|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 102/2024/HS-ST Ngày: 30-7-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Huế - Hiệu trưởng Trường THCS Hùng Vương thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Ông Hoàng Xuân Tỵ - Cán bộ hưu trí Phường 2, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Xuân Bảo L, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 06/01/2005, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Xuân K, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Quỳnh T, sinh năm 1984; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 31/7/2023 đến ngày 16/10/2023 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt.
- Họ và tên: Vương Quang D, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 26/11/2004, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Xóm F, thôn H, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vương Văn D1, sinh năm 1984 và bà Phạm Thị L1, sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
Ngày 12/10/2021, Vương Quang D bị Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 209/QĐ ngày 12/10/2021 về hành vi “Tụ tập, chuẩn bị hung khí đi đánh nhau” với số tiền 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng). Đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đã được xóa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 28/7/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Họ và tên: Lâm Tiến T1, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 29/9/2004, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A Quốc lộ B, Thôn D, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lâm Văn C, sinh năm 1978 và bà Đào Phương T2, sinh năm 1984; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Hoài B, tên gọi khác: Bảo chùa, sinh ngày 18/5/2004, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số C L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Thượng H, sinh năm 1971 (đã chết) và bà Lương Thị H1, sinh năm 1973; vợ: Nguyễn Thị Bảo X, sinh năm 2003, con: Có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 17/7/2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 15/2023/HS-PT.NCTN.
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Đ, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Trọng Q, tên gọi khác: T9, sinh ngày 26/7/2003, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số H L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn C1, không xác định được năm sinh và bà Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 26/7/2021 bị Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định xử phạt hành chính theo Quyết định số 119/QĐ về hành vi “Gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích” với số tiền 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), đã thực hiện xong việc đóng phạt vào ngày 07/9/2021, đã được xóa.
Ngày 20/5/2022 bị Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” với số tiền 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng). Đã chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đã được xóa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Quang L2, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 19/5/2006, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Quốc P, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/10/2021, Nguyễn Quang L2 bị Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố B ra Quyết định xử phạt hành chính, hình thức Cảnh cáo theo Quyết định số 205/QĐ về hành vi “Tụ tập, chuẩn bị hung khí đi đánh nhau”, đã được xóa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
- Họ và tên: Huỳnh Ngọc Bảo H3, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 02/8/1990, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số C Q, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Huỳnh Ngọc T4, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1962; vợ: Đỗ Thị Uyên V, sinh năm 1997 (đã ly hôn), con: Có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang L2: Bà Lê Thanh L3 là Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lâm Tiến T1: Ông Nguyễn Thanh V1 là Luật sư, Văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh V1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Quang L2: Ông Nguyễn Quốc P, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn G, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mối quan hệ là cha, mẹ đẻ. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Vũ T5, sinh năm 1996; địa chỉ: Số E đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Trung T6, sinh năm 1996; địa chỉ: Số D T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Quang P1, sinh năm 1962; địa chỉ: Số D L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 4/2023, Nguyễn Xuân Bảo L truy cập vào các trang Youtube để nghiên cứu, tìm hiểu cách chế tạo súng ngắn, sau đó L đã tìm kiếm các trang mạng có bán những khẩu súng thuộc đồ chơi nguy hiểm (hình dạng như khẩu súng R, đã có sẵn bộ phận cò và kim hỏa) để mua về chế tạo, lắp ráp lại thành súng bắn được đạn thể thao. L còn tìm mua thêm các ống kim loại dùng để gắn cố định vào ổ đạn, nòng súng, mục đích để chế tạo ra ổ đạn, nòng súng mới có đường kính bỏ vừa một viên đạn thể thao. Quá trình chế tạo súng, Nguyễn Xuân Bảo L liên hệ với Huỳnh Ngọc Bảo H3 để nhờ H3 làm thêm 14 ống kim loại để sử dụng lắp ráp vào 02 (hai) khẩu súng, H3 biết việc L chế tạo súng và đồng ý giúp L chế tạo các ống sắt theo yêu cầu. Trong đó, L có đưa cho H3 01 (một) ổ đạn (được sử dụng để gắn vào súng ngắn, dạng súng R1) để nhờ H3 khi chế tạo xong, trực tiếp gắn các ống kim loại vào ổ đạn và trả tiền công cho H3 số tiền 1.260.000đ (một triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng). Ngoài ra, Nguyễn Xuân Bảo L còn lên các trang mạng xã hội tìm kiếm mua nhiều lần đạn thể thao (do thời gian đã lâu, L không nhớ các trang đã mua và mua bao nhiêu viên).
Sau khi có đầy đủ các linh kiện chế tạo súng, L thực hiện thao tác: Sử dụng keo dán sắt (loại keo AB) đổ bên ngoài các ống kim loại, sau đó gắn vào trong ổ đạn, nòng súng để thay đổi kích thước đường kính lỗ đạn, nòng súng đặt mua trên mạng. Bằng phương thức trên, từ tháng 4/2023 đến cuối tháng 7/2023, Nguyễn Xuân Bảo L đã chế tạo thành công 03 (ba) khẩu súng ngắn, dạng súng Rulô để bán cho các đối tượng sinh sống tại thành phố B. Cụ thể như sau:
Khẩu súng thứ nhất:
Vào khoảng tháng 4/2023, L chủ động giới thiệu cho Lâm Tiến T1, sinh ngày 29/9/2004, trú tại: thôn D, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng về việc L biết cách chế tạo súng. Khi đó, T1 đã nhờ L làm 01 (một) khẩu súng với mục đích để thể hiện với bạn bè. L báo giá khẩu súng bán cho T1 với số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng), yêu cầu T1 đặt cọc trước một ít tiền để L đi mua các linh kiện sử dụng để chế tạo súng. T1 đã đưa trước cho L số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) và một chiếc điện thoại hiệu OPPO, được T1 và L thỏa thuận giá trị chiếc điện thoại là 1.500.00₫ (một triệu năm trăm ngàn đồng). Khoảng một tuần sau, L chế tạo thành công súng và đã điện thoại cho T1 đến địa chỉ: Số A Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để nhận 01 (một) khẩu súng có đặc điểm: Khẩu súng ngắn ổ quay, hai bên nòng súng có chữ “SMITH&WESTION”, phía bên phải vòng cò súng có chữ “MADE IN CHINA”, phía bên trái vòng cò súng có chữ “XIAO YUE LIANG”, phần tiếp giáp giữa nòng súng với ổ quay bên trái súng có ký hiệu “XYL221230159”, kích thước tổng thể 14cm x 20cm kèm theo một số viên đạn thể thao (do thời gian lâu, T1 và L không nhớ đã giao nhận bao nhiêu viên đạn). Lâm Tiến T1 đã thanh toán số tiền còn lại bằng hình thức đưa trực tiếp tiền mặt cho L số tiền 2.125.000đ (hai triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng) và chuyển khoản số tiền 2.375.000đ (hai triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) vào tài khoản ngân hàng số “109872541564” của Nguyễn Xuân Bảo L thành nhiều lần. Sau khi mua súng, T1 mang súng, đạn về cất giấu sau nhà (giáp suối Đ) tại địa chỉ: thôn D, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đến ngày 24/4/2023, do không có nhu cầu sử dụng và cần tiền để tiêu xài cá nhân, T1 đã bán lại khẩu súng và số đạn trên cho Vương Quang D với số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm ngàn đồng). Vương Quang D đã sử dụng tài khoản ngân hàng M1 số “797926112004” để chuyển số tiền trên vào tài khoản ngân hàng TMCP C2 số “107874118673” của Lâm Tiến T1.
Sau khi mua khẩu súng và đạn từ Lâm Tiến T1, Vương Quang D đã mang về cất giấu tại chỗ ở, sử dụng súng để bắn thử 01 (một) lần tại vị trí sau nhà, địa chỉ: xóm F, thôn H, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng tháng 5/2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân, D đã thông qua Nguyễn Hoài B để nhờ B giới thiệu và bán lại khẩu súng trên cho Nguyễn Trọng Q. Cụ thể như sau: Khi Q đang ngồi uống cà phê thì thấy B nhắn tin với một người tên “D” (Q không biết D là ai), gửi kèm một số hình ảnh, video liên quan đến súng. Khi đó, Q thấy hình ảnh khẩu súng D gửi cho B và đang có nhu cầu mua súng nên đã chủ động nhờ B hỏi mua khẩu súng từ D. Sau khi B trực tiếp trao đổi thì biết D đang cần bán khẩu súng trên với số tiền 8.000.000₫ (tám triệu đồng), Q đồng ý mua. Khoảng vài ngày sau, Vương Quang D mang theo 01 (một) khẩu súng (khẩu súng đã mua từ Lâm Tiến T1) kèm theo 04 viên đạn đến nhà đưa cho B nhờ B giao lại cho Q. Nguyễn Hoài B mang khẩu súng trên cất giấu trong tủ để dép gần cửa sau nhà B tại địa chỉ: Số C L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Khoảng hai ngày sau, B gọi điện cho Q đến nhà mình lấy súng, đạn. Khi vào nhà B, Q mở túi nilon màu đen ra kiểm tra, thấy đúng hình ảnh khẩu súng D đã gửi trước đó và nói B xin số tài khoản của D để nhờ Phạm Thị Tuyết N (là bạn làm chung quán karaoke trước đây với Q) để chuyển khoản số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm ngàn đồng) vào tài khoản ngân hàng số “797926112004” của Vương Quang D. Đối với số tiền còn lại là 5.500.000 (năm triệu năm trăm ngàn đồng) Q vẫn chưa thanh toán cho D. Sau khi lấy súng, đạn từ B, Q mang về cất giấu trong tủ quần áo trong phòng ngủ, tại địa chỉ: Số H L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng từ tháng 5/2023 đến ngày 31/7/2023, khi biết hành vi vi phạm pháp luật bị phát hiện, Q đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L để làm việc và giao nộp súng, đạn đã mua từ D.
Khẩu súng thứ hai:
Khoảng cuối tháng 7/2023, L tiếp tục đặt mua 01 (một) khẩu súng trên mạng, sử dụng các ống kim loại do Huỳnh Ngọc B1 H3 độ, chế để chế tạo thành công 01 (một) khẩu súng có đặc điểm: Khẩu súng ngắn dạng súng Rulo màu đen, ký hiệu ZP.5, phần đầu của súng có chữ “SMITH&WESSON”, thân súng có chữ “MADE IN CHINA”, kích thước tổng thể 14,5cm x 20cm và bán lại cho Vương Quang D với số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng) kèm theo 20 - 30 viên đạn thể thao (do thời gian đã lâu nên D không nhớ cụ thể bao nhiêu viên). Số tiền trên được D và L thỏa thuận trừ vào tiền L mượn của D trước đó. Sau khi mua súng, đạn từ L, D mang về nhà cất giấu, sử dụng để bắn thử 01 (một) lần tại vị trí sau nhà, địa chỉ: xóm F, thôn H, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đến trưa ngày 28/7/2023, Vương Quang D gọi điện rủ Nguyễn Quang L2 đi cùng để giải quyết công việc cá nhân. Do quen biết và chơi với D từ trước, nên L2 không hỏi D đi đâu, làm gì. D gọi xe taxi và đi cùng L2 đến nhà nghỉ (L2 không biết địa chỉ nhà nghỉ ở đâu) để đón một người đàn ông đến địa điểm đường H, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, Nguyễn Quang L2 thấy Vương Quang D rút trong túi ra một khẩu súng, có đặc điểm dạng súng R1 có ổ đạn quay đưa cho người đàn ông xem và sử dụng súng để bắn 02 (hai) phát đạn nổ rồi bỏ khẩu súng vào túi xách quay về lại quán bắn cá do người này không đồng ý mua súng. Vương Quang D mang khẩu súng đến quán C3, địa chỉ: số A C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để gặp và nói L2 chỉnh sửa lại khẩu súng. Tại đây, L2 đã cầm khẩu súng để bắn thử 01 (một) lần trước quán C3, sau đó đưa lại khẩu súng cho D mang về. Trước khi về nhà, D có đến quán bắn cá, địa chỉ: số C L, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để chơi thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện thu giữ 01 (một) khẩu súng kèm theo 25 viên đạn và 03 vỏ đạn trên người D. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của D, thu giữ thêm 22 viên đạn (dạng đạn thể thao).
Khẩu súng thứ ba:
Ngày 30/7/2023, sau khi được một người đàn ông tên “Duy” (không xác định được thông tin nhân thân, lai lịch và địa chỉ sinh sống) liên hệ đặt mua 01 (một) khẩu súng. L2 đã lên mạng đặt mua 01 khẩu súng, dạng súng đồ chơi nguy hiểm, tiếp tục sử dụng các ống kim loại do Huỳnh Ngọc Bảo H3 làm để chế tạo thành công 01 (một) khẩu súng có đặc điểm: Khẩu súng ngắn, dạng súng Rulo màu đen, phần mũi súng có chữ “357 MAG”, phần thân súng có chữ “MADE IN CHINA”, ốp tay cầm bằng kim loại màu nâu, kích thước tổng thể 14cm x 17cm. Ngày 31/7/2023, khi L2 điều khiển xe ô tô KIA MORNING, biển số 49A 21594 mang súng đi giao, khi gọi điện thì không liên lạc được với D nên L2 đã bỏ khẩu súng vào xe ô tô đi về. Khi đi đến địa chỉ: số B H, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ 01 (một) khẩu súng và 25 viên đạn. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà L2, phát hiện thu giữ: một thùng giấy cacton bên trong chứa nhiều dụng cụ như: Ông kim loại, máy mài, tua vít, chốt kim loại, thước đo, bình sơn, keo dán...L2 khai nhận đây là dụng cụ L2 dùng để chế tạo súng.
Đối với Vương Quang D, ngoài hành vi mua 02 (hai) khẩu súng từ Lâm Tiến T1 và Nguyễn Xuân Bảo L. Vào khoảng tháng 3/2023, D còn lên mạng Youtube tìm hiểu một số video liên quan đến cách chế tạo súng bút và chế tạo thành công 01 (một) khẩu súng có đặc điểm: Khẩu súng bút bằng kim loại màu đen xám, dài 20,3cm, đường kính ngoài 11,8mm. Sau khi chế tạo xong, Vương Quang D tìm kiếm các trang mạng xã hội để mua 07 viên đạn thể thao (D không nhớ cụ thể trang nào). D đã sử dụng khẩu súng bút để bắn thử 02 (hai) lần tại khu vực dốc Thái Bình và khu vực đất trống sau nhà thuộc xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đến tháng 5/2023, D đã bán khẩu súng bút và 05 viên đạn thể thao cho Nguyễn Quang L2 với số tiền 1.500.000₫ (một triệu năm trăm ngàn đồng). Nguyễn Quang L2 thanh toán tiền mua súng cho D tổng cộng 03 lần, mỗi lần 500.000đ (năm trăm ngàn đồng), giao nhận tiền mặt. Sau đó, Nguyễn Quang L2 đã mang súng, đạn về cất giấu trong tủ quần áo, tại nhà của L2 ở địa chỉ: Thôn G, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, L2 chưa sử dụng súng lần nào. Đến ngày 28/7/2023, trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, biết hành vi vi phạm pháp luật bị phát hiện, Nguyễn Quang L2 đã khai báo về hành vi mua 01 (một) khẩu súng dạng súng bút từ D, sau đó tự nguyện giao nộp khẩu súng cho Cơ quan điều tra.
Quá trình điều tra còn xác định: Vào khoảng tháng 5/2023, Nguyễn Xuân Bảo L đã có hành vi chế tạo thành công 01 (một) khẩu súng ngắn, dạng súng Rulo màu đen và đặt mua 50 viên đạn thể thao để bán cho Phạm Vũ T5, sinh năm 2003, trú tại: đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng với số tiền 6.000.000₫ (sáu triệu đồng). Quá trình triệu tập đối tượng Phạm Vũ T5 lên làm việc cũng thừa nhận hành vi mua 01 (một) khẩu súng từ Nguyễn Xuân Bảo L, sau đó sử dụng súng để bắn thử nhiều lần thì khẩu súng bị hư bộ phận búa đập, không sử dụng được, T5 có liên hệ L để nhờ chỉnh sửa lại, nhưng L chưa sửa lại súng cho T5. Khi mang súng về nhà cất giấu, do bị người nhà phát hiện, khuyên ngăn, T5 đã mang súng đi vứt tại vị trí phía sau khu nhà hoang, bên cạnh nhà T5. Cơ quan An ninh điều tra đã phối hợp với Công an phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tiến hành xác minh, xác định vị trí nơi cất giấu súng và vứt bỏ khẩu súng của T5. Tuy nhiên, không phát hiện và thu giữ được khẩu súng như nội dung khai báo của Nguyễn Xuân Bảo L, Phạm Vũ T5 để tiến hành trưng cầu giám định, xác định khẩu súng có thuộc vũ khí quân dụng hay không.
Vật chứng thu giữ của Vương Quang D gồm:
- 01 (một) khẩu súng RuLo màu đen, phần tay nắm của súng có kí hiệu ZP.5, phần đầu của súng có chữ SMITH&WESSON và phần thân của súng có chữ MADE IN CHINA. Súng có chiều dài khoảng 22.5cm.
- 47 (Bốn mươi bảy) viên đạn màu vàng bằng kim loại, đầu đạn màu đen có kích thước đều nhau là: phần kim loại màu vàng dài 1,5cm, phần mũi dài 01cm, đường kính đuôi viên đạn 0,7cm.
- 03 (ba) vỏ đạn màu vàng có chiều dài như nhau là 1,5cm, phần đuôi của vỏ đạn bị biến dạng.
- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, hiệu Iphone 7 có IMEI 353802083897936, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Xuân Bảo L gồm:
- 01 (một) đồ vật bằng kim loại màu đen, có tay cầm được ốp màu đồng, đồ vật trên có hình dáng giống súng Rulo; phần mũi của đồ vật có chữ “357 MAG”; phần thân của đồ vật có chữ “MADE IN CHINA”; tại phần thân quay có 02 (hai) vật hình hình trụ được dán “Tem niêm phong sản phẩm” dài 18cm.
- 23 (hai mươi ba) đồ vật loại có hình dạng giống viên đạn; phần thân màu vàng, phần đầu màu đen, có kích thước đều nhau là: phần kim loại màu vàng, dài 1,5 cm; phần mũi đồ vật dài 01 cm; đường kính đuôi đồ vật là 0,7cm
- 01 (một) thùng bìa carton thu giữ ngày 31/7/2023: Đây là các đồ vật được bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L sử dụng để chế tạo súng gồm: 01 (một) máy mài và 01 (một) ống kim loại hình trụ tròn dùng để điều chỉnh kích thước nòng súng;03 (ba) lọ keo dán dùng để dán các bộ phận của khẩu súng; 02 (hai) vật kim loại dạng ngôi sao màu trắng bạc dùng để gắn vô tâm của ổ đạn khẩu súng; 01 (một) bình xịt sơn dùng để điều chỉnh màu sắc các bộ phận khẩu súng; 01 (một) vật dạng kim loại màu đen giống ổ đạn của khẩu súng ổ quay dùng để chế tạo khẩu súng hoàn chỉnh.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Quang L2 gồm:
- 01 (một) vật giống dạng súng bút bằng kim loại màu đen xám dài 21cm, có thể tháo làm hai đoạn riêng biệt, đoạn ngắn dài 5,5cm hình trụ rỗng ở ruột, một đầu có khoen nối; đoạn dài dài 15,5cm, hình trụ rỗng ở ruột, có một đoạn kim loại và lò xo bên trong, một đầu có khoen nối.
- 05 (năm) viên đạn màu vàng bằng kim loại, đầu đạn màu đen có kích thước đều nhau là: phần kim loại màu vàng dài 1,5cm, phần mũi dài 01cm, đường kính đuôi viên đạn 0,7cm.
- 01 (một) điện thoại Sam sung A04, số IMEI1 350970300438900/01, số IMEI2 355894250438907/01, SN R92TAOXFAXR thu giữ ngày 08/12/2023.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Trọng Q gồm:
- 01 (một) khẩu súng ngắn ổ quay, bằng kim loại màu đen; hai bên nòng súng có in dòng chữ “SMITH & WESSON”; phía trên bên phải vòng cò của súng có in dòng chữ “MADE IN CHINA”; phía trên bên trái vòng cò của súng có in dòng chữ “XIAO YUE LIANG”; phần tiếp giáp giữa nòng súng và ổ quay bên trái súng có in ký hiệu “XYL221230159”. Phần thân và nòng súng dài khoảng 12 cm; phần tay cầm của súng dài khoảng 10cm.
- 04 (bốn) viên đạn có đặc điểm, kích thước tương tự: dài khoảng 2,5cm; phần thân (vỏ) màu vàng dài khoảng 1,5cm, phần đầu màu đen dài khoảng 1cm, đường kín phần đáy viên đạn khoảng 0,7cm.
Vật chứng thu giữ của Huỳnh Ngọc Bảo H3 gồm:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone XS MAX, số máy: MT6U2J/A, số Seri F2LXG2PVKPHR, số Imei 357305090563265, Imei 2: 357305090665508.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn thu giữ: Số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm ngàn đồng) do ông Nguyễn Thanh V1 là Luật sư tham gia bào chữa cho Lâm Tiến T1 giao nộp ngày 06/12/2023; số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) do ông Vương Văn D1 là cha đẻ của bị cáo Vương Quang D giao nộp ngày 07/12/2023; số tiền 1.260.000đ (một triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng) do Huỳnh Ngọc Bảo H3 giao nộp ngày 15/12/2023 và Nguyễn Xuân Bảo L tự nguyện nộp lại số tiền là 5.000.000đ ngày 04/3/2024.
Xử lý vật chứng:
Đối với các khẩu súng quân dụng thu giữ hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh L. 59 (năm mươi chín) viên đạn thể thao (22/81 viên đạn thể thao đã sử dụng khi tiến hành giám định súng) được Cơ quan An ninh điều tra bàn giao cho Công an thành phố B để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. uyễn Xuân B2 động, do vậy Chi Đoàn ₫88888888999999999tiền mà các bị cáo đã nộp hiện nay đang gửi tại tài khoản tạm giữ của Cơ quan An ninh điều tra tại Kho bạc Nhà nước tỉnh L.
Ngày 29/7/2023, Cơ quan CSĐT công an tỉnh L ban hành Quyết định trưng cầu giám định đối với toàn bộ súng và đạn thu giữ của Vương Quang D và Nguyễn Quang L2.
Tại Kết luận giám định số 923/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh L, kết luận:
- Mẫu vật là thanh kim loại hình trụ tròn màu nâu dài 20,3cm, đường kính ngoài 11,8mm gửi giám định là loại súng bút tự chế thuộc loại vũ khí quân dụng. (tình trạng kỹ thuật: Súng còn sử dụng được để bắn).
- Mẫu vật dạng súng ngắn có kích thước tổng thể 14,5cm x 20cm gửi giám định là loại súng ngắn tự chế thuộc loại vũ khí quân dụng. (tình trạng kỹ thuật: Súng còn sử dụng được để bắn).
- Năm mươi hai (52) viên đạn màu vàng, đầu tù màu xám, mỗi viên đạn có đường kính thân 5,6mm, chiều cao 2,5cm, mặt đáy có chữ “C” gửi giám định là đạn thể thao cỡ 5,6 x 15,6mm.
- Ba (03) quả đạn màu vàng, đường kính thân 6,1mm, chiều cao 1,5cm, đáy ngoài có ký hiệu “C” gửi giám định là vỏ đạn thể thao 5,6x15,6mm. Đã sử dụng.
Ngày 01/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L ban hành Quyết định trưng cầu giám định đối với toàn bộ súng và đạn thu giữ của Nguyễn Xuân Bảo L và Nguyễn Trọng Q. Tại Kết luận giám định số 932/KL-KTHS ngày 03/8/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh L, kết luận:
- Khẩu súng ngắn, dạng súng Rulo màu đen, phần mũi súng có chữ “357 MAG”, phần thân súng có chữ “MADE IN CHINA”, ốp tay cầm bằng kim loại màu nâu, kích thước tổng thể 14cm x 17cm là súng ổ quay tự chế thuộc vũ khí quân dụng (tình trạng kỹ thuật: súng hiện còn sử dụng để bắn được).
- Khẩu súng ngắn màu đen, dạng súng ổ quay kích thước thổng thể 14cm x 20cm, trên thân súng có ký hiệu “SMITH & WESSON”, “MADE IN CHINA, “XIAO YUE LIANG”, “XYL221230159” là súng ổ quay tự chế thuộc vũ khí quân dụng (tình trạng kỹ thuật: súng hiện còn sử dụng để bắn được).
- 29 (hai mươi chín) viên đạn màu vàng, mũi tù màu xám, mỗi viên có đường kính thân 5,6 mm và cao 2,5 cm, mặt ngoài ký hiệu “C” gửi giám định là đạn thể thao cỡ 5,6 x15,6 mm.
Bản Cáo trạng số 19/CT-VKS, ngày 10 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L về tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự; Vương Quang D về tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” và tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Quang L2 và Nguyễn Trọng Q về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Hoài B và Lâm Tiến T1 về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự và bị cáo Huỳnh Ngọc Bảo H3 về tội “Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”; Vương Quang D phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” và tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”; các bị cáo Nguyễn Quang L2 và Nguyễn Trọng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; các bị cáo Nguyễn Hoài B và Lâm Tiến T1 phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” và bị cáo Huỳnh Ngọc Bảo H3 phạm tội “Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 304; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L từ 05 năm đến 06 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Quang D từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng” và từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt của hai tội từ 36 tháng đến 48 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Tiến T1 từ 18 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng. Miễn hình phạt bổ sung.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài B từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 33 (ba mươi ba) tháng tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 15/2023/HS-PT.NCTN ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng phần hình phạt mà bị cáo chưa chấp hành. Miễn hình phạt bổ sung.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Q từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, 65, 90 và Điều 91 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L2 từ 18 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng. Miễn hình phạt bổ sung.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Bảo H3 từ 18 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng. Miễn hình phạt bổ sung.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, Cơ quan ANĐT, Công an tỉnh L đã thu giữ các tài sản, đồ vật, tài liệu:
- Thu giữ của các bị cáo Vương Quang D, Nguyễn Xuân Bảo L, Nguyễn Quang L2 và Nguyễn Trọng Q 03 khẩu súng, 01 vật dạng súng bút, 59 viên đạn thể thao và 03 vỏ đạn. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh L xử lý theo thẩm quyền theo lệnh nhập kho ngày 23/10/2023 giữa Cơ quan ANĐT Công an tỉnh L và Bộ Chỉ H5 quân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Thu giữ 01 (một) thùng bìa carton thu giữ ngày 31/7/2023: Đây là các đồ vật được bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L sử dụng để chế tạo súng gồm: 01 (một) máy mài và 01 (một) ống kim loại hình trụ tròn dùng để điều chỉnh kích thước nòng súng;03 (ba) lọ keo dán dùng để dán các bộ phận của khẩu súng; 02 (hai) vật kim loại dạng ngôi sao màu trắng bạc dùng để gắn vô tâm của ổ đạn khẩu súng; 01 (một) bình xịt sơn dùng để điều chỉnh màu sắc các bộ phận khẩu súng; 01 (một) vật dạng kim loại màu đen giống ổ đạn của khẩu súng ổ quay dùng để chế tạo khẩu súng hoàn chỉnh. Đây là vật chứng minh tội phạm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Thu giữ 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, hiệu Iphone 7, số máy MN9F2LL/A, số sêri DNPSL5RFHG7H, số IMEI 353802083897936 của Vương quang Duy. Đây là tài sản của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Thu giữ 01 (một) điện thoại Sam sung A04, số IMEI1 350970300438900/01, số IMEI2 355894250438907/01, SN R92TAOXFAXR của Nguyễn Quang L2. Đây là tài sản của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Thu giữ 01 (một) điện thoại di động Iphone XS MAX, số máy MT6U2J/A, số Seri F2LXG2PVKPHR, số Imei 357305090563265, Imei 2: 357305090665508 của Huỳnh Ngọc Bảo H3. Đây là tài sản của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Ngoài ra, còn thu giữ: Số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm ngàn đồng) do ông Nguyễn Thanh V1 là Luật sư tham gia bào chữa cho Lâm Tiến T1 giao nộp ngày 06/12/2023; số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) do ông Vương Văn D1 là cha đẻ của bị cáo Vương Quang D giao nộp ngày 07/12/2023; số tiền 1.260.000đ (một triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng) do Huỳnh Ngọc Bảo H3 giao nộp ngày 15/12/2023 và Nguyễn Xuân Bảo L tự nguyện nộp lại số tiền là 5.000.000đ ngày 04/3/2024. Đây là số tiền thu lợi bất chính nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
* Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại gì đối với bản cáo trạng, không tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang L2 bà Lê Thanh L3 trình bày: Thống nhất với tội danh, điều luật mà VKSND tỉnh Lâm Đồng truy tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện giao nộp súng, lúc phạm tội dưới 18 tuổi, bố mẹ bị cáo đã ly hôn, phạm tội lần đầu. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, 90 và 91 Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng án treo để được cải tạo ngoài xã hội.
* Người bào chữa cho bị cáo Lâm Tiến T1 là ông Nguyễn Thanh V1 trình bày: Thống nhất với tội danh, điều luật mà VKSND tỉnh Lâm Đồng truy tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nộp tiền thu lợi bất chính, phạm tội lần đầu. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng án treo để được cải tạo ngoài xã hội.
* Các bị cáo nói lời sau cùng: Đều nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét xử phạt mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L, Vương Quang D, Lâm Tiến T1, Nguyễn Hoài B, Nguyễn Trọng Q, Nguyễn Quang L2 và Huỳnh Ngọc Bảo H3 đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung Bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung Bản Kết luận điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; nội dung Kết luận giám định; bản ảnh; biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Với mục đích chế tạo súng để bán, từ tháng 4/2023 đến tháng 7/2023, Nguyễn Xuân Bảo L đã chế tạo 03 khẩu súng ổ quay tự chế thuộc vũ khí quân dụng và bán cho nhiều người. Cụ thể như sau:
Khẩu súng thứ nhất: Vào khoảng tháng 4/2023, L chế tạo khẩu súng ổ quay kích thước tổng thể 14cm x 20cm, qua giám định là súng ngắn tự chế thuộc vũ khí quân dụng và bán cho Lâm Tiến T1 với giá 8.000.000đ (tám triệu đồng). T1 mang về cất giấu tại địa chỉ thôn D, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đến ngày 24/4/2023, Lâm Tiến T1 bán lại khẩu súng cho Vương Quang D với số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm ngàn đồng). D mang khẩu súng về cất giấu tại chỗ ở, sử dụng súng để bắn thử 01 (một) lần tại vị trí sau nhà, địa chỉ: xóm F, thôn H, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng tháng 5/2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân, D đã thông qua Nguyễn Hoài B để bán lại khẩu súng trên cho Nguyễn Trọng Q với số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng). Trước khi giao súng cho Q, Nguyễn Hoài B mang khẩu súng về cất giấu tại nhà ở, địa chỉ số C L, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi nhận được súng, đạn, Q về cất giấu trong tủ quần áo trong phòng ngủ, tại địa chỉ: Số H L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng từ tháng 5/2023 đến ngày 31/7/2023 thì giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L.
Đối với khẩu súng thứ hai: Khoảng cuối tháng 7/2023, Nguyễn Xuân Bảo L chế tạo 01 (một) khẩu súng ngắn kích thước tổng thể 14,5cm x 20cm, qua giám định là súng ổ quay tự chế thuộc vũ khí quân dụng và bán lại cho Vương Quang D với số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng). D mang về nhà cất giấu, sử dụng để bắn thử 01 (một) lần tại vị trí sau nhà. Sau đó bắn thử 02 phát tại hẻm Đ, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, đưa Nguyễn Xuân Bảo L để bắn thử 01 (một) lần trước quán C3, số A C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Đối với khẩu súng thứ ba: Sau khi Nguyễn Xuân Bảo L chế tạo xong 01 (một) khẩu súng ngắn kích thước tổng thể 14cm x 17cm, qua giám định là súng ổ quay tự chế thuộc vũ khí quân dụng, đến ngày 31/7/2023, khi L điều khiển xe ô tô KIA MORNING, biển số 49A-215.94 mang súng đi giao cho người tên D (không rõ nhân thân, lai lịch). Khi đi đến địa chỉ: số B H, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ 01 (một) khẩu súng và 25 viên đạn.
Quá trình chế tạo khẩu súng thứ hai và khẩu súng thứ ba, Nguyễn Xuân Bảo L liên hệ với Huỳnh Ngọc Bảo H3 để nhờ H3 làm 14 ống kim loại để sử dụng lắp ráp vào 02 (hai) khẩu súng trong đó H3 trực tiếp gắn các ống kim loại vào 01 (một) ổ đạn và lấy tiền công 1.260.000đ (một triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng).
Đối với Vương Quang D, ngoài hành vi mua 02 (hai) khẩu súng từ Lâm Tiến T1 và Nguyễn Xuân Bảo L. Vào khoảng tháng 03/2023, D còn chế tạo thành công 01 (một) khẩu súng bút bằng kim loại màu đen xám, dài 20,3cm, đường kính ngoài 11,8mm, kết luận giám định là súng bút tự chế, thuộc loại vũ khí quân dụng. D đã sử dụng để bắn thử 02 (hai) lần tại khu vực dốc T, xã Đ, thành phố B và khu vực đất trống sau nhà thuộc xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đến tháng 5/2023, D đã bán khẩu súng bút và 05 viên đạn thể thao cho Nguyễn Quang L2 với số tiền 1.500.000₫ (một triệu năm trăm ngàn đồng). Tổng cộng, Vương Quang D đã sử dụng 03 khẩu súng quân dụng để bắn thử 05 lần.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L đã phạm vào tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vương Quang D đã phạm vào tạo “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” và tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Quang L2 và Nguyễn Trọng Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Hoài B và Lâm Tiến T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự và bị cáo Huỳnh Ngọc Bảo H3 đã phạm vào tội “Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chế tạo, sử dụng, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật; với mục đích thu lợi bất chính, thể hiện sự hiếu thắng với người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L thực hiện tội pháp rất nghiêm trọng; các bị cáo Vương Quang D, Nguyễn Hoài B, Lâm Tiến T1, Nguyễn Trọng Q, Nguyễn Quang L2 và Huỳnh Ngọc Bảo H3 thực hiện tội phạm nghiêm trọng, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L, Lâm Tiến T1, Huỳnh Ngọc Bảo H3 có nhân thân tốt.
Bị cáo Nguyễn Hoài B bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 15/2023/HS-PT.NCTN ngày 17/7/2023, lúc phạm tội dưới 18 tuổi, đang chấp hành án tại Trại giam Đ.
Các bị cáo Nguyễn Quang L2, Vương Quang D và Nguyễn Trọng Q đã bị xử phạt hành chính, đã được xóa.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L, Vương Quang D, Lâm Tiến T1 và Huỳnh Ngọc Bảo H3 đã nộp tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả.
Bị cáo Vương Quang D có ông nội là Vương Văn M, được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì.
Bị cáo Huỳnh Ngọc Bảo H3 có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị H4, được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì và có ông ngoại là Nguyễn Văn T7 là liệt sĩ.
Bị cáo Nguyễn Hoài B có ông ngoại là Lương Văn H6 được Nhà nước tặng Huy chương chiến công giải phóng hạng nhất.
Bị cáo Nguyễn Quang L2, Nguyễn Trọng Q đầu thú tự nguyện giao nộp vật chứng phạm tội.
Bị cáo Nguyễn Quang L2 lúc phạm tội dưới 18 tuổi.
Bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L được Hội chữ thập đỏ thành phố B công nhận hỗ trợ người nghèo trị giá thành tiền là 2.000.000 đồng.
Vì vậy, cho 07 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Quang L2 được áp dụng thêm các Điều 90 và Điều 91 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vương Quang D thực hiện hai lần mua bán vũ khí quân dụng nên bị áp dụng tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng.
[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét tính chất, mức độ của các bị cáo như sau:
- Bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L là người truy cập vào các trang mạng xã hội mua các thiết bị để thực hiện hành vi chế tạo 03 khẩu súng, tàng trữ, sử dụng và bán trái phép 03 khẩu súng, đạn là vũ khí quân dụng nên tính chất, mức độ của bị cáo L cao hơn các bị cáo khác.
- Bị cáo Vương Quang D là người thực hiện hành vi chế tạo 01 khẩu súng, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép 02 khẩu súng, đạn là vũ khí quân dụng nên tính chất, mức độ của bị cáo thấp hơn bị cáo L và cao hơn các bị cáo khác.
- Bị cáo Lâm Tiến T1, Nguyễn Trọng Q và Nguyễn Quang L2 là những người thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng nên tính chất, mức độ của ba bị cáo ngang nhau nhưng thấp hơn bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L, Vương Quang D và phải cao hơn bị cáo B và H3.
- Bị cáo Nguyễn Hoài B là người giúp sức cho Vương Quang D, bị cáo Huỳnh Ngọc Bảo H3 là người giúp sức cho bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L để chế tạo, tàng trữ, mua bán và hộ vũ khí quân dụng nên tính chất, mức độ của hai bị cáo ngang nhau và thấp hơn các bị cáo khác.
[8] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy:
Đối với bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L, Vương Quang D, Nguyễn Hoài B và Nguyễn Trọng Q cần cách ly khỏi xã hội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.
Đối với bị cáo Lâm Tiến T1 và Huỳnh Ngọc Bảo H3 có nhân thân tốt, bị cáo Nguyễn Quang L2 lúc phạm tội dưới 18 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giáo dục là phù hợp. Vì vậy, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo cũng đủ răn đe, phòng ngừa.
[9] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 điều 304 Bộ luật Hình sự. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[10] Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoài B đang chấp hành hình phạt 33 (ba mươi ba) tháng tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 15/2023/HS-PT.NCTN ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, bị cáo đã chấp hành hình phạt tù từ ngày 18/8/2023 đến ngày 30/7/2024 là 11 tháng 12 ngày. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/9/2022 đến ngày 13/01/2023 là 04 tháng 12 ngày. Tổng cộng phần hình phạt bị cáo đã chấp hành xong là 15 tháng 24 ngày. Phần hình phạt của bị cáo chưa chấp hành là 17 tháng 06 ngày.
[11] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:
Quá trình điều tra, Cơ quan ANĐT, Công an tỉnh L đã thu giữ các tài sản, đồ vật, tài liệu:
- Thu giữ của các bị cáo Vương Quang D, Nguyễn Xuân Bảo L, Nguyễn Quang L2 và Nguyễn Trọng Q 03 khẩu súng, 01 vật dạng súng bút, 59 viên đạn thể thao và 03 vỏ đạn. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh L xử lý theo thẩm quyền theo lệnh nhập kho ngày 23/10/2023 giữa Cơ quan ANĐT Công an tỉnh L và Bộ Chỉ H5 quân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Thu giữ 01 (một) thùng bìa carton thu giữ ngày 31/7/2023: Đây là các đồ vật được bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L sử dụng để chế tạo súng gồm: 01 (một) máy mài và 01 (một) ống kim loại hình trụ tròn dùng để điều chỉnh kích thước nòng súng;03 (ba) lọ keo dán dùng để dán các bộ phận của khẩu súng; 02 (hai) vật kim loại dạng ngôi sao màu trắng bạc dùng để gắn vô tâm của ổ đạn khẩu súng; 01 (một) bình xịt sơn dùng để điều chỉnh màu sắc các bộ phận khẩu súng; 01 (một) vật dạng kim loại màu đen giống ổ đạn của khẩu súng ổ quay dùng để chế tạo khẩu súng hoàn chỉnh. Đây là vật chứng minh tội phạm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Thu giữ 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, hiệu Iphone 7, số máy MN9F2LL/A, số sêri DNPSL5RFHG7H, số IMEI 353802083897936 của Vương quang Duy. Đây là tài sản của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Thu giữ 01 (một) điện thoại Sam sung A04, số IMEI1 350970300438900/01, số IMEI2 355894250438907/01, SN R92TAOXFAXR của Nguyễn Quang L2. Đây là tài sản của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Thu giữ 01 (một) điện thoại di động Iphone XS MAX, số máy MT6U2J/A, số Seri F2LXG2PVKPHR, số Imei 357305090563265, Imei 2: 357305090665508 của Huỳnh Ngọc Bảo H3. Đây là tài sản của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Ngoài ra, còn thu giữ: Số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm ngàn đồng) do ông Nguyễn Thanh V1 là Luật sư tham gia bào chữa cho Lâm Tiến T1 giao nộp ngày 06/12/2023; số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) do ông Vương Văn D1 là cha đẻ của bị cáo Vương Quang D giao nộp ngày 07/12/2023; số tiền 1.260.000đ (một triệu hai trăm sáu mươi ngàn đồng) do Huỳnh Ngọc Bảo H3 giao nộp ngày 15/12/2023 và Nguyễn Xuân Bảo L tự nguyện nộp lại số tiền là 5.000.000đ ngày 04/3/2024. Đây là số tiền thu lợi bất chính nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
[12] Các vấn đề khác.
Đối với các trang mạng mà Nguyễn Xuân Bảo L truy cập để mua các khẩu súng đồ chơi và đạn thể thao, khi bắt quả tang Nguyễn Xuân Bảo L không thu giữ được điện thoại của L, do đó Cơ quan điều tra không thể tiến hành kiểm tra, khai thác dữ liệu điện tử thể hiện việc liên hệ, trao đổi nội dung liên quan đến hành vi đặt mua súng đồ chơi và đạn thể thao. Vì vậy, không có căn cứ để xác định nguồn gốc súng, đạn thu giữ của bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L. Đối với trang mạng Vương Quang D liên hệ mua đạn thể thao, D không nhớ rõ cụ thể thời gian, tên trang mạng đã mua. Vì vậy, Cơ quan An ninh điều tra không xác minh được nguồn gốc đạn đã thu giữ của Vương Quang D.
Đối với Phạm Vũ T5, sinh năm 2003, trú tại: đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, đã mua 01 (một) khẩu súng từ Nguyễn Xuân Bảo L. Quá trình điều tra không thu giữ được khẩu súng để tiến hành trưng cầu giám định, xác định khẩu súng có thuộc vũ khí quân dụng hay không. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xem xét xử lý hành vi của Phạm Vũ T5 và Nguyễn Xuân Bảo L.
Tại thời điểm bắt quả tang Nguyễn Xuân Bảo L có mặt Nguyễn Trung T6, sinh ngày 18/5/1996, trú tại: Số D T, phường L, thành phố B, Lâm Đồng, cùng đi xe ô tô với L, quá trình điều tra T6 không biết việc L chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý hình sự đối Nguyễn Trung Thành.
Đối với Huỳnh Ngọc S, sinh ngày 03/7/2007, trú tại: Thôn H, xã phường, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng: là người có mặt tại quán cà phê ở quán T10: số A C, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đã chứng kiến việc Nguyễn Xuân Bảo L và Vương Quang D có tàng trữ súng và thấy L dùng súng bắn đạn nổ. Khi về lại quán bắn cá, khoảng 15 - 20 phút sau thì Cơ quan Công an đến kiểm tra và thu giữ súng, đạn trong người Duy. Do hành vi của Nguyễn Xuân Bảo L và Vương Quang D diễn ra trong thời gian ngắn nên S không có thời gian để ngăn chặn hoặc tố giác hành vi vi phạm pháp luật của D. Do vậy, không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Huỳnh Ngọc S.
Đối với Nguyễn Quang L2 đi cùng Vương Quang D, L2 thấy D rút trong túi ra một khẩu súng, và sử dụng súng để bắn 02 (hai) phát đạn nổ sau đó quay về lại quán bắn cá. Khi đi cùng D, L2 không biết mục đích đi đâu, làm gì. Diễn biến sự việc xảy ra trong một thời gian ngắn. Do đó, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Quang L2 về tội “Không tố giác tội phạm”.
[13] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[14] Xét ý kiến trình bày bào chữa của bà Lê Thanh L3 cho bị cáo Nguyễn Quang L2 và ông Nguyễn Thanh V1 cho bị cáo Lâm Tiến T1 là có căn cứ chấp nhận.
[15] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Vương Quang D phạm tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” và tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”; các bị cáo Nguyễn Quang L2 và Nguyễn Trọng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; các bị cáo Nguyễn Hoài B và Lâm Tiến T1 phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” và bị cáo Huỳnh Ngọc Bảo H3 về tội “Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 304; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L 05 (năm) tù, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 31/7/2023 đến ngày 16/10/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Quang D 18 (mười tám) tháng tù về tội “Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng” và 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/7/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Tiến T1 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu), tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài B, tên gọi khác là Bảo chùa 18 (mười tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 33 (ba mươi ba) tháng tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 15/2023/HS-PT.NCTN ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đối với phần hình phạt mà bị cáo chưa chấp hành là 17 tháng 06 ngày. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 35 (ba mươi lăm) tháng 06 (sáu) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/7/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17, 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Q, tên gọi khác là T8 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, 65, 90 và Điều 91 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L2 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu), tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Bảo H3 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu), tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Huỳnh Ngọc Bảo H3 cho Ủy ban nhân dân Phường B3, bị cáo Lâm Tiến T1 cho UBND xã Đ và bị cáo Nguyễn Quang L2 cho UBND xã Đ, đều thuộc thành phố B, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án hình sự được thực hiện theo Luật Thi hành án Hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự”.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh L xử lý theo thẩm quyền: 03 khẩu súng, 01 vật dạng súng bút, 59 viên đạn thể thao và 03 vỏ đạn. Theo lệnh nhập kho ngày 23/10/2023 giữa Cơ quan ANĐT Công an tỉnh L và Bộ Chỉ H5 quân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) máy mài và 01 (một) ống kim loại hình trụ tròn dùng để điều chỉnh kích thước nòng súng; 03 (ba) lọ keo dán dùng để dán các bộ phận của khẩu súng; 02 (hai) vật kim loại dạng ngôi sao màu trắng bạc dùng để gắn vô tâm của ổ đạn khẩu súng; 01 (một) bình xịt sơn dùng để điều chỉnh màu sắc các bộ phận khẩu súng; 01 (một) vật dạng kim loại màu đen giống ổ đạn của khẩu súng ổ quay dùng để chế tạo khẩu súng hoàn chỉnh.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 13.760.000 đ (mười ba triệu, bảy trăm sáu mươi ngàn đồng); 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, hiệu Iphone 7, số máy MN9F2LL/A, số sêri DNPSL5RFHG7H, số IMEI 353802083897936; 01 (một) điện thoại Sam sung A04, số IMEI1 350970300438900/01, số IMEI2 355894250438907/01, SN R92TAOXFAXR và 01 (một) điện thoại di động Iphone XS MAX, số máy: MT6U2J/A, số Seri F2LXG2PVKPHR, số Imei 357305090563265, Imei 2: 357305090665508.
Tình trạng vật chứng theo biên bản về việc giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/02/2024 và tiền theo Uỷ nhiệm chi ngày 31/01/2024 giữa Cơ quan Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và Biên lai thu tiền số 0002017 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân Bảo L, Vương Quang D, Nguyễn Quang L2, Nguyễn Trọng Q, Nguyễn Hoài B, Lâm Tiến T1 và bị cáo Huỳnh Ngọc Bảo H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang L2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L cùng đồng phạm chế tạo, tàng trữ, sữ dụng trái pháp vũ khi quân dụng
