|
TAND HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 102/2024/HS-ST Ngày: 06-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Định
Ông Hoàng Xuân Dũng
Thư ký phiên tòa: Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST- HS ngày 23/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A T - Sinh năm 19xx.
Nơi cư trú: Bản T1, xã T1, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng Nhìa T2 - sinh năm 19xx và bà Giàng Thị M - sinh năm 19xx; Bị cáo có vợ thứ nhất là Sùng Thị D đã ly hôn; Vợ thứ 2 Giàng Thị P - sinh năm 20xx; bị cáo có 07 con. Con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Gia đình bị cáo có 09 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2024 cho đến nay (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh Hạnh - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 20/4/2024, Vàng A T, sinh năm 1983, xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông lạ mặt từ nhà ở của T tại bản T1, xã Tả Tổng, huyện Mường Tè đến bản Cô Lô Hồ, xã T1 để tìm mua Heroine về sử dụng. Tại bản Cô Lô Hồ, xã T1 T đi vào nhà Hạng A Lình để hỏi mua Heroine, tại đây T mua được của Lình 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 200.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được Heroine, T cất giấu trong túi áo bên phải mà T đang mặc rồi xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông lạ mặt, quay về nhà ở bản T1, xã T1. Về đến nhà, T lấy gói Heroine ra trích lấy một ít sử dụng hết, số còn lại T gói lại như cũ và cất giấu trong túi quần bên phải mà T đang mặc không cho ai biết, T luôn mang theo người để tiện cho việc sử dụng.
Đến hồi 09 giờ ngày 21/4/2024, khi T đang một mình đi bộ trong bản T1, xã T1 thì bị tổ công tác Công an xã T1 phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số Heroine nêu trên của T. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 36/KLGĐ ngày 21/4/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện Mường Tè, đã kết luận: 01 Mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Giàng A T có khối lượng là 0,43 gam.
Tại bản kết luận giám định số 470/KL-KTHS ngày 24/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận đối với vật chứng thu giữ của Giàng A T: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKS-MT ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu đã truy tố Vàng A T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Vàng A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" xử phạt bị cáo Vàng A T mức án từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì công văn do Công an xã T1 phát hành.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, đồng ý với quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Mường Tè, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:
Xét lời khai nhận của bị cáo Vàng A T tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 21/4/2024, tại bản T1, xã T1, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Vàng A T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,43 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã T1, huyện Mường Tè phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Vàng A T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ trái phép 0,43 gam Heroine để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy "theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo Vàng A T chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là người nghiện chất ma túy.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trong quá trình công tác tại UBND xã T1 bị cáo đã đạt danh hiệu lao động tiên tiến nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
Do bị cáo là người nghiện chất ma túy, hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, gia định thuộc diện hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng của vụ án: 0,43 gam Heroine cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Tè đã gửi toàn bộ đi giám định không hoàn lại mẫu vật, việc gửi vật chứng đi giám định là phụ hợp với quy định của pháp luật. 01 mảnh nilon màu hồng là vật bị cáo dùng vào việc phạm tội; 01 phong bì công văn do Công an xã T1 phát hành dùng để niêm phong vật chứng đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về những vấn đề khác:
Theo lời khai của Vàng A T: Số Heroine T tàng trữ là mua của Giàng A Linh, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Lình và đối chất giữa Lình và T nhưng Lình không thừa nhận việc bán Heroine cho T, ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ khác nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét xử lý đối với Giàng A Lình.
Đối với 02 người đã cho bị cáo đi nhờ xe: Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
[7]. Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình là hộ nghèo của xã nên cần miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Tuyên bố bị cáo Vàng A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vàng A T 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/4/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì công văn do Công an xã T1 phát hành.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Tè với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè được lập vào hồi 10 giờ 40 phút ngày 21 tháng 8 năm 2024)
- Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đới Xuân Huy |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ....
