Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EA H'LEO

TỈNH ĐĂK LĂK

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày: 06-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAH'LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Cường
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tiến Dũng và ông Nguyễn Khắc Vũ.
  • Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên toà: Ông Trinh Văn Hai - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T, sinh ngày 17/02/2007; Tại tỉnh Đăk Lăk; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979 và bà Mai Thị C, sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E bắt tạm giữ từ ngày 24/6/2024, đến ngày 03/7/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện E. Có mặt

Người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979, bà Mai Thị C, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo: Bà H'Mlen M – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ. Có mặt

Bị hại: Ông Hoàng T2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Vi Ngọc C1, sinh năm 2008. Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

1

Người đại diện hợp pháp của anh C1 đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị L, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 17/6/2024, Nguyễn Anh T, sinh ngày 17/02/2007 đi từ Thôn A, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk đến nhà Vi Ngọc C1, sinh năm 2008, nơi thường trú: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk ở và chơi tại nhà của C1. Sáng ngày 24/6/2024, do bản thân đang nợ số tiền 6.000.000 đồng nhưng không có tiền trả, nên T nảy sinh ý định tìm kiếm tài sản để trộm bán lấy tiền trả nợ. Vào khoảng 12 giờ cùng ngày, T mượn xe mô tô biển số 47AB-236.00 của C1 đi từ nhà C1 ra khu vực chợ K 92, thuộc Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì thấy tiệm V có một mình ông Hoàng T2 đứng ở cửa hàng nên T nảy sinh ý định Cướp giật tài sản, T điều khiển xe mô tô biển số 47AB-236.00 đi vào trong chợ dựng xe ở gần đó rồi đi bộ ra tiệm V. Tại đây, T gặp và nói với ông T2 là muốn mua 01 vòng kim loại màu vàng loại lớn, ông T2 nói giá trị là 10.000.000 đồng thì T không đồng ý mua. Sau đó, T nói ông T2 lấy cho 01 nhẫn hình tròn kim loại màu vàng, loại vàng 9999 và 01 dây chuyền kim loại màu vàng, loại vàng Tây cho T xem. Sau khi ông T2 đưa vàng cho T cầm xem thì T đồng ý mua và nói ông T2 tính tiền. Lợi dụng việc ông T2 không để ý khi lấy máy tính để tính tiền, T đã cầm nhẫn và dây chuyền bỏ chạy, thấy vậy ông Thảo t dốc Heo hô và cùng một số người dân đuổi theo T. Khi T bỏ chạy đến khu vực thuộc Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì bị ông T2 cùng một số người dân bắt giữ giao cho Công an xã E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tang vật thu giữ: 01 nhẫn kim loại màu vàng, 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng, 01 xe mô tô biển số 47AB-236.00 cùng đăng ký xe mô tô; 01 điện thoại di động Iphone 6.

Tại kết luận giám định ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Công ty Cổ phần V1 Chi nhánh P, kết luận: 01 nhẫn kim loại màu vàng, có hình tròn là nhẫn kim loại vàng, hàm lượng vàng 99.99%, trọng lượng thực tế là 1.0 chỉ; 01 dây chuyền kim loại màu vàng có ký hiệu NC 9K là kim loại vàng, hàm lượng vàng 41.86% (tương đương vàng 10K), trọng lượng thực tế 0,73 chỉ.

Tại kết luận định giá tài sản 76/KL-HĐĐGTS ngày 28/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện E, kết luận: Nhẫn có ghi ký hiệu “MY NGỌC CHUNG, 1C, 9999, BẢO, KM92” có giá trị vào ngày 24/6/2024 là 7.430.000 đồng; Dây chuyền vàng có ghi ký hiệu “NC 9K” có giá trị vào ngày 24/6/2024 là 2.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 10.030.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo truy tố để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 khoản 2, Điều 51, Điều 91,

2

khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/06/2024.

Về xử lý vật chứng: Khi bắt quả tang bị cáo, Công an xã E đã tạm giữ 01 điện thoại di động Iphone 6; 01 xe mô tô biển số 47AB – 236.00 và đăng ký xe mô tô; 01 nhẫn kim loại màu vàng có ghi ký hiệu “Mỹ Ngọc Chung”, 1C, 9999, BẢO, KM92'; 01 dây chuyền kim loại màu vàng có ghi ký hiệu “NC9K". Quá trình điều tra đã làm rõ xe mô tô biển số 47AB-236.00 và đăng ký do bà Trần Thị L đứng tên đăng ký chủ sở hữu, cho Vi Ngọc C1 mượn, ngày 24/6/2024 bị cáo mượn xe mô tô sử dụng vào mục đích phạm tội bà L và C1 không biết nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại cho bà L; Đối với 01 nhẫn kim loại vàng có ghi ký hiệu “MY NGỌC CHUNG, 1C, 9999, BẢO,, điều tra KM92”; 01 dây chuyền kim loại vàng có ghi ký hiệu “NC 9K” Cơ quan đã ra quyết định trả lại cho ông Hoàng T2, là các chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 là của ông Nguyễn Văn T1 (cha của bị cáo) do không liên quan đến sự việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại cho ông T1.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn T1 đã đến gặp ông Hoàng T2 thỏa thuận và bồi thường 500.000 đồng cho ông T2, sau khi nhận lại tài sản ông T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự.

Bị cáo không có ý kiến gì về cáo trạng và cũng không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo khẳng định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, xét về nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 khoản 2, Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự, xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

Kiểm sát viên đối đáp: Đại diện VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và mức hình phạt đã đề nghị đối với bị cáo.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa về cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập lưu tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Do cần tiền trả nợ và ý thức xem thường pháp luật. Vào khoảng 12 giờ ngày 24/6/2024, tại tiệm V thuộc Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Anh T đã có hành vi gian dối muốn mua vàng để ông Hoàng T2 chủ tiệm vàng giao 01 nhẫn kim loại vàng, 01 dây chuyền kim loại vàng cho T xem, sau khi nhận được tài sản thì T cầm bỏ chạy nhằm chiếm đoạt tài sản của ông T2 thì bị ông T2 và một số người dân bắt quả tang giao cho Công an xã E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tài sản bị chiếm đoạt có trị giá 10.030.000 đồng.

Tại Điều 171 Bộ luật hình sự như sau:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ngoài việc xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, làm cho người dân hoang mang, lo lắng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo phải nhận thức được hành vi phạm tội của bị cáo bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do lười làm động muốn có tiền tiêu xài cùng với ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhằm tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật và nhằm giao dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo đối với bị cáo: Nguyễn Anh T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xét về nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên nhận thức pháp luật có

4

phần hạn chế, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội. Vì vậy, xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình.

Về trình bày của người bào chữa cho các bị cáo cơ bản đều thống nhất việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự sự là đúng người, đúng tội. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Người nhà của bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được về bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 500.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên cần công nhận sự thỏa thuận trên.

[5]. Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E giao trả 01 nhẫn kim loại vàng có ghi ký hiệu “MY NGỌC CHUNG, 1C, 9999, BẢO,, điều tra KM92”; 01 dây chuyền kim loại vàng có ghi ký hiệu “NC 9K” cho ông Hoàng T2, là các chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với xe mô tô biển số 47AB-236.00 và đăng ký do bà Trần Thị L đứng tên đăng ký chủ sở hữu, cho Vi Ngọc C1 mượn, ngày 24/6/2024 bị cáo mượn xe mô tô sử dụng vào mục đích phạm tội bà L và C1 không biết nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại cho bà L.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 là của ông Nguyễn Văn T1 (bố của bị cáo) do không liên quan đến sự việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại cho ông T1.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 khoang 2, Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/06/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả 01 nhẫn kim loại vàng có ghi ký hiệu “MY NGỌC CHUNG, 1C, 9999, BẢO,, điều tra KM92”; 01 dây chuyền kim loại vàng có ghi ký hiệu “NC 9K” cho ông Hoàng T2, là các chủ sở hữu hợp pháp.

Giao trả 01 xe mô tô biển số 47AB-236.00 cho bà Trần Thị L là chủ sở hữu; Giao trả 01 điện thoại di động Iphone 6 cho ông Nguyễn Văn T1.

3. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận việc gia đình bị cáo và bị hại đã thỏa thuận và bồi thường 500.000 đồng cho ông T2, sau khi nhận lại tài sản và tiền bồi

5

thường ông T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự.

4. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đăk Lăk;
  • - Viện KSND huyện Ea H'Leo;
  • - Công an huyện Ea H'Leo;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Ea H'Leo;
  • - Chi cục THADS huyện Ea H'Leo;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Xuân Cường

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐĂK LĂK về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐĂK LĂK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh Tài 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/06/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger