|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2024/HS-ST
Ngày: 30-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thanh Nga
- Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Uyên Vy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Võ Trung T
(tên gọi khác: /); Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 6 năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 7 K, Phường D, Quận D, TP .; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Hồng C và bà Trần Thị Minh S. Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 17/3/2017, Tòa án nhân dân Quận 7, TP . xử 03 năm 06 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" tại Bản án số 32/2017/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 06/12/2019 và thi hành xong phần án phí.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 10 tháng 01 năm 2024 “có mặt”.
2. Võ Trung T1
(tên gọi khác:/); Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 6 năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 7 K, Phường D, Quận D, TP .; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Hồng C và bà Trần Thị Minh S. Hoàn cảnh gia đình: Vợ là Nguyễn Thị Minh H, có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2021)
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 16/5/2008 bị Tòa án nhân dân Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” nhưng cho hưởng án treo tại bản án số 39/HSST ngày 16/5/2008. Bị cáo đã chấp hành xong thời gian thử thách, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng ngày 16/7/2008.
- Ngày 10/3/2017 bị Ủy ban nhân dân Phường D, Quận D quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở Thanh thiếu niên B để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, qua xác minh có nơi cư trú ổn định nên đến ngày 16/3/2017 được hủy quyết định.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 10 tháng 01 năm 2024 “có mặt”.
3. Trương Hồng S1
(tên gọi khác: Đầu bự); Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 122/27/16/7 T, Phường A, Quận D, TP .; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không;; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trương Văn T2 (chết) và bà Phạm Bạch H1; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con.
- Tiền án: 03 tiền án
- Ngày 22/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 35/2015/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/8/2017, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 09/3/2017.
- Ngày 11/4/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 65/2019/HSST ngày 11/4/2019. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/6/2020, chưa thi hành khoản nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 615.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và chưa bồi thường 12.313.000 đồng cho bà Phạm Thị Bích T3.
- Ngày 05/3/2021 bị Tòa án nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 52/2021/HSST ngày 05/3/2021. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/3/2023, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 25/11/2021.
- Tiền sự: 01 tiền sự
- Ngày 26/9/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Quyết định số 292/QĐ-TA ngày 26 tháng 9 năm 2018, bị cáo chưa thi hành quyết định.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 11 tháng 01 năm 2024 “có mặt”.
Bị hại: Bà Phạm Thị Hà M, sinh năm: 1996
Địa chỉ: A, B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. “vắng mặt”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Minh S, sinh năm 1969
Địa chỉ: 7 K, Phường D, Quận D, TP .. “có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN
Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 06/01/2024, Võ Trung T điều khiển xe môtô Honda Wave màu trắng, biển số 59C3-314.98 lưu thông trên đường N hướng về cầu T, Quận D. Khi đến trước số C N, Phường A, Quận D, T thấy phía trước cùng chiều có chị Phạm Thị Phương A điều khiển xe máy điện V chở chị Phạm Thị Hà M ngồi phía sau, trên tay chị M có cầm điện thoại Iphone 14Pro màu tím nên liền nảy sinh ý định chiếm đoạt. Để thực hiện, Tín điều khiển cho xe môtô 59C3-314.98 chạy lên từ phía sau áp sát phía bên phải chị M. T dùng tay trái giật lấy điện thoại Iphone 14Pro màu tím của chị M đang cầm rồi nhanh chóng tăng ga xe môtô bỏ chạy. Chị Hà M và chị Phương A phát hiện bị giật điện thoại liền tri hô, cho xe chạy đuổi theo T nhưng không kịp nên đã đến Công an P2, Quận D để trình báo.
