|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 102/2024/KDTM-PT Ngày 06 tháng 5 năm 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng thi công”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Thảo.
Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Đoan Trang
Bà Mai Thị Thanh Tú
– Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Trần Thị Thơm– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 09/4/2024 và 06/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2024/TLPT-KDTM ngày 16/01/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công”.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 29/2023/KDTM-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 807/2024/QĐXX-PT ngày 21/02/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 3375/2024/QĐ-PT ngày 14/3/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 4510/2024/QĐ-PT ngày 09/4/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn V
Địa chỉ: H B, Phường A, quận T, TP ..
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Lê Minh Bảo D, sinh năm 1994 (có mặt).
Địa chỉ: A V, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền số 01/UQ ngày 28/02/2024).
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn K.
Địa chỉ: D - Khu nhà ở T - C L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Thanh T, sinh năm 1996
Địa chỉ liên lạc: C L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt). (Văn bản ủy quyền ngày 22/8/2022)
* Người kháng cáo: Công ty Trách nhiệm hữu hạn V1 – là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của Bản án sơ thẩm như sau:
* Theo đơn khởi kiện ngày 15/6/2022 quá trình giải quyết và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 30/12/2019, Công ty TNHH K ( Gọi tắt là Công ty K ) và Công ty TNHH V1 ( Gọi tắt là Công ty V1 ) có ký kết Hợp đồng kinh tế số 2310/VPL-TU/HĐKT2019.
Ngày 04/9/2020, hai bên ký Phụ lục hợp đồng số 01 và ngày 05/6/2021 hai bên tiếp tục ký Phụ lục hợp đồng số 02 theo Hợp đồng kinh tế số 2310/VPL-TU/HĐKT2019 về việc “ Lắp đặt hệ thống ống điện, thang máng cáp” của tuyến công trình metro B - S, cụ thể như sau:
- Hợp đồng kinh tế số 2310/VPL-TU/HDKT2019 ngày 30/12/2019: Giá trị hợp đồng là 1.243.713.240 đồng (Đã bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng).
- Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 04/9/2020: Giá trị phát sinh là 118.912.750 đồng (Đã bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng).
- Phụ lục hợp đồng số 02 ngày 05/6/2021: Giá trị phát sinh là 81.378.880 đồng (Đã bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng). Phụ lục này chỉ có chữ ký và đóng dấu của Công ty V1, phía Công ty K chưa ký và đóng dấu.
Tổng giá trị của Hợp đồng và các Phụ lục 01- 02 là 1.444.004.870 đồng
Phía Công ty K đã thanh toán cho Công ty V2 tiền là 1.032.980.586 đồng, số tiền mà Công ty K còn thiếu là 411.024.284 đồng.
Tại Đơn khởi kiện, Công ty K thanh toán số tiền là 411.024.284 đồng và tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, giữa hai bên đã hòa giải và phía Công ty V1 đồng ý rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Công ty K trả tiền theo Phụ lục hợp đồng số 02 ngày 05/6/2021 và Hóa đơn giá trị gia tăng số: 0000109 ngày 18/6/2021 nữa. Công ty V3 yêu cầu Công ty K thanh toán số tiền còn thiếu theo giá trị của Hợp đồng kinh tế số 2310/VPL-TU/HDKT2019 ngày 30/12/2019 và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 04/9/2020, với tổng giá trị là 1.362.625.990 đồng (Đã bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng), phía Công ty K đã trả là 1.032.980.586 đồng, còn thiếu lại là 329.645.404 đồng.
Công ty V1 xác định Hóa đơn giá trị gia tăng số: 0000109 ngày 18/6/2021 đã bao gồm số tiền phát sinh của Phụ lục số 02 ngày 05/6/2021. Do Công ty V1 đã xuất Hóa đơn vào ngày 18/6/2021 nên hiện giờ không thể điều chỉnh hoặc cấp mới Hóa đơn trên đúng số tiền 329.645.404 đồng theo yêu cầu của Công ty TNHH K.
Công ty V4 thời điểm nghiệm thu hoàn thành các hạng mục công trình theo Hợp đồng kinh tế số 2310/VPL-TU/HDKT2019 ngày 30/12/2019 và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 04/9/2020 là ngày 16/6/2021 (Theo Biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình đưa vào sử dụng ngày 16/6/2021).
Công ty V4 đến nay vẫn chưa làm thủ tục bảo lãnh bảo hành theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng đối với các hạng mục công trình đã xây lắp cho Công ty K.
Công ty V1 xác định thời hạn bảo hành cho công trình sau khi hoàn thành là 02 năm và cũng xác định Công ty V5 trách nhiệm phải lập thủ tục bảo hành đối với các hạng mục công trình đã xây dựng theo Hợp đồng với Công ty K nhưng do trong thời gian hơn 02 năm qua, Công ty V5 với Công ty K về số tiền phát sinh theo Phụ lục hợp đồng số 02 ngày 05/6/2021 và Hóa đơn giá trị gia tăng số: 0000109 ngày 18/6/2021 nên đến nay đã quá thời hạn 02 năm vẫn chưa thực hiện được thủ tục bảo hành công trình cho Công ty Fujita theo quy định và cũng không biết phải thực hiện như thế nào vì đã quá thời hạn 02 năm.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên buộc Công ty K có trách nhiệm trả cho Công ty V2 tiền 329.645.404 đồng làm trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật
* Bị đơn, Công ty TNHH K, do bà Vũ Thị Thanh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:
Công ty K và Công ty V6 Hợp đồng kinh tế số 2310/VPL-TU/HĐKT2019 ngày 30/12/2019 và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 04/9/2020. Theo đó, Công ty V7 đơn vị chịu trách nhiệm thi công lắp đặt hệ thống ống điện, thang máng cáp của tuyến công trình metro B - S.
Công ty K không công nhận Phụ lục hợp đồng số 02 ngày 05/6/2021 với giá trị phát sinh là 81.378.880 đồng vì Phụ lục này chỉ có chữ ký và đóng dấu của Công ty V1, Công ty K không ký và đóng dấu trên Phụ lục này. Đồng thời, không công nhận Hóa đơn giá trị gia tăng số: 0000109 ngày 18/6/2021 vì Hóa đơn này đã bao gồm luôn số tiền phát sinh của Phụ lục số 02.
Tổng giá trị của Hợp đồng kinh tế số 2310/VPL-TU/HDKT2019 ngày 30/12/2019 và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 04/9/2020 là 1.362.625.990 đồng (Đã bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng), phía Công ty K đã trả cho Công ty V2 tiền là 1.032.980.586 đồng, xác nhận Công ty K còn nợ 329.645.404 đồng.
Công ty K xác nhận thời điểm hoàn thành các hạng mục công trình là ngày 16/6/2021 theo “Biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình đưa vào sử dụng ngày 16/6/2021” nhưng biên bản này vẫn chưa được Công ty K ký xác nhận, đóng dấu và cũng chưa được hai bên thực hiện bàn giao. Đồng thời, phía Công ty V8 có trách nhiệm làm thủ tục bảo lãnh, bảo hành theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng đối với các hạng mục công trình, thời hạn bảo hành là 02 năm kể từ khi hoàn thành công trình và bàn giao nhưng cho đến nay Công ty V9 chưa làm thủ tục bảo lãnh, bảo hành theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng đối với các hạng mục công trình đã xây lắp cho Công ty K.
Nay Công ty K yêu cầu Công ty V8 có trách nhiệm lập thủ tục bảo lãnh, bảo hành cho công trình xây lắp theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng kinh tế, nộp tiền ký quỹ đảm bảo tại Ngân hàng với mức tỷ lệ 5% so với tổng giá trị của Hợp đồng và Phụ lục số 01, điều chỉnh hoặc cấp mới Hóa đơn đúng số tiền 329.645.404 đồng thì Công ty K mới thanh toán tiền.
Yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty V10 chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Bản án kinh doanh thương mại số 29/2023/KDTM-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 1 Điều 192; điểm g khoản 1 Điều 217; Điều 235; Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 BLTTDS năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V11 việc yêu cầu Công ty TNHH K trả số tiền nợ 329.645.404 đồng.
- Công ty TNHH V5 quyền yêu cầu khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật,
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Hoàn trả lại cho Công ty TNHH V2 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.042.534 đồng (Mười một triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm ba mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0020253 ngày 19/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05/10/2023 bị đơn kháng cáo toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm: cho rằng cấp sơ thẩm chưa xem xét toàn diện vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn là Công ty TNHH V5 người đại diện theo ủy quyền là ông D và bị đơn là Công ty TNHH K có người đại diện theo pháp luật là bà T tự nguyện thỏa thuận thống nhất giải quyết vụ án như sau:
- Công ty TNHH K có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH V2 tiền thi công còn nợ 329.645.404 đồng (Ba trăm hai mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi lăm ngàn bốn trăm lẻ bốn đồng) đã bao gồm 10%VAT.
- Công ty TNHH V5 trách nhiệm nộp tiền ký quỹ bảo lãnh bảo hành trong thời hạn 02 năm tính từ ngày mở tại Ngân hàng với tỷ lệ 5% là 68.131.300 đồng (tổng giá trị của Hợp đồng và Phụ lục số 01 là 1.362.625.990 đồng đã bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng).
- Công ty TNHH V1 và Công ty TNHH K thống nhất xác định Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000109 ngày 18/6/2021 với số tiền 344.227.180 đồng do Công ty TNHH V12 có sai sót về số tiền và nội dung tên hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn. Do đó Công ty TNHH V5 trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, hủy hoặc thay thế hóa đơn cho đúng nội dung, số tiền Công ty TNHH K phải trả.
Việc Công ty TNHH K trả số tiền trên và Công ty TNHH V13 bảo lãnh bảo hành 5%, điều chỉnh, hủy hoặc thay thế hóa đơn được thực hiện trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V11 việc yêu cầu Công ty TNHH K trả số tiền 81.378.880 đồng và tính lãi chậm trả.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300 và Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 15/6/2022 của nguyên đơn cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì việc khởi kiện của nguyên đơn là “Tranh chấp Hợp đồng thi công”.
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên M đăng ký lần đầu ngày 11/4/2012, đăng ký thay đổi lần thứ 06 ngày 05/7/2019 tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện, bị đơn có trụ sở tại D - Khu nhà ở T - C L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Nguyên đơn kháng cáo Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo điểm b khoản 3 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định và đã làm thủ tục kháng cáo đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Cấp sơ thẩm Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên tại Điều 5 của Hợp đồng kinh tế số 2310/VPL-TU/HĐKT2019 ngày 30/12/2019, có nội dung quy định về điều khoản thanh toán như sau:
“Thanh toán đợt cuối: Sau khi hoàn tất nghiệm thu bàn giao hạng mục công trình đưa vào sử dụng, Bên A thanh toán cho bên B hết phần giá trị quyết toán sau khi trừ đi các đợt thanh toán trước đó. Hồ sơ thanh toán:
- Giấy đề nghị thanh toán.
- Biên bản nghiệm thu.
- Hòa đơn VAT.
- Bảo lãnh bảo hành.
Bên B mở bảo lãnh bảo hành 5% trong thời hạn 02 năm tính từ ngày bàn giao".
Tại tòa Công ty V4 thời điểm nghiệm thu hoàn thành các hạng mục công trình theo Hợp đồng kinh tế và Phụ lục hợp đồng số 01 là ngày 16/6/2021. Công ty V1 xác định thời hạn bảo hành cho công trình sau khi hoàn thành là 02 năm và có trách nhiệm phải lập thủ tục bảo hành đối với các hạng mục công trình đã xây dựng theo Hợp đồng với Công ty K nhưng đến nay vẫn chưa làm thủ tục bảo lãnh bảo hành theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng đối với các hạng mục công trình đã xây lắp cho Công ty K.
Bị đơn: Công ty TNHH K xác nhận còn thiếu Công ty Võ Phan Lê theo Hợp đồng kinh tế số 2310/VPL-TU/HĐKT2019 ngày 30/12/2019 và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 04/9/2020 tổng số tiền là: 329.645.404 đồng đã bao gồm 10% thuế VAT theo quy định tại Hợp đồng. Tuy nhiên, tại Điều 5 của Hợp đồng kinh tế số 2310/VPL- TU/HĐKT2019 quy định về điều khoản thanh toán thì phía Công ty Võ Phan Lê chưa đáp ứng đủ các thủ tục cần thiết để yêu cầu Công ty K thanh toán tiền.
Cấp sơ thẩm nhận định: Công ty V14 phải lập thủ tục bảo lãnh, bảo hành đối với các hạng mục công trình đã xây dựng theo Hợp đồng đối với Công ty K. Sau khi Công ty V15 thực hiện xong thủ tục trên mà Công ty K không trả tiền thì mới có đủ điều kiện khởi kiện đối với Công ty K. Do đó, cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty V7 chưa đủ cơ sở, không đúng quy định hướng dẫn về điều kiện khởi kiện theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017.
Tại sơ thẩm yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tổng cộng là 411.024.284 đồng, sau đó rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 81.378.880 đồng nhưng Quyết định đình chỉ chỉ đình chỉ giải quyết đối với số tiền là 329.645.404 đồng, không đình chỉ đối với yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 81.378.880 đồng là thiếu sót theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, cấp phúc thẩm bổ sung phần này.
Căn cứ Công văn phúc đáp số 3696/CCTTB –KTr5 ngày 06/5/2024 của Chi cục Thuế quận T về việc điều chỉnh, hủy hoặc thay thế hóa đơn của các công ty thực hiện theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính Phủ và Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 78/2021/TT-BTC ngày 17/9/2021 của Bộ T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất yêu cầu giải quyết vụ án theo hướng hòa giải thành mà các bên đương sự thống nhất. Xét thấy việc các bên đương sự thống nhất cách giải quyết vụ án không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên nên Hội đồng xét xử thống nhất phương án các bên đưa ra như trên.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như ý kiến của các đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH V16 chịu án phí 16.482.270 đồng Hội đồng xét xử ghi nhận.
Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm nên người kháng cáo là Công ty Võ Phan Lê phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Điều 148, Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH V
- Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 29/2023/KDTM-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn V17 là Công ty Trách nhiệm hữu hạn K thống nhất giải quyết vụ án như sau:
- Công ty TNHH K có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH V2 tiền thi công còn nợ 329.645.404 đồng (Ba trăm hai mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi lăm ngàn bốn trăm lẻ bốn đồng) đã bao gồm 10% thuế giá trị gia tăng.
- Công ty TNHH V5 trách nhiệm nộp tiền ký quỹ bảo lãnh bảo hành trong thời hạn 02 năm tính từ ngày mở tại Ngân hàng với tỷ lệ 5% là 68.131.300 (Sáu mươi tám triệu một trăm ba mươi mốt ngàn ba trăm) đồng.
- Công ty TNHH V1 và Công ty TNHH K thống nhất xác định Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000109 ngày 18/6/2021 với số tiền 344.227.180 đồng (Ba trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm hai mươi bảy ngàn một trăm tám mươi đồng) do Công ty TNHH V12 có sai sót về số tiền và nội dung tên hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn. Do đó Công ty TNHH V5 trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, hủy hoặc thay thế hóa đơn cho đúng nội dung, số tiền Công ty TNHH K phải trả.
Việc Công ty TNHH K trả số tiền trên và Công ty TNHH V13 bảo lãnh bảo hành 5%, điều chỉnh, hủy hoặc thay thế hóa đơn được thực hiện trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V11 việc yêu cầu Công ty TNHH K trả số tiền 81.378.880 đồng (Tám mươi một triệu ba trăm bảy mươi tám ngàn tám trăm tám mươi đồng) và tiền lãi chậm trả.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sư có thẩm quyền.
Về án phí:
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty TNHH V16 chịu án phí 16.482.270 đồng (Mười sáu triệu bốn trăm tám mươi hai ngàn hai trăm bảy mươi đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 11.042.534 đồng (Mười một triệu không trăm bốn mươi hai ngàn năm trăm ba mươi bốn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0020253 ngày 19/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty TNHH V18 phải nộp 5.439.736 đồng (Năm triệu bốn trăm ba mươi chín ngàn bảy trăm ba mươi sáu đồng).
- Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Công ty TNHH V8 chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai số AA/2021/0021618 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty TNHH V15 nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự đã sửa đổi bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Thảo |
Bản án số 102/2024/KDTM-PT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công
- Số bản án: 102/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thi công
