TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 102/2025/DS - PT Ngày 26-6-2025 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh
Ông Nguyễn Xuân Trọng.
-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025; tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc bị kháng cáo:
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2025/QĐXXPT – DS ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố B T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
- Bị đơn: Chị Dương Thị Thanh X, sinh năm 1981 và anh Phạm Trung K, sinh năm 1977; cùng địa chỉ: Tổ dân phố C T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt chị X).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Xuân L1, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố B T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
- Người làm chứng: Chị Phạm Thị Hữu L2, sinh năm 2000 và chị Phạm Thị H, sinh năm 1989; cùng địa chỉ: Tổ dân phố B T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt chị L2).
- Người kháng cáo: Chị Dương Thị Thanh X là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Do quen biết với vợ chồng chị Dương Thị Thanh X và anh Phạm Trung K nên vào cuối tháng 12 âm lịch năm 2022, chị X đến hỏi vay tiền, chị đồng ý cho chị X vay 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Hai bên không viết giấy tờ, không thỏa thuận thời hạn trả, không thế chấp cầm cố tài sản gì, lãi suất 1.25%/tháng.
Từ ngày 25/7/2023 đến tháng 10 âm lịch năm 2023, chị nhiều lần cho chị X vay nóng (tức vay thời hạn ngắn) để kinh doanh gạch ốp lát, đảo khế ước Ngân hàng, mỗi lần vay đều không thế chấp hoặc cầm cố tài sản gì, sau mỗi lần vay, chị X đều trả đúng, đủ khoản vay như đã thỏa thuận.
Ngày 10/10 âm lịch năm 2023 chị X tiếp tục hỏi vay tiền, chị đồng ý cho chị X vay 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng), lãi suất 1,25%/tháng, hẹn 10 ngày trả. Tuy nhiên đến ngày 13/12/2023 chị X không trả tiền, chị đến yêu cầu thì chị X hẹn ngày 31/5/2024 sẽ trả cả khoản 300.000.000 đồng đã vay tháng 12/2022. Đồng thời chị X, anh K đã viết giấy vay nợ 1.000.000.000 đồng (gộp 02 khoản vay) cho chị giữ. Ngày 31/5/2024, chị X trả tiền lãi nhưng không trả gốc, chị nhiều lần đến nhà, gọi điện yêu cầu vợ chồng chị X thanh toán khoản nợ gốc và lãi nhưng chị X, anh K đều khất (chị có ghi âm một số cuộc gọi điện thoại giữa chị với chị X). Do vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng chị Dương Thị Thanh X, anh Phạm Trung K trả vợ chồng chị 1.000.000.000 đồng tiền gốc, 50.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng 1.050.000.000 đồng (một tỉ không trăm năm mươi triệu đồng) cùng lãi suất 1,25%/tháng của số tiền gốc kể từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thanh toán xong.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị L xác định ngày 03/02/2024, chị Phạm Thị H (em gái anh K) đã trả thay chị X số tiền gốc 50.000.000 đồng. Hiện chị X, anh K nợ vợ chồng chị 950.000.000 đồng. Nay do kinh tế gia đình chị X gặp khó khăn nên chị hỗ trợ chỉ yêu cầu vợ chồng chị X phải trả 900.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng), không yêu cầu lãi suất. Đối với 50.000.000 đồng tiền lãi và lãi suất phát sinh tính từ ngày 01/6/2024 cho đến ngày xét xử thì chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn chị Dương Thị Thanh X trình bày: Chị đồng ý với nguyên đơn về mối quan hệ và số tiền gốc còn nợ 950.000.000 đồng. Từ tháng 02/2023 đến ngày 15/11/2023, chị đã nhiều lần vay tiền chị L. Trong đó chị còn nợ chị L khoản vay lần đầu vào ngày 18/02/2023 vay 300.000.000 đồng và lần cuối cùng ngày 15/11/2023 vay 700.000.000 đồng. Tổng cộng 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).
Chị đã trả chị L tiền lãi của khoản vay lần 1 và khoản vay lần cuối, cụ thể: Ngày 18/3/2023 trả 9.600.000 đồng, ngày 17/4/2023 trả 9.600.000 đồng, ngày 17/5/2023 trả 9.600.000 đồng, ngày 15/6/2023 trả 9.600.000 đồng, ngày 14/7/2023 trả 9.600.000 đồng, ngày 14/8/2023 trả 9.600.000 đồng; ngày 14/9/2023 trả 9.600.000 đồng, ngày 10/11/2023 trả 9.600.000 đồng, ngày 10/12/2023 trả 9.600.000 đồng. Tổng cộng: 86.400.000 đồng. Ngày 03/02/2024, chị Phạm Thị H đã trả thay chị 50.000.000 đồng tiền gốc. Hiện chị còn nợ chị L 950.000.000 đồng.
Đối với những lần vay còn lại, chị đã trả toàn bộ cả tiền gốc và lãi cho vợ chồng chị L.
Đối với lãi của khoản nợ 950.000.000 đồng, chị trả chị L cụ thể như sau: ngày 09/02/2024 trả 5.000.000 đồng; ngày 06/3/2024 trả 10.000.000 đồng; ngày 14/3/2024 trả 9.000.000 đồng; ngày 25/3/2024 trả 10.000.000 đồng; ngày 30/3/2024 trả 10.000.000 đồng; ngày 02/5/2024 trả 10.000.000 đồng; ngày 16/7/2024 trả 5.000.000 đồng, ngày 28/7/2024 trả 5.000.000 đồng; ngày 05/9/2024 trả 3.000.000 đồng. Tổng cộng 67.000.000 đồng.
Chị xác định số tiền còn nợ chị L là 950.000.000 đồng. Do chị đã trả tổng cộng các khoản lãi của 10 lần vay là 451.000.000 đồng nên chỉ chấp nhận trả chị L 499.000.000 đồng (đối trừ 950.000.000 đồng gốc - 451.000.000 đồng tổng số tiền lãi đã trả = 499.000.000 đồng). Hiện nay kinh tế gia đình chị gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ nên đề nghị được trả dần chị L khoản tiền còn nợ 499.000.000 đồng. Đồng thời đề nghị chị L miễn khoản lãi 50.000.000 đồng cũng như lãi suất 1,25%/tháng của khoản nợ gốc kể từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thanh toán xong.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị X xác định khoản vay lần 1 (300.000.000 đồng) và khoản nợ của cả 02 lần vay (lần đầu và lần cuối = 1.000.000.000 đồng) chị đã trả chị L 150.000.000 đồng tiền lãi và 50.000.000 đồng tiền gốc, hiện chị vay nợ nhiều không có khả năng trả lãi nên đề nghị chị L miễn tiền lãi để đối trừ cho chị số tiền đã trả lãi vào tiền gốc. Tức chị chỉ chấp nhận trả chị L 750.000.000 đồng không lãi suất, chị sẽ trả dần khoản nợ trên theo khả năng của mình.
Bị đơn anh Phạm Trung K đã được Tòa án làm các thủ tục triệu tập hợp lệ nhiều lần. Anh K biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án (nhiều lần trực tiếp nhận giấy triệu tập, văn bản của Tòa án) nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, tại Đơn phản tố ghi ngày 21/10/2024 do anh K và chị X làm, anh K xác định nội dung như trong bản tự khai của chị Dương Thị Thanh X, thể hiện anh và chị X nhiều lần vay tiền của vợ chồng chị L, đã trả toàn bộ gốc và lãi của các lần vay từ thứ 2 đến thứ 9, đối với lần vay thứ nhất và thứ 10 anh chị đã trả gốc được 50.000.000 đồng và nhiều lần trả lãi. Nay chị L khởi kiện yêu cầu trả 950.000.000 đồng không lãi suất. Anh chỉ chấp nhận trả chị L 499.000.000 đồng (đối trừ 950.000.000 đồng gốc - 451.000.000 đồng tổng số tiền lãi đã trả = 499.000.000 đồng). Hiện nay vợ chồng anh đang gặp khó khăn về kinh tế nên đề nghị được trả dần chị L, không đồng ý trả thêm khoản lãi 50.000.000 đồng cũng như lãi suất 1,25%/tháng kể từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thanh toán xong.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Phạm Xuân L1 trình bày: Anh nhất trí với quan điểm của chị L, đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng chị X, anh K trả 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) không lãi suất.
Người làm chứng, chị Phạm Thị H trình bày: Chị là em gái anh Phạm Trung K. Do chị mua gạch lát của vợ chồng anh K, chị X nên chị X yêu cầu tiền mua gạch 50.000.000 đồng sẽ mang đến trả chị L thay chị X nên ngày 03/02/2024 chị đã trả chị L thay chị X 50.000.000 đồng. Chị xác định không có tiền cho chị X vay, không vay tiền vợ chồng chị L, không liên quan đến việc vay nợ giữa chị L và chị X nên từ chối tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Chị Phạm Thị Hữu L2 trình bày: Chị là con dâu bà L, ông L1. Bà L không có tài khoản Ngân hàng nên mượn tài khoản của chị để thanh toán các khoản nợ giữa bà L với chị X. Sau mỗi lần bà L, chị X giao dịch, chuyển khoản qua tài khoản của chị, chị đều rút tiền trả bà L. Chị không có tiền cho chị X vay, không liên quan đến việc vay nợ giữa bà L và chị X nên từ chối tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc đã quyết định:
Căn cứ các Điều 280, Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.
Buộc chị Dương Thị Thanh X, anh Phạm Trung K phải trả chị Nguyễn Thị L số tiền 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) không lãi suất.
Ngoài ra quyết định còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, chị Dương Thị Thanh X kháng cáo đề nghị Tòa cấp phúc thẩm xem xét lại nội dung vụ án, sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định và khấu trừ hợp lý số tiền 487.000.000 đồng của chị Dương Thị Thanh X đã trả vào khoản nợ gốc 950.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của chị X, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị X nộp trong hạn luật định; chị X đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên đơn kháng cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của chị Dương Thị Thanh X, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các đương đều thừa nhận: Vào tháng 12 âm lịch năm 2022, chị Nguyễn Thị L, anh Phạm Xuân L1 cho vợ chồng chị Dương Thị Thanh X, anh Phạm Trung K vay 300.000.000 đồng, lãi suất 1,25%/tháng, không thỏa thuận thời hạn trả.
Từ tháng 7 âm lịch năm 2023 đến tháng 10 âm lịch năm 2023, chị L nhiều lần cho vợ chồng chị X vay nóng (tức vay thời hạn ngắn), sau mỗi lần vay nóng, chị X đều đã trả đủ khoản vay.
Ngày 10/10 âm lịch năm 2023 chị X tiếp tục vay chị L 700.000.000đ, lãi suất 1,25%/tháng, hẹn 10 ngày trả. Đến tháng 11 âm lịch năm 2023, chị X không trả mà hẹn ngày 31/5/2024 sẽ trả cả khoản vay 300.000.000đ. Đồng thời vợ chồng chị X viết 01 giấy vay nợ gộp cả 02 khoản vay, tổng cộng 1.000.000.000 đồng. Ngày 03/02/2024, chị Phạm Thị H đã trả thay chị X 50.000.000 đồng. Hiện chị X, anh K nợ vợ chồng chị L 950.000.000 đồng. Nay chị L yêu cầu chị X, anh K trả 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng), không lãi suất.
Bị đơn nhất trí khoản tiền còn nợ anh L1, chị L. Do làm ăn thua lỗ nên đến nay bị đơn chưa thanh toán được khoản nợ. Anh K chỉ chấp nhận trả 499.000.000 đồng; chị X cho rằng do chị đã trả 50.000.000 đồng tiền gốc và nhiều lần trả lãi của khoản vay 300.0000.000 đồng lần 1 và 700.000.000 đồng lần vay cuối cùng nên chỉ chấp nhận trả vợ chồng chị L số tiền 750.000.000 đồng, không lãi suất.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định, giữa vợ chồng anh L1, chị L và vợ chồng chị X, anh K xác lập giao dịch dân sự là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn nên phát sinh quyền và nghĩa vụ.
Tại khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự quy định: “2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Chị L cho vợ chồng chị X, anh K nhiều lần vay tiền, trong đó có khoản vay 300.000.000đ vào tháng 02/2023 và khoản vay 700.000.000 đồng vào ngày 10/10 âm lịch năm 2023 vợ chồng chị X chưa trả. Ngày 01/11/2023, chị X, anh K viết 01 giấy biên nhận vay số tiền 1.000.000.000 đồng (gộp cả 02 lần vay). Hẹn đến ngày 31/5/2024 sẽ trả toàn bộ khoản nợ. Ngày 03/02/2024, chị X đã trả được 50.000.000 đồng, số tiền còn lại chị L nhiều lần yêu cầu nhưng chị X, anh K không trả. Do vậy có thể khẳng định vợ chồng chị X, anh K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự nên yêu cầu khởi kiện của chị L buộc vợ chồng chị X, anh K trả 900.000.000 đồng là có căn cứ cần chấp nhận.
Đối với khoản tiền gốc 50.000.000 đồng, khoản tiền lãi cũng 50.000.000 đồng và lãi phát sinh 1,25%/tháng kể từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thanh toán xong. Tại phiên tòa, chị L không yêu cầu giải quyết. Xét việc chị L không yêu cầu lãi suất và 1 phần nợ gốc nêu trên là tự nguyện và không trái pháp luật thể hiện tính nhân văn khi bị đơn kinh tế gặp khó khăn nên cần chấp nhận.
Đối với kháng cáo của chị X đề nghị khấu trừ hợp lý số tiền 487.000.000 đồng của chị Dương Thị Thanh X đã trả vào khoản nợ gốc 950.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy, giao dịch vay tài sản giữa vợ chồng chị L với vợ chồng chị X được xác lập dựa trên sự tự nguyện về việc vay và trả nợ, số tiền cho vay, lãi suất. Chị X, anh K không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh chị L cho vay vượt mức quy định của Ngân hàng N, đồng thời bị đơn thừa nhận còn nợ chị L 950.000.000 đồng nên kháng cáo của chị X về việc đề nghị khấu trừ số tiền 487.000.000 đồng vào tiền gốc là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Kháng cáo của chị Dương Thị Thanh X không được chấp nhận nên chị X phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của chị Dương Thị Thanh X.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự số 10/2025/DS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc.
Căn cứ các Điều 280, Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.
Buộc chị Dương Thị Thanh X, anh Phạm Trung K phải trả chị Nguyễn Thị L số tiền 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) không lãi suất.
Chị Dương Thị Thanh X, anh Phạm Trung K phải nộp 39.000.000 đồng (ba mươi chín triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả chị Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0003395 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.
Về án phí dân sự phúc thẩm, chị Dương Thị Thanh X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003728 ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền còn nợ thì còn phải trả tiền lãi theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 102/2025/DS - PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 102/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyễn Thị L và Dương Thị Thanh X