Võ Trung T sau khi chạy thoát về nhà số A T, Phường H, Quận D kiểm tra điện thoại Iphone 14Pro màu tím giật được phát hiện bị khóa màn hình. T nói cho anh ruột là Võ Trung T1 biết vừa giật được điện thoại Iphone 14Pro màu tím, đưa điện thoại cho T1 cất giữ rồi nói T1 gọi cho bạn là Trương Hồng S1 tìm chỗ bán. T1 điện thoại cho S1 nói T vừa giật được điện thoại Iphone 14Pro bị khóa màn hình rồi rủ S1 đi bán. Sau đó, qua chỉ dẫn của S1, T1 lấy xe môtô Wave màu trắng, biển số 59C3-314.98 đến chở S1 chạy đến cửa hàng điện thoại “Hoàng tử S" số G T, Phường F, Quận E để bán nhưng S1 không gặp người quen nên T1 chở S1 đến cửa hàng điện thoại “Thanh Bích” số 174 Đ, Phường 1, Quận D. T1 vào gặp chị Nguyễn Thị Thu V1 nhưng chị V1 không mua. Trực tiếp tục chở S1 đến tiệm cầm đồ “Phúc Lộc” số 103 T 14, Quận D. T1 và S1 cùng đi vào tiệm gặp anh Ngô Hữu P nhưng anh P không mua. Do không bán được điện thoại, T1 chở S1 về nhà nói cho T biết rồi lấy điện thoại Iphone 14Pro màu tím ra trả cho T. T gọi cho bạn là Huỳnh Thanh P1 (tên gọi khác T2) nhờ chở đi bán điện thoại, P1 đồng ý, chở T đến khu vực quận B bán điện thoại Iphone 14 Pro màu tím cho đối tượng nam thanh niên (chưa rõ lai lịch) được 4.000.000 đồng. Tín cho P1 300.000 đồng, nhờ P1 chuyển khoản cho T 3.700.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của T. T gọi cho Võ Trung T1 nói đã bán được điện thoại và cho T1 500.000 đồng bằng cách chuyển khoản, còn lại 3.200.000 đồng Tín rút ra tiêu xài cá nhân hết.
Tại Cơ quan điều tra, Võ Trung T, Võ Trung T1, Trương Hồng S1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 01/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận D kết luận: 01 điện thoại Iphone 14Pro màu tím, 256Gb, số I: 353294709150710, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 06/01/2024 có giá trị 16.000.000 đồng
Về phần trách nhiệm dân sự:
bị hại Phạm Thị Hà M đã được bà Trần Thị Minh S là mẹ của Võ Trung T bồi thường trị giá điện thoại bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với xe môtô Honda Wave màu trắng biển số 59C3-314.98 do Võ Trung T, Võ Trung T1 sử dụng làm phương tiện phạm tội, qua xác minh do ông Võ Hồng C (cha ruột của T, T1) là chủ sở hữu. Xét thấy ông Võ Hồng C không biết việc T, T1 mượn xe thực để hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã không xử lý và trả lại xe cho ông C.
Đối với Huỳnh Thanh P1 quá trình điều tra Võ Trung T khai báo đã nhờ P1 chở đi bán điện thoại Iphone 14Pro giật được, qua xác minh P1 đã bán nhà đi khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra chưa ghi lời khai, chưa có căn cứ xác định hành vi của P1 nên Cơ quan điều tra đã quyết định tách hành vi, tài liệu của P1 để làm rõ xử lý sau.
Vật chứng và vật hiện đang tạm giữ
- Tạm giữ của Võ Trung T:
- 01 quần jean màu đen; 01 áo ngắn tay màu trắng, in hình con gấu màu đỏ có dòng chữ “IAMLOTSO” tại vị trí ngực trái và sau lưng; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, phía trước có in hình mặt con heo; 01 dép lê màu trắng là trang phục của T khi thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 điện thoại Iphone 8, màu đỏ-đen, số seri: C8PWH2T5JWF8, số Imei: 352989095445209 và 01 sim thuê bao số: 0898875361 là điện thoại cá nhân của T.
- 01 điện thoại Galaxy A03S màu xanh, bị vỡ màn hình, số Imei 1: 351574184784477, số Imei 2:356247274784476 là điện thoại cá nhân của T.
- 01 biên lai đóng tiền điện của T.
- 689.000 đồng là tiền bán điện thoại cướp giật còn lại do T giao nộp.
- 3.011.000 đồng do gia đình T giao nộp.
- Tạm giữ của Võ Trung T1:
- 01 áo thun màu xanh lá, có hoa văn màu trắng tại mặt trước của áo; 01 quần jean dài màu đen; 01 đôi dép xỏ quai màu đen là trang phục của T1 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội
- 01 điện thoại Huewei Nova 3e, màu đen, số Imei: 860187041496310, 860187041521778; 02 sim số: 0374431583, 093466745, không có nắp lưng sau là điện thoại của T1 sử dụng làm phương tiện phạm tội.
- Tạm giữ của Trương Hồng S1:
- 01 sơ mi trắng tay dài; 01 quần vải kaki màu đen; 01 dép xỏ quai màu đen, trên thân dép có chữ “Thvistran Pior Paris” là trang phục của S1 khi thực hiện hành vi phạm tội.
Số vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đã ra Quyết định chuyển vật chứng chuyển đến Kho vật chứng – Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, tiền nộp Kho bạc Nhà nước Quận D để chờ giải quyết.
Tại Bản cáo trạng số 105/CT-VKSQ4 ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố: Võ Trung T về tội "Cướp giật tài sản" quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố Võ Trung T1 về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố Trương Hồng S1 về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Bảo lưu quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng số 105/CT-VKSQ4 ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Trung T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15, Điều 57, Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Trung T1 từ 09 tháng đến 01 năm tù; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15, Điều 57, Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Hồng S1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù ; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Võ Trung T, Võ Trung T1 và Trương Hồng S1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2]. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của các bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 06/01/2024, tại trước số C N, Phường A, Quận D, Võ Trung T có hành vi sử dụng xe môtô Honda Wave màu trắng, biển số 59C3-314.98 làm phương tiện để thực hiện giật điện thoại Iphone 14Pro màu tím trị giá 16.000.000 đồng của chị Phạm Thị Hà M rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi bị cáo Võ Trung T thực hiện đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Các bị cáo Võ Trung T1 và Trương Hồng S1 biết rõ điện thoại Iphone 14Pro màu tím bị khóa màn hình do Võ Trung T cướp giật được mà có, nhưng vẫn nhận cất giữ sau đó đem điện thoại đi bán nên phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo Trương Hồng S1 đã phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” chưa được xóa án tích, nay lại cố ý tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo S1 là có cơ sở.
Bản thân các bị cáo Võ Trung T1, Trương Hồng S1 chưa bán được điện thoại do các cửa hàng không thu mua điện thoại bị khóa màn hình nên T1, S1 phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt” quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo Võ Trung T là rất liều lĩnh, táo bạo và xem thường pháp luật. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo T công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của Võ Trung T gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội, làm xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại. Bị cáo T biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Đối với bị cáo Võ Trung T1, Trương Hồng S1 vì động cơ tư lợi nên đã tiêu thụ tài sản do bị cáo Võ Trung T phạm tội mà có. Hành vi của các bị cáo đã tiếp tay cho người phạm tội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội; các bị cáo không có bàn bạc, dự mưu trước, hành vi phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn.
Về nhân thân: bị cáo Võ Trung T, Võ Trung T1 đã từng bị Tòa án xét xử về tội phạm xâm phạm quyền sở hữu tài sản; đối với bị cáo Trương Hồng S1, nhân thân bị cáo S1 thuộc phần tử xấu, có nhiều tiền án, đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên Hội đồng xét xử xét cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.
[3]. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thiệt hại về tài sản do bị cáo Võ Trung T gây ra đã được bị cáo cùng gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả, bị hại cũng có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T do đó, Hội đồng xét xử xét khi lượng hình cần xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T; các bị cáo T1, S1 đã thành khẩn khai báo nên khi lượng hình cần xem xét áp dụng thêm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Đối với Huỳnh Thanh P1 quá trình điều tra Võ Trung T khai báo đã nhờ P1 chở đi bán điện thoại Iphone 14Pro giật được, qua xác minh P1 đã bán nhà đi khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra chưa ghi lời khai, chưa có căn cứ xác định hành vi của P1 nên Cơ quan điều tra đã quyết định tách hành vi, tài liệu của P1 để làm rõ xử lý sau.
[4]. Về trách nhiệm dân sự:
Đối với điện thoại điện thoại Iphone 14 Pro màu tím bị Võ Trung T chiếm đoạt, không thu hồi lại được. Quá trình điều tra, bị hại Phạm Thị Hà M đã được bà Trần Thị Minh S là mẹ của Võ Trung T bồi thường giá trị chiếc điện thoại bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi tường gì thêm nên phần trách nhiệm dân sự đã được bồi thường xong, không có gì giải quyết.
Bà Trần Thị Minh S là mẹ ruột của bị cáo Võ Trung T, Võ Trung T1 không yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bồi thường cho chị M, xét đây là sự tự nguyện của bà S nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Đối với xe môtô Honda Wave màu trắng biển số 59C3-314.98 do Võ Trung T, Võ Trung T1 sử dụng làm phương tiện phạm tội, qua xác minh do ông Võ Hồng C (cha ruột của T, T1) là chủ sở hữu . Xét thấy ông Võ Hồng C không biết việc T, T1 mượn xe thực để hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã không xử lý và trả lại xe cho ông C.
+ Đối với tài sản thu giữ của bị cáo Võ Trung T:
- 01 quần jean màu đen; 01 áo ngắn tay màu trắng, in hình con gấu màu đỏ có dòng chữ “IAMLOTSO” tại vị trí ngực trái và sau lưng; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, phía trước có in hình mặt con heo; 01 dép lê màu trắng là trang phục của T nên trả lại cho bị cáo T;
- 01 điện thoại Iphone 8, màu đỏ-đen, số seri: C8PWH2T5JWF8, số Imei: 352989095445209 và 01 sim thuê bao số:0898875361 là điện thoại cá nhân của T; 01 điện thoại Galaxy A03S màu xanh, bị vỡ màn hình, số Imei 1: 351574184784477, số Imei 2:356247274784476 là tài sản cá nhân của Võ Trung T nên trả cho bị cáo;
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 biên lai đóng tiền điện của T;
- Đối với số tiền 3.700.000 đồng thu giữ của Võ Trung T gồm: 689.000 đồng là tiền bán điện thoại cướp giật còn lại do T giao nộp và 3.011.000 đồng do bà Trần Thị Minh S (Mẹ ruột bị cáo Võ Trung T và Võ Trung T1 giao nộp). Do bị hại Phạm Thị Hà M đã nhận được bồi thường đối với tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên trả lại số tiền trên Võ Trung T và bà Trần Thị Minh S.
+ Đối với tài sản tạm giữ của bị cáo Võ Trung T1:
- 01 áo thun màu xanh lá, có hoa văn màu trắng tại mặt trước của áo; 01 quần jean dài màu đen; 01 đôi dép xỏ quai màu đen là trang phục của T1 nên trả cho bị cáo;
- 01 điện thoại Huewei Nova 3e, màu đen, số Imei: 860187041496310, 860187041521778; 02 sim số: 0374431583, 093466745, không có nắp lưng sau là điện thoại của T1 sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
+ Đối với tài sản tạm giữ của bị cáo Trương Hồng S1:
- 01 sơ mi trắng tay dài; 01 quần vải kaki màu đen; 01 dép xỏ quai màu đen, trên thân dép có chữ “Thvistran Pior Paris” là trang phục của S1 khi thực hiện hành vi phạm tội, do không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy
[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Võ Trung T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 15, Điều 17, Điều 57, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Võ Trung T1 01 (Một) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2024.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 15, Điều 17, Điều 57, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Trương Hồng Sơn 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2024.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
+ Trả lại cho Võ Trung T: 01 quần jean màu đen; 01 áo ngắn tay màu trắng, in hình con gấu màu đỏ có dòng chữ “IAMLOTSO” tại vị trí ngực trái và sau lưng; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, phía trước có in hình mặt con heo; 01 dép lê màu trắng; 01 điện thoại Iphone 8, màu đỏ đen, số seri: C8PWH2T5JWF8, số Imei: 352989095445209 và 01 sim thuê bao số:0898875361; 01 điện thoại Galaxy A03S màu xanh, bị vỡ màn hình, số Imei 1: 351574184784477, số Imei 2:356247274784476 (tất cả đã qua sử dụng);
+ Trả lại cho Võ Trung T1 01 áo thun màu xanh lá, có hoa văn màu trắng tại mặt trước của áo; 01 quần jean dài màu đen; 01 đôi dép xỏ quai màu đen (Tất cả đã qua sử dụng)
+ Tịch thu tiêu hủy 01 sơ mi trắng tay dài; 01 quần vải kaki màu đen; 01 dép xỏ quai màu đen, trên thân dép có chữ “Thvistran Pior Paris” (tất cả đã qua sử dụng)
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Huewei Nova 3e, màu đen, số Imei: 860187041496310, 860187041521778; 02 sim số: 0374431583, 093466745, không có nắp lưng sau;
+ Trả lại 689.000 đồng do Võ Trung T giao nộp và trả lại số tiền 3.011.000 đồng do bà Trần Thị Minh S (Mẹ ruột bị cáo Võ Trung T và Võ Trung T1 giao nộp).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 105/2024 ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa CAQ4 và chi cục thi hành án dân sự Quận 4 và giấy nộp tiền vào kho bạc nhà nước ngày 09/4/2024 của Công an Q).
- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;
2. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Xuân Quỳnh |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tội cướp giật tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Cướp giật tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Võ Trung T phạm tội cướp giật tài sản và Võ Trung T1 phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
