|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 102/2024/HS-ST Ngày: 09-9- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Đăng Tuấn
- 2. Bà Trần Thị Nơi
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Trung Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: bà Hoàng Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn N, sinh ngày 30/3/1984 tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N1, sinh năm 1963 và bà Đoàn Thị K, sinh năm 1959; vợ là: chị Đỗ Thị Bích H, sinh năm 1986 và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2012; tiền sự, tiền án: Không.
Nhân thân: bản án số 1985/HSST ngày 22/11/2004 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và bản án số 171/HSPT ngày 21/02/2005 của Toà Phúc thẩm, Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Phạm Văn N 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; đã chấp hành xong.
Bị tạm giữ từ ngày 03/5/2024, đến ngày 08/5/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
2
(Bị cáo có mặt tại phiên toà)
- Người làm chứng:
- + Anh Phạm Đình P, sinh năm 1980
- + Anh Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1980
Đều cư trú: thôn M, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình
(Anh P và anh H1 đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 03/5/2024, tại đoạn đường liên thôn thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, Công an huyện H kiểm tra phát hiện Phạm Văn N đang có hành vi cất giấu tại túi quần bên phải, phía trước đang mặc 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1529 gam; N khai gói ma túy trên mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) tại khu vực ngã tư G, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Công an huyện H đã niêm phong gói ma túy trên trước sự chứng kiến của anh Phạm Đình P và anh Nguyễn Tiến H1. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn N, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Bản kết luận giám định số 602/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của phòng K1 công an tỉnh T, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1529 gam.
Bản cáo trạng số 106/CT-VKSHH ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố Phạm Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có chứa chất ma tuý hoàn lại sau giám định.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
3
Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và có lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Hồi 11 giờ ngày 03/5/2024, tại đoạn đường liên thôn thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo Phạm Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,1529 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng và toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, bị cáo Phạm Văn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
- Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
.....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của
4
nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Từ những căn cứ trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định; bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc ma tuý do không xác định được danh tính của đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 gói giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất ma túy hoàn lại sau khi giám định, cần tịch thu để tiêu huỷ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu để tiêu huỷ: 0,1024 gam Heroine hoàn mẫu vật gửi giám định và bao gói trong phong bì niêm phong số 602/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T.
Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều
5
tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày 21/8/2024.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án
Bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thế Hùng |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nh phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
