Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày: 30-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Trung.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Bùi Văn Thảng - Cán bộ hưu trí, Thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục.
  2. Bà Trần Thị Minh Lệ - Thanh tra pháp chế Sở Y tế tỉnh Quảng Trị.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Trần Văn T, tên gọi khác: không có; sinh ngày 20 tháng 7 năm 1996 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Số C đường N, khóm D, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Trần Thị T2, sinh năm 1963; có vợ Lê Thị Thu H, sinh năm 1996 và 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2022).

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/9/2024 đến nay; có mặt.

  2. Họ tên: Seng Kham, tên gọi khác: không có; sinh ngày 02 tháng 01 năm 2008 tại nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào; nơi cư trú: bản P, huyện S, tỉnh Savannakhet, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân L1; nghề nghiệp: lái thuyền; trình độ học vấn: không học văn hoá; dân tộc: Phu Thay; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Lào; con ông P, sinh năm 1983 và bà B, sinh năm 1984; vợ con: chưa có.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2024 đến nay; có mặt.

- Người đại diện của bị cáo Seng K: Bà Nguyễn Thị Lập X - chuyên viên Ban Xây dựng đoàn, tỉnh Đoàn Quảng Trị; địa chỉ: Số A H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Seng K: Ông Trần Đại N - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q; địa chỉ: Số D T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị T2, sinh năm 1963; địa chỉ: Số C đường N, khóm D, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người phiên dịch: Ông Bùi Văn T3; địa chỉ: đường L, khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 09/6/2024, Trần Văn T đang đậu 02 chiếc thuyền tại bờ sông S, khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì một người đàn ông lái thuyền chở một người phụ nữ đến gặp T, hỏi thuê 02 chiếc thuyền của T để vận chuyển đường kính trắng từ bản K, huyện S, tỉnh Savanakhet, Lào về khóm T, thị trấn L, huyện H. T hỏi người phụ nữ số lượng đường kính trắng là bao nhiêu, tiền công trả như thế nào, người phụ nữ trả lời vận chuyển khoảng 400 bao đường kính trắng, mỗi bao có khối lượng 50 kg, tiền công vận chuyển là 400.000 kip Lào. T ước lượng 02 chiếc thuyền của T có thể chở được khoảng 200 bao đường kính trắng/chiếc nên đồng ý. T dùng dây thừng buộc đầu và đuôi 02 chiếc thuyền với nhau, rồi nổ máy một chiếc thuyền, kéo theo chiếc thuyền còn lại đi theo thuyền của người phụ nữ vượt qua biên giới Việt Nam - Lào trên sông S đến bờ sông thuộc địa phận đến bản Ka Tup.

T đậu thuyền sát bờ sông, một số người lái xe máy chở các bao đường kính trắng đi từ bản Ka Tup xuống bờ sông và bốc lên 02 chiếc thuyền của T. Lúc này T ngồi trên thuyền để chỉ cho những người này sắp xếp các bao đường kính trắng lên thuyền. Sau khi 02 chiếc thuyền đã chất đầy các bao đường kính trắng, người phụ nữ bảo T cứ ngồi trên thuyền chờ, khi nào thấy bên kia bờ sông P có người gọi, ra tín hiệu bằng đèn pin và nhìn thấy có công nhân xuống thì lái thuyền chở đường kính trắng qua sông S đến bến T, huyện H giao hàng, rồi quay lại bản Ka Tup để nhận tiền công.

T ngồi chờ trên thuyền khoảng 1 tiếng, nhưng vẫn không thấy tín hiệu giao hàng. Vì muốn về nhà sớm nên T sử dụng ứng dụng Messenger trên điện thoại gọi điện thuê Seng K đến bản K, huyện S, tỉnh Savannakhet, Lào lái 02 chiếc thuyền chở đường kính trắng qua Việt Nam cho T, với tiền công là 200.000 kíp Lào, Seng K đồng ý.

T đậu 02 chiếc thuyền tại bản Ka Tup rồi đi nhờ thuyền qua sông S, đi bộ đến nhà bố vợ T tại khóm T, cách bờ sông khoảng 100 mét, rồi lấy xe mô tô chạy lên đường mòn gần cửa khẩu L2 gặp Seng K đang đứng chờ bên đường. T chở Seng K đến nhà bố vợ T tại khóm T để xe mô tô tại đây, trên đường Đ mua một sim điện thoại đưa cho Seng K dùng để liên lạc với T, đồng thời T nộp cho Seng K 30.000 đồng vào sim điện thoại.

Sau khi để xe tại nhà bố vợ T, T và Seng K đi bộ xuống bờ sông S và đi nhờ thuyền qua sông đến bản Ka Tup. Đến nơi, T chỉ cho S 02 chiếc thuyền đã chất đầy đường kính trắng và bảo Seng K chờ khi nào nhìn thấy phía bên bờ sông V có người gọi ra tín hiệu bằng đèn pin thì lái thuyền chở đường kính trắng qua giao. Sau đó, T đi nhờ thuyền để trở về Việt Nam.

Seng Kham ngồi trên 02 chiếc thuyền chờ đến khoảng gần 22 giờ cùng ngày thì nhìn thấy trên bờ sông S phía Việt Nam có người gọi và ra tín hiệu bằng đèn pin nên lái thuyền vượt qua sông S để vận chuyển đường kính trắng vào Việt Nam. Do 02 thuyền được cố định vào nhau bằng dây thừng nên Seng K nổ máy 01 chiếc thuyền và kéo theo chiếc thuyền còn lại. Sau khi Seng K điều khiển thuyền đến bờ sông S thuộc địa phận Việt Nam thì có 05 người đàn ông gồm: Hồ Văn M, Nguyễn Văn L, Nguyễn Mạnh T4, Nguyễn H1, Nguyễn Ngọc A đến chuẩn bị bốc các bao đường đưa lên bờ sông; khoảng 10 phút sau thì bị Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Q phát hiện bắt quả tang, Seng K không xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ hợp pháp của hàng hóa.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS tỉnh Q xác định: 402 bao đường kính có khối lượng 20.100 kg trị giá 361.800.000 đồng.

Cáo trạng số 92/CT-VKSQT-P1 ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Trần Văn T, Seng K về tội: “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Văn T và Seng K phạm tội “Vận chuyển trái phép hành hóa qua biên giới”.

- Về hình phạt:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 189; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS; xử phạt bị cáo Trần Văn T: Từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 BLHS; xử phạt bị cáo Seng K hình phạt tù bằng thời gian tạm giữ, tạm giam và trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

  • Tịch thu sung quỹ: Số đường trắng còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu Iphone.
  • Trả lại cho bà Trần Thị T2: 02 thuyền gắn động cơ.
  • Tịch thu tiêu huỷ: 02 sợi dây thừng; 01 sim điện thoại (của bị cáo Seng K) số thuê bao 0776.823.782.
  • Trả lại cho bị cáo Seng K: 01 sổ hộ khẩu.

- Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo Trần Văn T: bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải việc mình gây ra; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ đau ốm, con còn nhỏ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hồi lạm lại cuộc đời, giúp đở vợ con, gia đình.

Ý kiến bị cáo Seng K và người đại diện của bị cáo: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Seng K: Đồng ý với Cáo trạng của VKSND tỉnh Quảng Trị truy tố đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt. Đề nghị xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, phát hiện và bắt giữ, xử lý đối với Trần Văn T; bị cáo không được học văn hóa nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo hình phạt tù mức án bằng thời gian tạm giam và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Ý kiến của bà Trần Thị T2 - người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đề nghị HĐXX trả lại cho bà T2 02 chiếc thuyền máy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện và người bào chữa của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai nhận hành vi của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Ngày 09/6/2024, Trần Văn T và Seng K đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 402 bao đường trắng, tổng khối lượng 20.100kg không có hóa đơn chứng từ hợp pháp từ Lào qua Việt Nam nhằm mục đích hưởng tiền công.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Quảng Trị xác định: 402 bao đường kính có khối lượng 20.100 kg, trị giá 361.800.000 đồng.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Trần Văn T, Seng K về tội: “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới” theo điểm b khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện vì mục đích vụ lợi nên cần xử lý nghiêm.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

- Tình tiết tăng nặng:

  • Bị cáo Trần Văn T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS.
  • Bị cáo Seng K không phải chịu tình tiết tặng nặng TNHS.

- Tình tiết giảm nhẹ:

  • Bị cáo Trần Văn T: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị bệnh động kinh, có 2 con nhỏ (con lớn nhất 8 tuổi, con nhỏ nhất 02 tuổi) (có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn L), nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
  • Bị cáo Seng K: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, phát hiện và bắt giữ, xử lý đối với Trần Văn T; bị cáo không được học văn hóa, là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Bị cáo Trần Văn T là người nhận lời vận chuyển đường kính trắng, trực tiếp thoả thuận, nhận đường, sử dụng 2 thuyền để vận chuyển đường; đồng thời thuê Seng K vận chuyển nên bị cáo T có vai trò cao hơn bị cáo Seng K. Bị cáo thực hiện hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, với mục đích hưởng tiền công vận chuyển nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo bằng hình phạt tiền là hình phạt chính để bị cáo có trách nhiệm nộp tiền vào ngân sách Nhà nước là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cũng đủ sức răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo Seng K là đồng phạm trong vụ án với vai trò thực hành, được T thuê lái thuyền chở đường từ bản Ka Túp qua sông S về Việt Nam để nhận tiền công. Bị cáo được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xử phạt bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên (từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi), bị cáo không có thu nhập và tài sản riêng nên không xử phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo mà cần áp dụng khoản 1 Điều 101 BLHS để xử phạt bị cáo mức án không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định. Do đó, chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt tù bằng thời gian tạm giữ, tạm giam (04 tháng 23 ngày) là đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa.

[6]. Về biện pháp ngăn chặn:

Do bị cáo Trần Văn T và bị cáo Seng K đang bị tạm giam nhưng bị cáo T bị xử phạt tiền là hình phạt chính, bị cáo Seng K bị xử phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam nên cần áp dụng Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định trả tự do cho các bị cáo tại phiên tòa nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

[7]. Về những đối tượng có liên quan:

  • Đối với người phụ nữ thuê T chở hàng: Cơ quan điều tra đã thực hiện các biện pháp điều tra nhưng chưa xác định được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
  • Đối với Hồ Văn M, Nguyễn Văn L, Nguyễn Mạnh T4, Nguyễn H1 và Nguyễn Ngọc A là những người bốc vác đường, quá trình điều tra xác định những người này không biết đến việc vận chuyển trái phép đường kính từ Lào về Việt Nam, nên không xem xét xử lý.
  • Đối với hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất nhập cảnh của Trần Văn T và S: cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Phòng quản lý XNC Công an tỉnh Q để xử lý.

[8]. Về xử lý vật chứng:

  • Đối với số đường trắng còn lại sau giám định: Đây là hàng hóa vận chuyển trái phép vào Việt Nam nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bị cáo Seng K dùng để trao đổi với T để vận chuyển hàng hoá nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • Đối với 02 chiếc thuyền có gắn động cơ: Đây là tài sản riêng của bà Trần Thị T2; bà T2 không biết việc Trần Văn T và Seng K sử dụng để vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới nên cần trả lại cho bà T2.
  • Các sợi dây thừng dùng để buộc 02 chiếc thuyền lại với nhau là công cụ phạm tội, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • Đối với 01 sổ hộ khẩu: cần trả lại cho bị cáo Seng K.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Seng K phạm tội: “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới”.
    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 35 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 328 BLTTHS, xử phạt bị cáo Trần Văn T số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 189; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 BLTTHS, xử phạt bị cáo Seng K 04 tháng 23 ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/6/2024.
    • Trả tự do cho bị cáo Trần Văn T và Seng Kham ngay tại phiên toà nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • * Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
      • - Đường kính trắng, số lượng: 30 bao; đặc điểm: Trên mỗi bao bì có ghi chữ: MITR PHOL, SINGBURI SUGAR CO., LTD, Product of T5; mỗi bao có khối lượng 50kg, tổng khối lượng 1.500 kg (Một nghìn năm trăm ki lô gam). (có 01 bao bị rách bì).
      • - Đường kính trắng, số lượng: 52 bao; đặc điểm: Trên mỗi bao bì có ghi chữ: EARWAN SUGAR, REFINED SUGAR, Product of T5, mỗi bao có khối lượng 50 kg, tổng khối lượng là: 2.600 kg (Hai nghìn sáu trăm ki lô gam).
      • - Đường kính trắng, số lượng: 68 bao; đặc điểm: Trên mỗi bao bì có ghi chữ: MITR PHOL, MITR KALANSIN SUGAR CO., LTD, Product of T5; mỗi bao bì có khối lượng 50 kg, tổng khối lượng 3.400 kg (Ba nghìn bốn trăm ki lô gam).
      • - Đường kính trắng, số lượng 249 bao; đặc điểm: Trên mỗi bao bì có ghi chữ: ERAWAN SUGAR, REFINED SUGAR, Product of Thailand, mỗi bao bì có khối lượng 50 kg, tổng khối lượng: 12.450 kg (Mười hai nghìn bốn trăm năm mươi ki lô gam). (Có 02 bao bị rách bao bì).
      • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng - bạc, (không kiểm tra được số IMEI 353842087298418 do máy không khởi động lên được), bên trong có gắn 01 sim có chữ và số: VNSKY 8401240112337833 (không kiểm tra được số thuê bao 0776.823.782 do máy không khởi động lên được), máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy.
    • * Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) sợi dây thừng màu xanh và đỏ, dài 7,1 mét, đường kính 1,5cm, ở giữa được buộc thắt nút, cố định mối nối bằng dây thép; 01 (một) sợi dây thừng xanh và đỏ, dài 3,5 mét, đường kính 1cm.
    • * Trả lại cho bị cáo Seng K: 01 (một) sổ có chữ nước ngoài gồm 24 trang (theo bản dịch tiếng Việt là sổ hộ khẩu).
    • * Trả lại cho bà Trần Thị T2:
      • - 01 (một) thuyền máy (được ký hiệu thuyền A): Thuyền được làm bằng gỗ và kim loại, xung quanh thân thuyền không có ký hiệu, ký số hay chữ viết; mũi thuyền nhọn; chiều dài thuyền (từ mũi thuyền đến đuôi thuyền): 19,7 mét; chiều rộng boong chính: 2,58 mét; chiều cao mạn: 0,62 mét; chiều rộng đuôi thuyền: 2,5 mét; phía đuôi thuyền có mái che (sử dụng 04 trụ gỗ làm giá đỡ, phần mái lợp bằng bạt màu xanh). Thuyền có gắn động cơ ngoài nối với cánh quạt dạng chân vịt, động cơ được gắn tại đuôi thuyền, trên động cơ không có thông tin về nước sản suất, công suất, nhãn hiệu, có ghi dòng chữ “5AB873665".
      • - 01 (một) thuyền máy (được ký hiệu thuyền B): Thuyền được làm bằng gỗ và kim loại, xung quanh thân thuyền không có ký hiệu, ký số hay chữ viết; mũi thuyền nhọn; chiều dài thuyền (từ mũi thuyền đến đuôi thuyền): 18 mét; chiều rộng boong chính: 2,17 mét; chiều cao mạn: 0,54 mét; chiều rộng đuôi thuyền: 2,14 mét; phía đuôi thuyền có mái che (sử dụng 04 trụ gỗ làm giá đỡ, phần mái lợp bằng bạt màu xanh). Thuyền có gắn động cơ ngoài nối với cánh quạt dạng chân vịt, động cơ được gắn tại đuôi thuyền, trên động cơ không có thông tin về nước sản suất, công suất, nhãn hiệu, có ghi dòng chữ “5A4254664".
      • (02 chiếc thuyền trên hiện đã giao cho UBND thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị bảo quản theo công văn số 1218/CSKT ngày 25 tháng 10 năm 2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q).

    (Các vật chứng trên hiện có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn T và Seng K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện và người bào chữa cho bị cáo Seng K có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Trị;
  • - CA tỉnh Quảng Trị;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo;
  • - NTGTT khác;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Lưu: HSVA, TỔ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Việt Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T cùng Seng K vận chuyển trái phép hành hóa qua biên giới
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger