Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 102/2024/HS-PT

Ngày 28 tháng 8 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.

Các Thẩm phán:

  • - Ông Võ Đình Phương;
  • - Bà Lê Thị Hạng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Trương Công V và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Trương Công V – sinh năm 1972, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lái xe trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn B và bà Hà Thị M; có vợ và có 02 (hai) người con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01151/QĐ-XPHC ngày 03 tháng 7 năm 2023, Công an thị xã N, tỉnh Khánh Hòa phạt TRương Công Vinh 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân”.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Trương Công T – sinh năm 1974, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn B và bà Hà Thị M; có vợ và có (02) hai người con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

Có mặt tại phiên tòa.

3. Trương Văn T1 – sinh năm 1986, tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn B và bà Hà Thị M; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Văn T2 – Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 27 tháng 5 năm 2022, ông Nguyễn Văn N và ông Võ D đang ngồi nhậu tại nhà ông Trương Văn C ở thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa thì Trương Công V đến nhậu cùng và xảy ra mâu thuẫn giữa V với ông N, V dùng tay đánh nhiều cái vào mặt ông N làm chảy máu. Được mọi người can ngăn V bỏ về.

Một lúc sau, ông Trương H đến thấy ông N bị thương tích và nghe nói bị V đánh nên ông H đi trình báo Công an xã N. Ông H dựng xe mô tô biển số 79F5–6886 trước nhà ông C để chở ông N đi điều trị vết thương thì bị Trương Công T (em ruột của V) ngăn cản, đạp ngã làm vỡ bửng xe và đòi đánh ông H, ông H chạy vào sân nhà ông C, T đuổi theo vào sân đánh ông H. Cùng lúc V và Trương Văn T1 (em ruột của V) đang ở nhà kế bên chạy sang, cả 03 người dùng tay đánh nhiều cái vào người ông H. Ông Nguyễn Minh H1 là em rể của V can ngăn, ông H chạy ra sau nhà ông C. V và T1 đuổi theo nên ông H chạy ngược ra đường. T1 cầm theo 01 cây gỗ dài khoảng 1m cùng V đuổi theo. Khi đến đoạn đường trước nhà bà Ngô Thị Thanh T3, T1 cầm cây gỗ nhảy lên ngồi xe mô tô ông Lê Hùng M1 đuổi theo sau đánh ông H nhưng không trúng.

Tiếp đó, V dùng xe mô tô biển số 79H1–610.25 rượt đuổi tông vào ông H nhưng ông H né được và tiếp tục chạy vào nhà ông Nguyễn Văn B1 thì T1, V tiếp tục đuổi đánh, ông H chạy ra cổng thì gặp T chặn lại vật ngã xuống đất. T1 dùng cây gỗ, V và T dùng tay, chân đánh nhiều cái vào người ông H gây thương tích, ông H vùng bỏ chạy và trình báo Công an xã N.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 345/TgT-TTPY ngày 01 tháng 8 năm 2022, Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh K kết luận: Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của ông Trương H là 13%.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 347/TgT-TTPY ngày 01 tháng 8 năm 2022, Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh K kết luận: Tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn N là 01%.

Tại Kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 11 năm 2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự T luật: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 79F5–6886 là 108.000 đồng (một trăm lẻ tám nghìn đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa quyết định:

  • - Áp dụng các điểm c, đ khoản 2 (dẫn chiếu các điểm a và i khoản 1) Điều 134 các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Công V;
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 (dẫn chiếu các điểm a và i khoản 1) Điều 134 các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trương Văn T1Trương Công T;
  • - Xử phạt bị cáo Trương Công V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; Trương Văn T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù và Trương Công T 02 (hai) năm tù cùng về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 03 tháng 4 năm 2024, các bị cáo Trương Công V, Trương Công TTrương Văn T1 có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm giảm hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử:
  • + Không áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 về tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” đối với bị cáo Trương Công V.
  • + Giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo và không cho các bị cáo được hưởng án treo.
  • - Người bào chữa cho các bị cáo, Luật sư Lê Văn T2 nêu quan điểm: đề nghị hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa để điều tra lại, do cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng, cụ thể:
  • + Kết luận giám định thương tích đối với vết thương bị gãy xương trụ của bị hại không căn cứ vào Giấy chứng nhận thương tích (không ghi nhận bị hại bị gãy xương trụ) mà căn cứ vào hồ sơ bệnh án là không đảm bảo tính khách quan.
  • + Cơ quan điều tra thu thập vật chứng là cây gỗ dài gần 1 mét và cho rằng đây là cây gỗ bị cáo T1 dùng đánh bị hại trong khi không có chữ ký của bị cáo T1 trong biên bản thu giữ là không có cơ sở.
  • - Các bị cáo thống nhất với quan điểm bào chữa của Luật sư Lê Văn T2, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Các bị cáo kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên nội dung kháng cáo của các bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận những hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án cùng với các chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt bị cáo Trương Văn T1 đã có hành vi dùng cây gỗ là hung khí nguy hiểm cùng với Trương Công TTrương Công V dùng tay chân đánh vào người gây thương tích cho ông Trương H với tỷ lệ tổn thương cơ thể 13%. Hành vi đó của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 (dẫn chiếu các điểm a và i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác, gây mất trật tự xã hội. Các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với thái độ hết sức hung hãn, quyết liệt truy đuổi để đánh cho bằng được bị hại T, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; phạm tội có tính chất côn đồ nên phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo.

Đối với bị cáo Trương Công V, ngoài việc cùng Trương Văn T1Trương Công T gây thương tích cho ông Trương H, V còn gây thương tích cho ông Nguyễn Văn N 1%. Tình tiết này cần được xem xét khi lượng hình đối với bị cáo nhưng cấp sơ thẩm lại áp dụng là tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo là chưa chính xác. Bởi lẽ: Theo tinh thần hướng dẫn tại tiểu mục 3.2 mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự, thì tình tiết phạm tội hai lần trở lên được áp dụng khi bị cáo thực hiện tội phạm đối với cùng một người. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị không áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo V là có căn cứ. Mặc dù vậy, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo V là không nặng, việc loại bỏ một tình tiết định khung cũng không làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị cáo; bản thân bị cáo V trước khi xét xử còn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, bị xử phạt vi phạm hành chính. Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh tình tiết mới nên không có cơ sở để giảm hình phạt cho bị cáo V.

Đối với Trương Văn T1Trương Công T, cùng với việc áp dụng tình tiết tăng nặng “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” như Trương Công V, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đã xem xét về nhân thân, đánh giá tính chất và mức độ phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng. Quá trình tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ để giảm án cho T1V.

Đối với quan điểm bào chữa của Luật sư Lê Văn T2 đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, Hội đồng xét xử thấy: Qua kiểm tra toàn diện các chứng cứ và thủ tục tố tụng của cấp sơ thẩm, việc giám định thương tích của bị hại của Cơ quan giám định là đúng trình tự, các giấy chứng nhận thương tích của bị hại (bút lục 43, 55) đều thể hiện bị hại bị gãy 1/3 dưới xương trụ phải phù hợp với hồ sơ bệnh án và kết quả cận lâm sàn khi giám định. Cơ quan điều tra khi thu giữ cây gỗ vật chứng không có chữ ký của bị cáo T1, nhưng các lời khai của T1 trong hồ sơ vụ án và tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm trước sau đều nhất quán thừa nhận T1 dùng cây gỗ đánh bị hại, phù hợp với thương tích trên người bị hại nên việc điều tra để xác định lại vật chứng là không cần thiết. Do đó, không có cơ sở để hủy án sơ thẩm để điều tra lại theo đề nghị của người bào chữa và các bị cáo.

[3]. Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 343; Điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trương Công V, Trương Văn T1Trương Công T; giữ nguyên bản án sơ thẩm:

  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 (dẫn chiếu các điểm a và i khoản 1) Điều 134 các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trương Công V, Trương Văn T1Trương Công T,
  • - Xử phạt bị cáo Trương Công V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
  • - Xử phạt bị cáo Trương Văn T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
  • - Xử phạt bị cáo Trương Công T 02 (hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

2. Về án phí:

  • - Bị cáo Trương Công V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  • - Bị cáo Trương Văn T1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  • - Bị cáo Trương Công T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 8 năm 2024).

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND thị xã Ninh Hòa;
  • - VKSND thành thị xã Ninh Hòa;
  • - Cơ quan điều tra - Công an thị xã Ninh Hòa;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự - Công an thị xã Ninh Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 102/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Công Vinh và đồng phạm gây thương tích cho bị hại Trương Hưng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger