (Trong đó: Nợ gốc 527.215.009 đồng; lãi trong hạn 88.536.304 đồng; lãi quá hạn 20.588.005 đồng; lãi chậ trả 7.710.429 đồng) và nợ thẻ tín dụng là 88.106.650 đồng (Trong đó: Nợ gốc 38.862.573 đồng; nợ lãi 49.244.077 đồng).
- Buộc bà T2 tiếp tục thanh toán nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả theo thỏa thuận tại đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 199/2021/HDTD/PQC/01 ngày 05/01/2022; Đơn đề nghị phát thẻ tín dụng T5 kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 15/01/2022 phát sinh từ sau ngày 27/11/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Việc thanh toán toàn bộ các nghĩa vụ nêu trên được thực hiện một lần ngay sau khi bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật.
- Kể từ ngày bản án/quyết định có hiệu lực, bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trên và lãi suất phát sinh thì T5 có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay trên để thu hồi nợ gồm: Xe ô tô nhãn hiệu FORT RANGER – BKS 68C – 134.90; Giấy CNĐK số 68 004896 do Phòng CSGT Công an tỉnh K cấp ngày 31/12/2021 cho bà T2.
- Trường hợp khoản tiền thu được từ việc bán/ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì bà T2 vẫn có nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ còn lại tại T5.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phùng Thị T2 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có lời khai và ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến khi trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 117, 292, 293, 298, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T4 đối với bà Phùng Thị T2.
- - Buộc bà Phùng Thị T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP T4 tổng số nợ theo hợp đồng tín dụng số 199/2021/HDTD/PQC/01 ngày 05/01/2022 tạm tính đến ngày 27/11/2025 là 644.049.747 đồng (bao gồm: Nợ gốc 527.215.009 đồng; nợ lãi 116.834.738 đòng) và số tiền nợ thẻ tín dụng là 88.106.650 đồng (gồm: Nợ gốc 38.862.573 đồng; nợ lãi 49.244.077 đồng) theo hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng ngày 15/01/2021 và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/11/2025 tương ứng theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cho đến khi bà T2 thanh toán toàn bộ khoản tiền trên cho Ngân hàng TMCP T4.
- - Trường hợp bà T2 không trả được nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp của bà T2 là xe ô tô nhãn hiệu FORT RANGER, biển kiểm soát 68C – 134.90 do Công an tỉnh K cấp ngày 31/12/2021 cho bà Phùng Thị T2 để Ngân hàng thu hồi các khoản nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay theo hợp đồng tín dụng nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn cư trú tại đặc khu P, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang.
[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ Điều 227 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Ngày 05/01/2022, Ngân hàng T5 có ký kết hợp đồng tín dụng và thế chấp xe ô tô số 199/2021/HDTD/PQC/01 với bà Phùng Thị T2. Số tiền vay theo hợp đồng tín dụng là 740.000.000 đồng; mục đích vay để mu axe ô tô; thời hạn vay 96 tháng; lãi suất cho vay 12 tháng đầu là 9%/năm; giai đoạn còn lại bằng lãi suất 12 tháng của T5 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,5%/năm. Mỗi kỳ trả gốc và lãi vào ngày 15 hàng tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T2 đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền gốc 212.784.991 đồng và tiền lãi 159.371.831 đồng.
Ngoài ra, bà T2 còn ký kết với T5 đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T5 kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 15/01/2022, hạn mức thẻ là 50.000.000 đồng.
Tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu FORT RANGER, biển kiểm soát 68C-134.90 do Công an tỉnh K cấp ngày 31/12/2021 cho bà Phùng Thị T2.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ kỳ thành toán ngày 15/4/2024 cho đến nay. Do đó, Ngân hàng T5 khởi kiện yêu cầu buộc bà T2 có nghĩa vụ thanh toán tiền vay còn nợ và lãi suất phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp bà T2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Xét hợp đồng tín dụng số 199/2021/HDTD/PQC/01 ngày 05/01/2022 và hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng ngày 15/01/2022 được ký kết giữa Ngân hàng T5 với bà Phùng Thị T2: Về hình thức được lập thành văn bản, có ký tên, đóng dấu và tuân thủ về mặt hình thức theo quy định tại Điều 119 BLDS năm 2015. Về nội dung: Hợp dồng được các bên thỏa thuận rõ số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, phương thức trả nợ, trách nhiệm vi phạm hợp đồng cụ thể, rõ ràng theo quy định pháp luật. Việc thỏa thuận của các bên về lãi suất cho vay trong hạn, quá hạn, lãi phạt vi phạm là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên và phù hợp với quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015; Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng; Điều 7 và khoản 1, 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên hợp đồng phát sinh hiệu lực.
Trong quá trình vay, bên vay là bà T2 đã trả được 212.784.991 đồng tiền gốc và 159.371.831 đồng tiền lãi. Kể từ kỳ thanh toán ngày 15/4/2024 đến nay, bà T2 không thanh toán tiếp số tiền nợ đến hạn cho Ngân hàng nên bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Điều 6 của hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Ngoài ra, đối với hợp đòng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng ngày 15/01/2022, bà T2 còn nợ Ngân hàng số tiền gốc 38.862.573 đồng và lãi 49.244.077 đồng đến nay vẫn chưa thanh toán. Mặc dù Ngân hàng đã gửi các thông báo để thu hồi nợ trước hạn số 4449/2024/TB-TPB.DR ngày 03/10/2024 và thông báo khởi kiện số 4547/2024/TB-TPB.DR ngày 10/10/2024 nhưng đến nay bà T2 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T2 thanh toán số tiền nợ tạm tính đến ngày 27/11/2025 là 644.049.747 đồng (trong đó nợ gốc 527.215.099 đồng; nợ lãi 116.834.738 đồng) và số tiền nợ thẻ tín dụng là 88.106.650 đồng (trong đó nợ gốc 38.862.573 đồng; nợ lãi 49.244.077 đồng) là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Xét hợp đồng thế chấp xe ô tô số 199/2021/HDTD/PQC/01 ngày 05/01/2022 giữa Ngân hàng T5 với bà T2: Về hình thức được lập thành văn bản. Nội dung hợp đồng các bên thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, tài sản thế chấp là của người thế chấp, các bên thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định tại các Điều 292, 293, 298, 317, 318 và 319 BLDS năm 2015 nên hợp đồng phát sinh hiệu lực. Do đó, trường hợp bà T2 không trả được nợ cho Ngân hàng T5 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí: Ngân hàng TMCP T4 khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí, được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.314.626 đồng theo biên lai thu số 0006773, ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang).
Bà Phùng Thị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả là 732.156.397 đồng = 20.000.000 đồng + (4% x 332.156.397 đồng) = 33.286.255 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 85, 147, 227, 266, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 117, 119, 292, 293, 298, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 422, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng; Điều 7, 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng T4 (T5) đối với bị đơn bà Phùng Thị T2 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc bà Phùng Thị T2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng T4 số tiền tạm tính đến ngày 27/11/2025 là 644.049.747 đồng (Sáu trăm bốn mươi bốn triệu không trăm bốn mươi chin nghìn bảy tram bốn mươi bảy đồng) (Trong đó: Nợ gốc 215.009 đồng; lãi trong hạn 88.536.304 đồng; lãi quá hạn 20.588.005 đồng và lãi phạt chậm trả 7.710.429 đồng) theo hợp đồng tín dụng số 199/2021/HDTD/PQC/01 ngày 05/01/2022 và số tiền nợ thẻ tín dụng là 88.106.650 đồng (T3 mươi tám triệu một tram lẻ sáu nghìn sáu tram năm mươi đồng) (Trong đó: Nợ gốc 38.862.573 đồng; nợ lãi 49.244.077 đông) theo hợp đồng phát hành, sử thẻ tín dụng ngày 15/01/2021.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 27/11/2025, bà Phùng Thị T2 còn phải trả lãi phát sinh trên nợ gốc theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cho đến khi bà T2 thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng T4.
Trường hợp bà Phùng Thị T2 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng T4 có quyền yêu cầu cơ quan Thị hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu FORT RANGER, biển kiểm soát 68C – 134.90, theo Giấy chứng nhận đăng ký số 68 004896 do Công an tỉnh K cấp ngày 31/12/2021 cho bà Phùng Thị T2.
Trường hợp khoản tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì bà T2 vẫn có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ đối với khoản nợ còn lại cho Ngân hàng T4.
2. Về án phí:
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP T4 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.314.626 đồng (Mười bốn triệu ba trăm mười bốn nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng) theo biên lai thu số 0006773, ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang).
Buộc bà Phùng Thị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 33.286.255 đồng (Ba mươi ba triệu hai trăm tám mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng).
3. Quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Bình |
Bản án số 102/2025/DS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 102/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ tín dụng
