Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 102/2025/DS-ST

Ngày: 14 - 3 - 2025

V/v: “T/c Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế Viễn

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Soan

bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: ông Phan Gia Hưng – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân

quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:

Nguyễn Thị Cẩm Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 352/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024; về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 680/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2025/QÐST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 33/2025/QÐST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ Phần Đ; địa chỉ trụ sở chính: 488-490 L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Đăng Q; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Đại diện theo ủy quyền: Ngân hàng TMCP S (S1) (Hợp đồng ủy quyền số 2012.47/2023/HĐUQ/SHB-XNK ngày 06/6/2023); địa chỉ liên hệ: Số G, phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: bà Ngô Thu H; chức vụ: Tổng Giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: ông Đặng Thế A; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S (S1), chi nhánh P; địa chỉ: A T, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 406.1/2023/VBUQ-SHB ngày 19/7/2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP S), (có mặt).

Bị đơn: bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1962; địa chỉ: E Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H1: Luật sư Phan Thanh H2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Nơi làm việc: Văn phòng L; địa chỉ: C L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Huỳnh Thiên K, sinh năm 1984; Trần Thiên Minh A1, sinh năm 2006; Trần Thiên Minh T, sinh năm 2007; cùng địa chỉ: E Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

- Bà Nguyễn Huỳnh Vạn N, sinh năm 1986; ông Võ Duy H3, sinh năm 1991; cùng địa chỉ: A Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 3 năm 2024, bản tự khai và các bản sao kê, Ngân hàng TMCP S (S1) là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ Phần Đ (Hợp đồng ủy quyền số 2012.47/2023/HĐUQ/SHB-XNK ngày 06/6/2023) trình bày:

Khoản vay 1: ngày 13/08/2019, Ngân hàng Thương mại cổ phần S, chi nhánh P và bà Huỳnh Thị H1 có ký kết Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 19/2019/HDTDTDH-CN/SHB.131901 với nội dung sau: số tiền vay là 4.600.000.000 đồng (bốn tỷ sáu trăm triệu đồng), thời hạn vay là 180 tháng, mục đích vay để bù đắp mua bất động sản. Tài sản bảo đảm cho khoản vay này là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: A Đường số I (số cũ là 19 Đường số A), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số BK 230594, Số vào sổ cấp GCN: CH 03104 do Ủy ban nhân dân quận G cấp ngày 01/08/2012, cập nhật thay đổi chủ sở hữu và thay đổi địa chỉ ngày 21/10/2014. Tài sản bảo đảm trên được ký kết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 29/2019/HĐTC-CN/SHB.131901 ngày 13/08/2019 ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S, chi nhánh P và Bà Huỳnh Thị H1 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng: 00005086 ký ngày 13/08/2019. S1 đã tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận G ngày 16/08/2019.

Khoản vay 2: ngày 05/09/2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần S, chi nhánh P và Bà Huỳnh Thị H1 có ký kết Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 24/2019/HDTDTDH-CN/SHB.131901 với nội dung sau: số tiền vay là 6.300.000.000 đồng (sáu tỷ ba trăm triệu đồng), thời hạn vay là 180 tháng, mục đích vay để bù đắp mua bất động sản Tài sản bảo đảm cho khoản vay này là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại Thửa đất số 506, Tờ bản đồ số 115, địa chỉ: E Đường số I, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CK 988848, Số vào sổ cấp GCN: CS 09341 do Sở T1 cấp ngày 04/04/2018. Tài sản bảo đảm này được ký kết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 35/2019/HĐTC-CN/SHB.131901 ngày 05/09/2019 ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S, chi nhánh P và bà Huỳnh Thị H1 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng: 005868 ký ngày 05/09/2019. S1 đã tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận G ngày 05/09/2019.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng đã ký kết, S1 đã giải ngân 02 lần như sau:

Khoản vay 1: 4.600.000.000 đồng (bốn tỷ sáu trăm triệu đồng) cho bà Huỳnh Thị H1 theo Khế ước nhận nợ số: 01-19/2019/KUNN-CN/SHB.131901 ngày 16/08/2019, Lãi suất: 9,9%/năm cố định trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ kỳ hạn vay 13 tháng của S1 có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng với (+) biên độ tối thiểu 4,2%/năm.

Khoản vay 2: 6.300.000.000 đồng (sáu tỷ ba trăm triệu đồng) cho bà Huỳnh Thị H1 theo Khế ước nhận nợ số: 01-24/2019/KUNN-CN/SHB.131901 ngày 06/09/2019, Lãi suất: 10,5%/năm cố định trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ kỳ hạn vay 13 tháng của S1 có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng với (+) biên độ tối thiểu 4,5%/năm.

Trong quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng trên, bà Huỳnh Thị H1 đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho S1 nên S1 đã bán khoản nợ của bà Huỳnh Thị H1 cho Công ty Cổ phần Đ theo Hợp đồng mua bán nợ số 2012.47/2021/HĐMBN/SHB-XNK ngày 20/12/2021. Công ty Cổ phần Đ kế thừa toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của S1 đối với Khoản nợ được mua, bán theo Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp và các khoản nợ khác (nếu có) như đã nêu tại Hợp đồng mua bán nợ. Sau khi nhận chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ được mua bán, Công ty Cổ phần Đ trở thành chủ sở hữu của các khoản nợ được mua, bán, có nghĩa là trở thành chủ nợ mới của bà Huỳnh Thị H1 đối với các khoản vay nêu trên. Ngày 06/06/2023, Công ty Cổ phần Đ đã ủy quyền cho S1 thực hiện các công việc liên quan tới việc xử lý khoản vay của bà Huỳnh Thị H1, chi tiết theo Hợp đồng ủy quyền số 2012.47/2023/HĐUQ/SHB-XNK ngày 06/06/2023.

Sau khi phát sinh nợ quá hạn, Công ty Cổ phần Đ đã nhiều lần đôn đốc, gửi công văn yêu cầu thanh toán nợ hoặc bàn giao tài sản đảm bảo, tạo điều kiện cho cho bà Huỳnh Thị H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Cổ phần Đ, tuy nhiên Bà Huỳnh Thị H1 đã không thực hiện gây ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Cổ phần Đ.

Tính đến ngày 14/3/2025, bà Huỳnh Thị H1 còn nợ Công ty Cổ phần Đ số tiền tổng cộng là: 19.329.651.713 đồng (mười chín tỷ ba trăm hai mươi chín triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn bảy trăm mười ba đồng), trong đó bao gồm: nợ gốc là 10.550.000.000 đồng; lãi trong hạn là 7.090.914.436 đồng, lãi quá hạn là 517.343.764 đồng, phạt chậm trả lãi là 1.171.393.513 đồng.

Trên cở sở những nội dung đã trình bày trên, Công ty Cổ phần Đ yêu cầu Tòa thụ lý vụ án và xem xét giải quyết tranh chấp như sau:

Buộc cho bà Huỳnh Thị H1 phải trả Công ty Cổ phần Đ số nợ tính đến ngày 14/3/2025 của Bà Huỳnh Thị H1 còn nợ Công ty Cổ phần Đ số tiền tổng cộng là: 19.329.651.713 đồng (mười chín tỷ ba trăm hai mươi chín triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn bảy trăm mười ba đồng), trong đó bao gồm: nợ gốc là 10.550.000.000 đồng; lãi trong hạn là 7.090.914.436 đồng, lãi quá hạn là 517.343.764 đồng, phạt chậm trả lãi là 1.171.393.513 đồng.

Bà Huỳnh Thị H1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, kể từ ngày 15/3/2025 đến khi trả hết nợ.

Nếu bà Huỳnh Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: A Đường số I (số cũ là 19 Đường số A), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và địa chỉ: E Đường số I, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Nguyễn Huỳnh Thiên K; Trần Thiên Minh A1; Trần Thiên Minh T; cùng địa chỉ: E Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Huỳnh Vạn N; ông Võ Duy H3; cùng địa chỉ: A Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phải có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản không phải là tài sản thế chấp và bàn giao tài sản thế chấp là nhà đất trên cho Cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp nguyên đơn có yêu cầu phát mãi căn nhà nêu trên để thu hồi nợ.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ thì bà Huỳnh Thị H1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Công ty Cổ phần Đ.

Bị đơn phải chịu án phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị đơn đã thừa nhận toàn bộ số nợ mà nguyên đơn đã trình bày ở trên và chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ các đương sự đến Tòa án tham gia tố tụng, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến, nên Tòa án không ghi được lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

  • Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Bị đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự
  • Viện kiểm sát không có kiến nghị về thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Ngân hàng TMCP S (S1) đã ký kết Hợp đồng tín dụng với bà Huỳnh Thị H1 theo như nội dung nguyên đơn đã trình bày. Quá trình thực hiện hợp đồng bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Căn cứ vào Bảng tính lãi khoản vay do Ngân hàng cung cấp tại phiên tòa, tính đến ngày 14/3/2025, bà H1 còn nợ số tiền nêu trên. Việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bà H1 đã ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của Ngân hàng. Hiện số nợ trên đã bán cho Công ty Cổ Phần Đ.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: buộc bà Huỳnh Thị H1 thanh toán số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng đến khi trả hết nợ cho Công ty Cổ Phần Đ.

Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Huỳnh Thị H4 có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S (S1) (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) các hợp đồng tín dụng như đã trình bày ở phần nội dung vụ án. Do đó, có cơ sở xác định giữa bà H1 và Ngân hàng có giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản như quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Do bà H1 không trả tiền vay nên Ngân hàng đã bán nợ cho Công ty Cổ Phần Đ (sau đây gọi tắt là Công ty) và Công ty đã ủy quyền cho Ngân hàng khởi kiện; quan hệ tranh chấp này là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà H1 có nơi cư trú tại quận G, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập bà H1 tới Tòa án để giải quyết vụ án. Tại Tòa án thì bà H1 đã thừa nhận số nợ phát sinh từ việc giao kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng như đại diện của nguyên đơn đã trình bày.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập cho người có quyền lợi liên quan tới tham gia tố tụng, nhưng họ không tới Tòa án, nên Tòa án không ghi được lời khai của họ và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định tạm ngừng phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng họ không tới tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết buộc bà Huỳnh Thị H1 trả ngay cho Công ty tổng số tiền nợ và yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm như đã trình bày trong phần nội dung vụ án.

Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, xét thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, .. thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay tài sản mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng được thực hiện theo thỏa thuận; Hội đồng xét xử xét lãi suất của Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thống nhất:

Chấp nhận yêu cầu toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Huỳnh Thị H1 phải trả Công ty Cổ phần Đ số nợ tính đến ngày 14/3/2025 tổng cộng là: 19.329.651.713 đồng (mười chín tỷ ba trăm hai mươi chín triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn bảy trăm mười ba đồng), trong đó bao gồm: nợ gốc là 10.550.000.000 đồng; lãi trong hạn là 7.090.914.436 đồng, lãi quá hạn là 517.343.764 đồng, phạt chậm trả lãi là 1.171.393.513 đồng.

Bà Huỳnh Thị H1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, kể từ ngày 15/3/2025 đến khi trả hết nợ.

Nếu bà Huỳnh Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: A Đường số I (số cũ là 19 Đường số A), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và địa chỉ: E Đường số I, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ thì bà Huỳnh Thị H1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Công ty Cổ phần Đ.

- Bà Nguyễn Huỳnh Thiên K; Trần Thiên Minh A1; Trần Thiên Minh T; cùng địa chỉ: E Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Huỳnh Vạn N; ông Võ Duy H3; cùng địa chỉ: A Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phải có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản không phải là tài sản thế chấp và bàn giao tài sản thế chấp là nhà đất trên cho Cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp nguyên đơn có yêu cầu phát mãi tài sản nêu trên để thu hồi nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Huỳnh Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 127.329.652 đ (một trăm hai mươi bảy triệu ba trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Công ty Cổ Phần Đ số tiền 62.717.183 đ (sáu mươi hai triệu bảy trăm mười bảy ngàn một trăm tám mươi ba đồng) mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0013061 ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về các chi phí tố tụng khác: căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc bà Huỳnh Thị H1 phải trả cho Công ty Cổ Phần Đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng) theo Phiếu thu ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, Điều 203, Điều 207, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự số năm 2015.
  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 và Áp dụng pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc cho bà Huỳnh Thị H1 phải trả Công ty Cổ phần Đ số nợ tính đến ngày 14/3/2025 tổng cộng là: 19.329.651.713 đồng (mười chín tỷ ba trăm hai mươi chín triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn bảy trăm mười ba đồng), trong đó bao gồm: nợ gốc là 10.550.000.000 đồng; lãi trong hạn là 7.090.914.436 đồng, lãi quá hạn là 517.343.764 đồng, phạt chậm trả lãi là 1.171.393.513 đồng.

Bà Huỳnh Thị H1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, kể từ ngày 15/3/2025 đến khi trả hết nợ.

Nếu bà Huỳnh Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: A Đường số I (số cũ là 19 Đường số A), Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số BK 230594, Số vào sổ cấp GCN: CH 03104 do Ủy ban nhân dân quận G cấp ngày 01/08/2012, cập nhật thay đổi chủ sở hữu và thay đổi địa chỉ ngày 21/10/2014. Tài sản bảo đảm trên được ký kết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 29/2019/HĐTC-CN/SHB.131901 ngày 13/08/2019 ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S, chi nhánh P và bà Huỳnh Thị H1 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng: 00005086 ký ngày 13/08/2019. S1 đã tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận G ngày 16/08/2019 và Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại Thửa đất số 506, Tờ bản đồ số 115, địa chỉ: E Đường số I, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và Tài sản khác gắn liền với đất số CK 988848, Số vào sổ cấp GCN: CS 09341 do Sở T1 cấp ngày 04/04/2018. Tài sản bảo đảm này được ký kết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 35/2019/HĐTC-CN/SHB.131901 ngày 05/09/2019 ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S, chi nhánh P và bà Huỳnh Thị H1 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng: 005868 ký ngày 05/09/2019. S1 đã tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận G ngày 05/09/2019.

- Bà Nguyễn Huỳnh Thiên K; Trần Thiên Minh A1; Trần Thiên Minh T; cùng địa chỉ: E Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Huỳnh Vạn N; ông Võ Duy H3; cùng địa chỉ: A Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phải có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản không phải là tài sản thế chấp và bàn giao tài sản thế chấp là nhà đất trên cho Cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp nguyên đơn có yêu cầu phát mãi căn nhà nêu trên để thu hồi nợ.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ thì bà Huỳnh Thị H1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Công ty Cổ phần Đ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Huỳnh Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 127.329.652 đ (một trăm hai mươi bảy triệu ba trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Công ty Cổ Phần Đ số tiền 62.717.183 đ (sáu mươi hai triệu bảy trăm mười bảy ngàn một trăm tám mươi ba đồng) mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0013061 ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về các chi phí tố tụng khác: căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc bà Huỳnh Thị H1 phải trả cho Công ty Cổ Phần Đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng) theo Phiếu thu ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND q. GV
  • - THA DS q. GV;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên, đóng dấu)

Hoàng Thế Viễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2025/DS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 102/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Cổ phần Đ khởi kiện bà H về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger