|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA Bản án số: 102/2024/HS-ST Ngày 11 - 6 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Quang Mạnh và Hà Thị Chum.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Giàng A T, sinh 31/12/1979; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản Lọng Cang, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: chưa qua đào tạo; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Giàng A Q (Giàng Cháng Q1), sinh 1962 và bà Tráng Thị S (đã chết); có vợ Tráng Thị M, sinh 1980 và 02 con, con lớn nhất sinh 2005, con nhỏ nhất sinh 2001; tiền sự: không; tiền án: Ngày 23/7/2021 bị Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La, xử phạt 19 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Nguyễn Phương V, là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; có mặt.
- Người phiên dịch: Vàng Thị D, nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 10 phút, ngày 12/01/2024, tại bản L, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Tổ công tác Công an xã N làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính đối với Giàng A T; đấu tranh tại chỗ Thánh giao nộp 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng và khai nhận cục bột màu trắng là ma tuý. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền.
Giàng A T khai nhận: khoảng 18 giờ ngày 09/01/2024 có nam thanh niên (không biết họ tên, địa chỉ) đến xin ngủ nhờ đến khoảng 8 giờ ngày 10/01/2024, T tỉnh dậy thấy nam thanh niên sử dụng ma tuý liền hỏi và mua ma tuý với số tiền 30.000VNĐ cất giữ mục đích để sử dụng và bán kiếm lời; trước khi bị phát hiện, ngày 01/01/2024 có Cà Văn P đến nhà hỏi “có ma tuý không”, T trả lời “có” và bán trái phép chất ma tuý cho Cà Văn P lần thứ nhất được số tiền 300.000VNĐ và đến ngày 11/01/2024 được bán trái phép chất ma tuý cho Cà Văn P lần thứ hai được số tiền 1.200.000VNĐ; số ma tuý bán cho P là mua của người không biết họ tên, địa chỉ.
Ngày 12/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Phòng K Công an tỉnh S, tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ khi bắt quả tang Giàng A T như sau: Cục bột màu trắng trong gói nilon màu trắng có khối lượng là 0,10 gam, lấy ra 0,03 gam làm mẫu giám định ký hiệu T. Còn lại: 0,07 gam ký hiệu T1, 01 mảnh nilon màu trắng niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.
Ngày 15/01/2024 Phòng K Công an tỉnh S có Kết luận giám định số: 337/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,10 gam; loại Heroine”.
Tiến hành điều tra đối chất với Cà Văn P, xác định: Phóng có được mua trái phép chất ma tuý 02 lần để về bán lại cho người khác, phù hợp với lời khai của T; ngày19/01/2024 P đã bị khởi tố, điều tra về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thực hiện điều tra, xác minh đối với người bán trái phép chất ma túy cho T nhưng không thu thập được tài liệu khác ngoài lời khai của T.
Bản cáo trạng số 67/CT-VKS-ML ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Giàng A T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội với mục đích mua ma túy cất giữ để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời thì bị bắt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố bị cáo Giàng A T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng A T từ 08 đến 09 năm tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu và tiêu hủy: 0,07 gam Heroine, 01 mảnh nilon; tịch thu, truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000VNĐ; áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn tiền án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo T tranh luận: đồng ý với nội dung cáo trạng và lời khai bị cáo đã trình bày; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự thú; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn hiểu biết về đời sống xã hội và pháp luật hạn chế; nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không phạt bổ sung với bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; miễn tiền án phí cho bị cáo; các nội dung khác nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đối đáp tranh luận đều giữ nguyên ý kiến tranh luận; Bị cáo không bổ sung bào chữa, tranh luận; bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: Khoảng 06 giờ 10 phút, ngày 12/01/2024, tại bản L, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Tổ công tác Công an xã N làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện Giàng A T cất giữ 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng và khai nhận đó là ma tuý, cất giữ để sử dụng và bán kiếm lời, thực tế T đã bán trái phép chất ma tuý cho Cà Văn P lần thứ nhất vào ngày 01/01/2024 được số tiền 300.000VNĐ và lần thứ hai ngày 11/01/2024 được số tiền 1.200.000VNĐ thì bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại kết luận giám định số 337/KL-KTHS, ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,10 gam; loại Heroine”. Như vậy, Giàng A T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 0,10 gam chất ma túy để sử dụng cho bản thân và bán trái phép chất ma tuý cho Cà Văn P 02 lần để kiếm lời là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: b) Phạm tội 02 lần trở lên”.
[4] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo được Đảng và Nhà nước tuyên truyền, cải tạo giáo dục rèn luyện bản thân, được tái hoà nhập cộng đồng nhưng không thấy đó làm bài học để tiếp tục tu dưỡng, rèn luyện mà ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, nhằm mục đích tư lợi cá nhân, kiếm lời dễ dàng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo không chỉ cất giấu, cất giữ trái phép chất ma túy mà còn bán trái phép chất ma túy hai lần; tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành, hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương mà còn làm ảnh hưởng đến chính sách về cải tạo, giáo dục người phạm tội của Nhà nước, ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư: Ngày 23/7/2021 bị Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xử phạt 19 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 17/10/2022 về địa phương nhưng đến ngày 12/01/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự, bị cáo chưa được xoá án tích và theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự thì T đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đã phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (bị cáo chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt); bị cáo tự thú (đã khai ra hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phóng 02 lần). Do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân lao động, người dân tộc thiểu số, sống ở vùng ba, nhận thức pháp luật hạn chế, cần giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy) nên cần cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.
[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: bị cáo không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 12/01/2024 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[9] Đối với Cà Văn P đã bị khởi tố, điều tra về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, cũng như lời khai của T về việc họ tự ý sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà của T; Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không thu thập được tài liệu khác ngoài lời khai của T nên không có cơ sở chứng minh, xử lý theo vụ án.
[10] Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy mẫu giám định 0,03 gam Heroine không hoàn lại mẫu giám định nên không có cơ sở xử lý.
Hiện đang lưu kho vật chứng: 0,07 gam Heroine ký hiệu T1 thu giữ của Giàng A T còn lại là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 mảnh nilon màu trắng bị cáo T đã sử dụng làm phương tiện cất giữ trái phép chất ma tuý là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số tiền bị cáo đã bán bán trái phép chất ma túy có được tổng cộng 1.500.000VNĐ là số tiền do phạm tội mà có, bị cáo đã chi tiêu hết nên cần phải truy thu, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo xin miễn nộp tiền án phí; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Giàng A T 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (12/01/2024); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 0,07 gam Heroine ký hiệu T1; 01 mảnh nilon của Giàng A T.
Truy thu, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000VNĐ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của Giàng A T.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sơn La).
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hoà |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giang A T, Mua bán trái phép chất ma túy
