Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày 25 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: bà Quách Thị Thu Hương và bà Phạm Thị Ngọc Nga

- Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị P sinh năm 1991 tại tỉnh Ninh Bình

Nơi cư trú: thôn P, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công P1 và bà Nguyễn Thị P2; có chồng Nguyễn Văn Q và có 01 con sinh năm 2010 (con của chồng cũ); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 12/9/2023 đến ngày 21/9/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh N; có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH P4; địa chỉ trụ sở chính: khu vực dãy A, phố C, số 1, T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình;

Người đại hợp pháp của bị hại: ông Vũ Văn X sinh năm 1979; nơi thường trú: P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt. Ông Trần Tuấn L sinh năm 1999; nơi thường trú: khu B, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt. Bà Nguyễn Thị Thùy D sinh năm 2001; nơi thường trú: T, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt. Địa chỉ liên hệ của ông X, ông L và bà D: số A, Nguyễn Gia T, khu C, phường S, thành phố B là người đại diện theo uỷ quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 22/5/2024) .

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Phi L1 sinh năm 1991; vắng mặt.
  • + Anh Trần Anh Đ sinh năm 1995; vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị T1 sinh năm 1991; vắng mặt.
  • + Anh Trần Thanh B sinh năm 1986; vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Tiến D1 sinh năm 1993; vắng mặt.
  • + Chị Trần Thị H sinh năm 1984; vắng mặt.
  • + Chị Tạ Thị H1 sinh năm 1994; vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thanh D2 sinh năm 1996; vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Mạnh H2 sinh năm 1995; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị P là nhân viên thu ngân của Công ty TNHH P4 do chị Đinh Thị Á, sinh năm 1994, trú tại khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là người đại diện theo pháp luật.

Tháng 6/2023 Nguyễn Thị P được Công ty TNHH P4 tuyển dụng vào làm việc tại nhà hàng P5. P được Công ty giao nhiệm vụ thu ngân, quản lý các khoản tiền mặt, tổng hợp thu, chi trong ngày của nhà hàng, cụ thể: hàng ngày P thực hiện công việc thu tiền của khách đến nhà hàng sử dụng dịch vụ, khách hàng sẽ thanh toán bằng các hình thức tiền mặt, chuyển khoản, hoặc quẹt thẻ. Đối với hình thức thanh toán chuyển khoản và quẹt thẻ thì khách hàng trực tiếp thanh toán vào tài khoản ngân hàng của chị Á thông qua mã QR đặt tại nhà hàng. Trường hợp khách hàng thanh toán bằng tiền mặt thì P sẽ thu của khách, sau đó đến cuối ngày làm việc, P có nhiệm vụ tổng hợp doanh thu trong ngày đối trừ các khoản chi rồi lập báo cáo thu, chi sau đó gửi báo cáo lên nhóm Zalo của nhà hàng để báo cáo. Ngày hôm sau P có trách nhiệm chuyển toàn bộ số tiền mặt doanh thu của nhà hàng ngày hôm trước theo báo cáo thu chi cho chị Á qua tài khoản ngân hàng MB số 1122239999 sau đó chụp ảnh giao dịch chuyển tiền thành công gửi lên nhóm Zalo của cửa hàng để báo cáo việc chuyển tiền cho chị Á theo dõi. Ngoài ra P còn có nhiệm vụ quản lý quỹ nhân viên đóng góp, tiền công ty ứng ra để trả lại cho khách và khoản tiền thanh toán cho các nhà cung cấp hàng hoá cho nhà hàng P5.

Từ thời điểm làm việc cho đến ngày 14/6/2023, P thực hiện công việc được phân công là lập báo cáo thu, chi đồng thời chuyển tiền doanh thu cho chị Á theo quy định. Từ giữa tháng 6/2023, do đã tiêu hết số tiền doanh thu của nhà hàng mà P được giao quản lý nên P hỏi vay tiền của người thanh niên tên Lê Minh Hiếu s

năm 1993, trú tại xã N, thành phố N là bạn của P và nhờ H3 chuyển số tiền doanh thu nhà hàng cho chị Á, H3 đồng ý. P cung cấp thông tin tài khoản của chị Á và số tiền cần chuyển cho H3 để H3 chuyển tiền. Sau khi chuyển tiền xong H3 gửi các hình ảnh chuyển tiền thành công cho P để P báo về Công ty. Đến đầu tháng 7/2023, P gặp H3 thì biết H3 chưa lần nào chuyển tiền cho công ty P4, những hình ảnh giao dịch chuyển tiền thành công đều là do H3 làm giả. Biết được việc trên nhưng P không báo cáo lại cho Công ty, P cũng không thấy Công ty phản hồi lại việc không nhận được tiền do vậy P nảy sinh ý định nhờ H3 tiếp tục làm giả các giao dịch chuyển tiền thành công để chiếm đoạt tiền của công ty. Mỗi lần nhờ H3 làm giả hình ảnh chuyển tiền thì P đều cho H3 số tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Bằng thủ đoạn trên từ tháng 6/2023 đến tháng 8/2023, Nguyễn Thị P chiếm đoạt tiền doanh thu của nhà hàng P5 vào các ngày, cụ thể: Từ ngày 15/6 đến ngày 21/6/ 2023; từ ngày 07/7 đến ngày 10/7/2023; ngày 17/7/2023; từ ngày 19/7 đến ngày 06/8/2023; từ ngày 08/8 đến ngày 13/8/2023 với tổng số tiền chiếm đoạt là 286.237.000 đồng.

Bên cạnh đó, để đảm bảo việc có tiền trả tiền thừa cho khách khi đến sử dụng dịch vụ tại nhà hàng thì đại diện công ty đưa cho P quản lý một số tiền mặt để phục vụ công việc trên. Trong quá trình hoạt động các nhân viên nhà hàng còn đóng góp tiền thành lập quỹ nhân viên của nhà hàng và giao cho P giữ để chi tiêu chung. Trước khi nghỉ việc tại nhà hàng P còn chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng quỹ tiền mặt và số tiền 3.939.000 đồng quỹ các nhân viên trong nhà hàng đóng góp do P trực tiếp quản lý.

Ngoài công việc quản lý các khoản tiền doanh thu, tiền quỹ của nhà hàng, P còn được phân công nhiệm vụ sử dụng tiền doanh thu của nhà hàng để thanh toán các khoản chi phí cho các nhà cung cấp hàng hóa cho nhà hàng. Tuy nhiên trong thời gian làm việc tại nhà hàng, P đã lấy số tiền trên tiều xài cá nhân hết nên không thanh toán cho các nhà cung cấp mà nhờ H3 làm giả các giao dịch chuyển tiền thành công cho nhà cung cấp để chiếm đoạt tổng số tiền là 23.373.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị P đã chiếm đoạt là 318.549.000 đồng. Trong đó tổng số tiền P đã chiếm đoạt của Công ty TNHH P4 là 314.610.000 đồng và 3.939.000 đồng quỹ các nhân viên trong nhà hàng Đ1 để sử dụng chung.

Sau khi chiếm đoạt các khoản tiền trên của công ty P6 đã tiêu xài cá nhân và nạp tiền vào tài khoản đánh bạc để thực hiện hành vi đánh bạc trực tuyến, cụ thể như sau: Nguyễn Thị P đã truy cập lên Internet để tải về ứng dụng đánh bạc trực tuyến “Twin” vào điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, lắp sim 0968.193.640 của mình. Sau đó, P đăng ký tài khoản đánh bạc có tên đăng nhập là “0968193640” với mật khẩu là “12111991Ph” và lấy tên nhân vật là “Pé mít”, ID người chơi là 5391143 để đánh bạc trực tuyến trong ứng dụng “Twin”. P liên kết tài khoản ngân hàng S1 mở tại ngân hàng V4 của P với tài khoản đánh bạc để thực hiện việc nạp tiền và rút tiền đánh bạc với tỷ lệ nạp/rút là 1:1, có nghĩa là nếu P có

1.000.000 đồng trong tài khoản “Twin” thì P có thể rút ra 1.000.000 Việt Nam đồng hoặc ngược lại. Trong ứng dụng đánh bạc, P chọn game bài “T2 lên miền nam” để chơi. Quá trình điều tra xác định từ ngày 04/9/2023 đến ngày 09/9/2023 Nguyễn Thị P đã nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc trực tuyến qua ứng dụng “Twin”, cụ thể:

Lần 1: Hồi 16 giờ 50 phút ngày 04/9/2023, Nguyễn Thị P truy cập vào ứng dụng “Twin” đăng nhập vào tài khoản đánh bạc và thực hiện đánh bạc liên tục bằng hình thức chơi “T2 lên miền nam” đến 04 giờ 00 phút ngày 05/9/2023 thì P thua hết tiền nên đăng xuất khỏi tài khoản. Trong lần đăng nhập này P đã nạp thành công 08 lần với tổng số tiền 11.300.000 đồng dùng để đánh bạc. Như vậy tổng số tiền đánh bạc của P trong lần này là 11.300.000 đồng.

Lần 2: Hồi 14 giờ 50 phút ngày 08/9/2023, Nguyễn Thị P truy cập vào ứng dụng “Twin” đăng nhập vào tài khoản đánh bạc và thực hiện đánh bạc liên tục bằng hình thức chơi “T2 lên miền nam” đến 00 giờ 00 phút ngày 09/9/2023 P thua hết tiền trong tài khoản đánh bạc thì đăng xuất khỏi tài khoản. Trong lần đăng nhập này P đã nạp thành công 08 lần với tổng số tiền 5.000.000 đồng dùng để đánh bạc. Như vậy tổng số tiền đánh bạc của P trong lần này là 5.000.000 đồng.

Ngày 23/8/2023, chị Đinh Thị Á là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH P4 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N trình báo về việc Nguyễn Thị P là nhân viên thu ngân của công ty đã có hành vi chiếm đoạt tiền của công ty mà P được giao quản lý. Căn cứ yêu cầu điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã triệu tập Nguyễn Thị P đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, P đã tự giác giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s lắp sim 0968.193.640 đồng thời viết đơn xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã chuyển 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s lắp sim 0968.193.640 thu giữ của Nguyễn Thị P đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH P4 yêu cầu bị cáo P hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 314.610.000 đồng. Bị cáo P đồng ý tuy nhiên P đã tiêu xài hết số tiền trên chưa có điều kiện để trả lại cho bị hại. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện nộp số tiền bồi thường là 50.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSND-TPNB ngày 21 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự và tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2, khoản 5 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Tham ô tài sản” và tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353; điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 (Đối với tội đánh bạc); Điều 55 Bộ luật Hình sự.
  2. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tham ô tài sản” và từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của 02 tội là từ 10 năm đến 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/9/2023.

    - Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng

  3. Xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
  4. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s lắp sim 0968.193.640 thu giữ của Nguyễn Thị P

    Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường số tiền 50.000.000 đồng của Nguyễn Thị P cho Công ty TNHH P4.

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải tiếp tục bồi thường số tiền 264.610.000 đồng cho Công ty TNHH Pizza Sen

  5. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo bị kết án phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 13.230.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị P khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung vụ án đã nêu. Bị cáo P khai nhận: bị cáo là nhân viên thu ngân của nhà hàng thuộc Công ty TNHH P4; địa chỉ: khu D, phố C, số A đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Quá trình làm việc, P được giao nhiệm vụ thu ngân, lập báo cáo thu, chi trong ngày và quản lý tiền doanh thu tiền mặt của nhà hàng và quản lý số tiền thanh toán cho các nhà cung cấp hàng hóa cho nhà hàng. Tuy nhiên, từ tháng ngày 15/6/2023 đến ngày 13/8/2023, lợi dụng vào công việc được giao và sự quản lý thiếu chặt chẽ của nhà hàng, bị cáo đã chiếm đoạt tổng số tiền là 314.610.000 đồng. Đồng thời trong thời gian từ ngày 04/9/2023 đến ngày 09/9/2023, trên địa bàn thành phố N, P thực hiện hành vi đánh bạc trực tuyến trên ứng dụng “Twin” với hình thức chơi “T2 lên miền nam” như sau: từ hồi 16 giờ 50 phút ngày 04/9/2023 đến 04 giờ 00 phút ngày 05/9/2023 bị cáo thực hiện đánh bạc với số tiền là 11.300.000 đồng và từ hồi 14 giờ 50 phút ngày 08/9/2023 đến 00 giờ ngày 09/9/2023, Nguyễn Thị P thực hiện đánh bạc với tổng số tiền là 5.000.000 đồng.

Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Trần Tuấn L xác định: Từ ngày 15/6/2023 đến ngày 13/8/2023, lợi dụng vào công việc được giao là nhân viên thu ngân bị cáo P đã chiếm đoạt của Công ty TNHH P4 tổng số tiền là

314.610.000 đồng. Công ty TNHH P4 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho Công ty số tiền bị cáo chiếm đoạt là 314.610.000 đồng và đề nghị Tòa xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra người làm chứng là anh Nguyễn Phi L1, anh Trần Anh Đ, chị Nguyễn Thị T1, anh Trần Thanh B, anh Nguyễn Tiến D1, chị Trần Thị H, chị Tạ Thị H1, chị Nguyễn Thanh D2 và anh Nguyễn Mạnh H2 đã khai báo các tình tiết trong vụ án mà các anh chị biết về việc bị cáo P lợi dụng nhiệm vụ được giao tại Công ty TNHH P4 đã chiếm đoạt tiền doanh thu, tiền mặt của nhà hàng và tiền thanh toán cho các nhà cung cấp hàng hóa cho nhà hàng .

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án nhẹ nhất và không áp dụng hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Từ ngày 15/6/2023 đến ngày 13/8/2023 bị cáo Nguyễn Thị P đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao là thu ngân, lập báo cáo thu, chi trong ngày và quản lý tiền doanh thu tiền mặt của nhà hàng và quản lý số tiền thanh toán cho các nhà cung cấp hàng hóa cho nhà hàng để chiếm đoạt số tiền 314.610.000 đồng mà bị cáo có trách nhiệm quản lý tại nhà hàng của Công ty TNHH P4 có địa chỉ tại khu dãy A, phố C, số A đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

Trong thời gian từ ngày 04/9/2023 đến ngày 09/9/2023, trên địa bàn thành phố N, P thực hiện hành vi đánh bạc trực tuyến trên ứng dụng “Twin” với hình thức chơi “T2 lên miền nam”, cụ thể:

  • - Từ hồi 16 giờ 50 phút ngày 04/9/2023 đến 04 giờ 00 phút ngày 05/9/2023, Nguyễn Thị P thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền là 11.300.000 đồng.
  • - Từ hồi 14 giờ 50 phút ngày 08/9/2023 đến 00 giờ ngày 09/9/2023, Nguyễn Thị P thực hiện hành vi đánh bạc với tổng số tiền là 5.000.000 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lợi dụng nhiệm vụ được phân công chiếm đoạt tài sản của Công ty mình đang làm việc là vi phạm pháp luật và hành vi đánh bạc của mình bị pháp luật nghiêm cấm dưới mọi hình thức nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi lợi dụng nhiệm vụ được phân công chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp

xâm phạm đến tài sản, ảnh hưởng hoạt động kinh doanh của công ty mà bị cáo có nhiệm vụ quản lý và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Hành vi đánh bạc trái phép của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ đồng thời lảm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Tham ô tài sản” và tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 và điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 78/CT-VKSND-TPNB ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát thành phố N truy tố bị cáo theo tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 321. Tội đánh bạc:

  1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
    • c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

Điều 353. Tội tham ô tài sản

  1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
    • d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 2 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với tội “ Đánh bạc”; bị cáo sau khi phạm tội đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 của Bộ luật Hình sự đối với 2 tội. Bị cáo tự nguyện

bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại và có đơn đầu thú về hành vi tham ô tài sản nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điềm b khoản 1 Điều 51 và khoản 2 của Bộ luật Hình sự đối với tội tham ô tài sản.

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Sau khi xem xét về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ giáo dục cải tạo bị cáo và đảm bảo tác dụng phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” và khoản 5 Điều 353 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH P4 số tiền chiếm đoạt là 314.610.000 đồng. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện nộp số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để bồi thường cho Công ty TNHH P4. Do vậy bị cáo P phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường số tiền 264.610.000 đồng cho Công ty TNHH P4 theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

[3] Xử lý vật chứng: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s lắp sim 0968193640 thu giữ của Nguyễn Thị P, bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

[4] Về các vấn đề khác:

  • - Đối với người nam thành niên tên Lê Minh Hiếu s năm 1993, trú tại xã N, thành phố N là người P đã nhờ làm giả các hình ảnh giao dịch chuyển tiền thành công để P báo cáo với công ty, quá trình điều tra P khai nhận chỉ biết và gặp H3 ở thành phố Hà Nội, chỉ nghe H3 nói tên tuổi và địa chỉ như trên, chưa đến nhà H3 lần nào, không nhớ số điện thoại đã liên lạc với H3. Quá trình xác minh tại xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình không có công dân nào tên Lê Minh Hiếu s năm 1993 đang sinh sống trên địa bàn do đó cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác minh người nam thanh niên tên Lê Minh H4.
  • - Đối với số tiền 52.682.566 đồng, là số tiền mà Công ty TNHH P4 cho rằng P đã chiếm đoạt thông qua việc khách hàng thanh toán bằng hình thức chuyển khoản tại nhà hàng. Quá trình điều tra xác định, số tiền trên do khách chuyển

khoản trực tiếp qua mã QR liên kết với tài khoản ngân hàng của chị Đinh Thị Á là giám đốc công ty được in tại quầy thu ngân, P không có trách nhiệm quản lý tài khoản nhận tiền này. Ngoài lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại không có căn cứ nào khác xác định P đã chiếm đoạt số tiền trên do vậy không đủ căn cứ xử lý đối với Nguyễn Thị P về số tiền này.

- Đối với số tiền 3.939.000 đồng là tiền do các nhân viên của nhà hàng cùng góp lại để phục vụ cho việc chi tiêu chung của nhân viên. Quá trình làm việc tại công ty, P được mọi người giao cho quản lý số tiền trên tuy nhiên khi nghỉ việc P đã chiếm đoạt số tiền trên để chi tiêu cá nhân. Hành vi trên của Nguyễn Thị P có dấu hiệu của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên số tiền P chiếm đoạt dưới 4.000.000 đồng, P chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra xác định trong thời điểm thực hiện hành vi đánh bạc Nguyễn Thị P đã sử dụng tài khoản TMCP N6 số 0931004189332 của mình chuyển số tiền đánh bạc đến các số tài khoản ngân hàng mà nhà cái cung cấp để nạp tiền vào tài khoản đánh bạc và rút tiền từ tài khoản đánh bạc về tài khoản ngân hàng TMCP N6 thông qua các tài khoản ngân hàng của nhà cái. Căn cứ yêu cầu điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã gửi công văn tra cứu, xác minh thông tin chủ các tài khoản ngân hàng đã nhận và chuyển tiền liên quan đến hành vi đánh bạc của P, đồng thời tiến hành ủy thác điều tra để xác minh theo quy định, kết quả:

  • - Tài khoản số 19039055606018 ngân hàng TMCP K đăng ký tên Nguyễn Thị T3 sinh ngày 18/4/1980, trú tại tổ dân phố T, phường B, Quận Đ, thành phố Hải Phòng. Tài khoản số 1303878893209 ngân hàng TMCP C1 và tài khoản số 1038069906 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Lê Hữu M sinh ngày 24/02/2007, trú tại xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tài khoản số 0101001216182 ngân hàng TMCP N6 và tài khoản số 31539267 ngân hàng TMCP Á1 đăng ký tên Lê Văn T4 sinh ngày 21/9/1997, trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tài khoản số 1704677904 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Phạm Thị V sinh ngày 20/9/1990, trú tại thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tài khoản số 1030955499 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Trần Mộng N sinh ngày 08/3/1968, trú tại số D, lô C, đường P, phường D, quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Tài khoản số 9987161357 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Trương Văn T5, trú tại xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Tài khoản số 9220022005 ngân hàng TMCP K đăng ký tên Đỗ Thị Ngọc M1 sinh ngày 20/02/2005, trú tại số G, đường Đ, phường D, quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Tài khoản số 1903832920015 ngân hàng TMCP K đăng ký tên Nguyễn Thị Lan A sinh ngày 02/12/2003, trú tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Tài khoản số 1037185821 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Trần Thị H5 sinh ngày 12/6/1993, trú tại thôn Đ, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  • Tài khoản số 1037185879 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Trần Hữu N1 sinh ngày 04/7/1993, trú tại thôn V, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Tài khoản số 1036920037 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Hồ Thành S sinh ngày 17/7/2001, trú tại ấp T, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tài khoản số 19038909556013 ngân hàng TMCP K đăng ký tên Nguyễn Thị N2 sinh ngày 13/6/1963, trú tại thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Tài khoản số 1038920749 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Nguyễn Phúc H6 sinh ngày 27/3/1995, trú tại số F B, khóm B, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Kết quả xác minh những người đứng tên chủ các tài khoản trên hiện vắng mặt tại địa phương, đi đâu làm gì chính quyền địa phương không biết nên không có căn cứ để xác minh làm rõ:
  • - Tài khoản số 1030101994 ngân hàng TMCP S2 đăng ký tên Trần Thành L2 sinh ngày 30/10/1994, trú tại ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Tài khoản số 2677655756565 ngân hàng TMCP Q1 đăng ký tên Trần Vân Al sinh ngày 14/12/2003, trú tại số 74/1C LP1, thị trấn H, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Tài khoản số 28500137 ngân hàng TMCP Á1 đăng ký tên Lê Thị T6 sinh ngày 01/06/2002, trú tại xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Tài khoản số 1039016155 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Nguyễn Thị Bích T7 sinh ngày 07/7/1998, trú tại tổ A, ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Tài khoản số 1035841847 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Huỳnh Dương Thanh L3 sinh ngày 05/12/1993, trú tại B L, đường D, phường B, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Tài khoản số 1038499113 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Hoàng Thị Lê Na s1 ngày 22/8/2001, trú tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Tài khoản số 1880747 ngân hàng TMCP Á1 đăng ký tên Nguyễn Thanh V1 sinh ngày 20/5/1999, trú tại 9 Ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Tài khoản số 7076666668 ngân hàng TMCP K đăng ký tên Đỗ Văn M2 sinh ngày 25/8/1991, trú tại xóm Đ, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Tài khoản số 19038918756017 ngân hàng TMCP K đăng ký tên Nguyễn Thị Thúy N3 sinh ngày 30/8/1978, trú tại số C, tổ B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Tài khoản số 1030342849 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Bùi Thái V2 sinh ngày 31/8/2004, trú tại khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Tài khoản số 1032258304 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Nguyễn Hoài N4 sinh ngày 22/01/2002, trú tại ấp L, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Kết quả xác minh các chủ tài khoản trên không có mối quan hệ gì với Nguyễn Thị P và có đăng ký số tài khoản ngân hàng trên nhưng không sử dụng nên không đủ căn cứ để xử lý .
  • - Tài khoản số 9765416355 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Huỳnh Quốc B1 sinh ngày 25/8/1968, trú tại số A B, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Tài khoản số 1015917878 ngân hàng TMCP N6 được đăng ký mang tên Đỗ Đức V3 sinh ngày 16/2/1997, trú tại thôn D, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tài khoản số 1023412279 ngân hàng TMCP N6 được đăng ký mang tên Nguyễn
  • Minh H7 sinh ngày 20/9/1998, trú tại: 5, L, phường A, quận G, TP .. Tài khoản 1035644656 ngân hàng TMCP N6 được đăng ký mang tên Nguyễn Huỳnh L4 sinh ngày 27/9/1996, trú tại số A, đường T, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Qua xác minh tại các địa chỉ trên không ai có có tên, tuổi theo đăng ký chủ tài khoản không đủ căn cứ để xác minh.
  • - Tài khoản số 1039790770 ngân hàng TMCP N6, tài khoản số 8505072007 ngân hàng TMCP K và tài khoản số [...] ngân hàng TMCP C1 đăng ký tên Lương Quỳnh P3 sinh ngày 05/7/2007, trú tại xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Kết quả xác minh Lương Quỳnh P3 không có mối quan hệ gì với Nguyễn Thị P, Lương Quỳnh P3 đã đăng ký các tài khoản số ngân hàng rồi cho một nam thanh niên không quen biết và không sử dụng. Do vậy, không đủ căn cứ để xử lý Lương Quỳnh P3;
  • - Tài khoản số 9345729463 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Đỗ Văn L5, sinh ngày 16/04/1966, trú tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, kết quả xác minh, Đỗ Văn L5 khai nhận không có mối quan hệ gì với Nguyễn Thị P, chưa từng đăng ký tài số tài khoản ngân hàng trên
  • - Tài khoản số 1036607086 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Nguyễn Thị C sinh ngày 01/01/1963, trú tại xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Kết quả xác minh Nguyễn Thị C khai nhận đầu năm 2023 có đăng ký tài khoản ngân hàng trên rồi đưa cho con dâu là Nguyễn Thị H8 sinh năm 1999, trú tại xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh sử dụng để bán hàng. Nguyễn Thị H8 sử dụng tài khoản ngân hàng trên đến tháng 5/2023 thì không tiếp tục sử dụng. Nguyễn Thị C và Nguyễn Thị H8 đều không có mối quan hệ gì với Nguyễn Thị P. Do vậy, không đủ căn cứ để xử lý Nguyễn Thị C và Nguyễn Thị H8;
  • - Tài khoản số 1040000346 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Hoàng Văn N5 sinh ngày 01/12/1985, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Hoàng Văn N5 khai nhận có đăng ký tài khoản ngân hàng TMCP N6 nhưng do không có nhu cầu sử dụng nên giữa tháng 8/2023 đã cho Lưu Văn T8 sinh ngày 22/5/1987, trú tại thôn S, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để sử dụng. Xác minh đối với Lưu Văn T8 xác định T8 có nhận thông tin tài khoản ngân hàng do Hoàng Văn N5 cung cấp để đăng ký nhận lương của công ty nhưng do không được duyệt nên T8 không sử dụng tài khoản ngân hàng trên. Hoàng Văn N5 và Lưu Văn T8 không có mối quan hệ gì với Nguyễn Thị P. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý Hoàng Văn N5 và Lưu Văn T8.
  • - Tài khoản số 1035664911 ngân hàng TMCP N6 đăng ký tên Đỗ Quốc T9 sinh ngày 26/10/2002, trú tại số D đường Đ, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh nhưng không có địa chỉ 441/86/19 Đ, phường A, B, TP . nên không đủ căn cứ để xác minh.
  • - Trong quá trình đánh bạc trực tuyến trên mạng Internet, Nguyễn Thị P đã nhiều lần nạp tiền vào tài khoản đánh bạc. Tuy nhiên trước khi đăng xuất khỏi tài

khoản thì P đã thua hết số tiền đã nạp. Do vậy, không có căn cứ buộc P phải nộp lại số tiền đã sử dụng để đánh bạc. Đối với số tiền 1.170.681 đồng còn lại trong tài khoản đánh bạc của P. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã cho P thực hiện thao tác rút tiền về tài khoản ngân hàng nhưng không đăng nhập được tài khoản, do vậy, không truy thu được số tiền trên.

- Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị P trong các lần đăng nhập: Từ hồi 13 giờ 12 phút ngày 05/9/2023 đến 15 giờ 30 phút ngày 05/9/2023; Từ hồi 14 giờ 39 phút ngày 06/9/2023 đến 16 giờ 30 phút ngày 06/9/2023; Từ hồi 14 giờ 50 phút ngày 07/9/2023 đến 0 giờ ngày 08/9/2023; Từ hồi 10 giờ 53 phút ngày 09/9/2023 đến 17 giờ 45 phút ngày 09/9/2023; Từ hồi 19 giờ 2 phút ngày 09/9/2023 đến 23 giờ 05 phút ngày 10/9/2023; Từ hồi 08 giờ 34 phút ngày 10/9/2023 đến 11 giờ 30 phút ngày 10/9/2023; Từ hồi 19 giờ 08 phút ngày 10/9/2023 đến 20 giờ 30 phút ngày 10/9/2023. Quá trình điều tra xác định, P không có tiền án, tiền sự về các tội quy định tại Điều 321, 322 Bộ luật Hình sự và số tiền sử dụng để đánh bạc trong các lần đăng nhập trên đều dưới 5.000.000 đồng, do vậy hành vi trên của P chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Công an thành phố N xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thị P về hành vi Đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định.

[4] Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a c, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo P bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH P4 là 314.610.000 đồng. Bị cáo P tự nguyện nộp 50.000.000 đồng bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền này. Do đó bị cáo P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 264.610.000 đồng x 5% = 13.230.500 đồng
  • - Quyền kháng cáo: bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Tham ô tài sản” và tội “Đánh bạc”.
  2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 07 (bảy ) năm tù về tội “Tham ô tài sản”.

    Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 03 (ba) năm tù về tội “ Đánh bạc ".

    Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của 2 tội thành hình phạt chung là 10 (mười ) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 12/9/2023 .

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải bồi thường cho Công ty TNHH P4 314.610.000 đồng (ba trăm mười bốn triệu sáu trăm mười nghìn đồng), xác nhận bị cáo Nguyễn Thị P đã bồi thường 50.000.000 đồng (năm mươi mười triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000428 ngày 22/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình. Bị cáo Nguyễn Thị P còn phải bồi thường tiếp số tiền 264.610.000 đồng (hai trăm sáu mươi bốn triệu sáu trăm mười nghìn đồng) cho Công ty TNHH P4.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s màu đen, có số IMEI 1: 350835010531270, số IMEI 2: 354741430531278, lắp sim 0968193640.
  5. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Công an thành phố N và Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố N).

  6. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và các điểm a c, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị P phải nộp 200.000
  7. đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 13.230.500 đồng (mười ba triệu hai trăm ba mươi nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  8. Quyền kháng cáo: bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/7/2024); người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Ninh Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - Chi cục THA DS thành phố Ninh Bình;
  • - Cơ quan điều tra và Cơ quan THAHS
  • Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm (tham ô tài sản và đánh bạc)

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tham ô tài sản và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P phạm tội Tham ô tài sản và Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger