Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 102/2024/HS-PT

Ngày: 25/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Nguyệt.

Bà Lê Thu Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Bùi Thị Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 141/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 do Bản án sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, đối với:

* Bị cáo kháng cáo: Họ và tên: Lê Viết Đ, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1971, tại xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Lê Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị K1 (SN 1944); Có vợ là Lê Thị H (SN 1972) và 04 con (lớn nhất SN 1990, nhỏ nhất SN 1997); Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo tại ngoại (có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (không kháng cáo):

  1. Anh Vi Văn X - Sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn C, xã C, N, Thanh Hóa (vắng mặt).
  2. Anh Ngân Văn H1 - Sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn A, xã C, N, Thanh Hóa (vắng mặt).
  3. Anh Quách Văn T - Sinh năm 1986 (vắng mặt).
  4. Anh Lương Văn H2 - Sinh năm 1987 (vắng mặt).

Đều trú tại thôn Đ, xã C, N, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 03/01/2024 Cơ quan CSĐT - Công an huyện N nhận được nguồn tin từ anh Lương Văn H2, tố giác Lê Viết Đ có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Quá trình điều tra xác định trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến cuối năm 2023, Lê Viết Đ đã cho anh Lương Văn H2, anh Ngân Văn H1, anh Quách Văn T và anh Vi Văn X vay với mức lãi suất cao vượt quá quy định của pháp luật. Cụ thể:

1. Đối với anh Lương Văn H2 (SN 1987); trú tại thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa: Ngày 25/3/2022 dương lịch, anh H2 vay Lê Viết Đ số tiền 50.000.000đ với mức lãi suất là 4.600.000đ/ tháng. Để đảm bảo cho việc anh H2 có trách nhiệm trả nợ lãi và nợ gốc, Lê Viết Đ có yêu cầu anh H2 và vợ anh H2 là chị Lương Thị V phải mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng của nhà anh H2 đến cho Đ giữ và làm giấy tờ thể hiện việc chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất rừng cho Đ. Sau khi vay tiền của Đ, anh H2 trả lãi không đều nên Đ có yêu cầu anh H2 phải viết thêm đơn trả lại đất rừng để anh H2 có trách nhiệm trong việc trả nợ. Sau khi viết giấy, anh H2 đã trả lãi cho Đ đúng hạn hơn, ít khi nợ lãi. Tính đến ngày 25/12/2022 âm lịch (tức ngày 16/01/2023 dương lịch), anh H2 đã trả cho Đ tổng cộng 46.000.000₫ tiền lãi trong 10 tháng và toàn bộ số tiền gốc trên. Khi anh H2 đến trả nợ gốc cho Đ thì được Đồn trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vào thời điểm đó, anh H2 có mua chịu của Đ một máy cưa với giá là 5.000.000₫ nên Đ vẫn giữ lại các giấy tờ về việc chuyển nhượng đất đồi để làm tin, đảm bảo cho việc anh H2 có trách nhiệm trả tiền cưa cho Đ. Như vậy thời gian các bên thoả thuận tính lãi là 10 tháng, số tiền lãi đã trả là 46.000.000₫ (lãi suất 110,4%/năm) gấp 5,52 lần so với quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự (BLDS). Số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là 8.333.333đ, số tiền lãi thu vượt quy định là 37.666.667₫.

2. Đối với anh Ngân Văn H1 (SN 1982); trú tại thôn A, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa: Vào ngày 12/5/2023 âm lịch (tức ngày 29/6/2023 dương lịch), anh H1 có đến vay Lê Viết Đ số tiền là 15.000.000đ, hẹn một vài ngày sẽ trả. Do là chỗ thân quen mà thời gian vay ngắn, số tiền vay nhỏ nên ban đầu Đồn không tính lãi đối với anh H1. Tuy nhiên sau đó, do anh H1 không trả được nợ gốc cho Đ như đã hẹn nên Đ đã áp mức lãi suất đối với khoản vay của anh H1 là 1.500.000đ/tháng, (mỗi tháng tính bằng 30 ngày) và có thông báo cho anh H1 biết. Trong thời gian vay nợ Đồn từ ngày 29/6/2023 đến ngày 28/12/2023, anh H1 đã trả cho Đ tổng số tiền lãi là 9.000.000đ vào số tài khoản 105875584137 mở tại ngân hàng V1 của Đ. Sau khi Lê Viết Đ bị khởi tố, bắt tạm giam, anh H1 đã mang số tiền gốc là 15.000.000₫ gửi cho bà Lê Thị H (vợ của Đ) để trả cho Đ. Như vậy thời gian các bên thoả thuận tính lãi là 06 tháng, số tiền lãi đã trả là 9.000.000₫ (lãi suất 120%/năm) gấp 06 lần so với quy định tại Điều 468 BLDS. Số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là 1.500.000đ, số tiền lãi thu vượt quy định là 7.500.000₫.

3. Đối với anh Quách Văn T (SN 1986); trú tại thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa: Vào tháng 5/2021, Lê Viết Đ có cho anh Quách Văn T vay số tiền 30.000.000₫ và thỏa thuận, thống nhất mức lãi suất là 5000đ/1.000.000đ/01 ngày (trả lãi theo tháng, tính mỗi tháng bằng 30 ngày). Khi cho vay, Đ có yêu cầu anh T và mẹ đẻ là bà Quách Thị T1 viết giấy chuyển nhượng cây trồng trên đất rừng cho Đ được quyền khai thác cây trồng trên đất để gạt nợ nếu anh T không có khả năng trả nợ. Sau khi vay tiền của Đ, anh T đi làm ăn xa và có liên lạc với Đ để xin số tài khoản để chuyển khoản tiền lãi cho Đ thì ngày 17/6/2021, Đồn gửi số tài khoản 102001391327 mở tại ngân hàng V1 của con trai ĐLê Viết Đ1 cho anh T. Sau đó anh T có chuyển khoản 05 lần vào tài khoản của Đ1 với tổng số tiền là 32.600.000đ. Sau đó, do anh T không có khả năng chi trả tiền lãi hay tiền gốc cho Đ nữa nên Đ có đến tìm gặp bà T1 để đòi nợ và thông báo cho bà T1 biết: nếu anh T không chịu trả nợ gốc và nợ lãi thì Đ sẽ khai thác cây trồng trên đất đồi nhà bà T1 như đã thỏa thuận trước đó. Đến cuối tháng 02/2023, bà T1 đã mang 60.000.000đ tiền mặt đến trả cho Đ, bao gồm 30.000.000đ tiền gốc và 30.000.000đ tiền lãi theo yêu cầu của Đ. Số tiền lãi 30.000.000₫ được Đ tính cùng với số tiền 32.600.000đ để thu lãi của anh T trong thời gian vay là 21 tháng chứ không tính cụ thể số tiền lãi phải trả theo từng tháng như đã thỏa thuận trước đó. Khi bà T1 trả số tiền trên cho Đ thì Đ đã đưa lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T1 và tự hủy các hợp đồng, giấy tờ, thủ tục mà bà T1 và anh T đã làm, ký kết với Đ vào thời điểm vay. Như vậy thời gian các bên thoả thuận tính lãi là 21 tháng, số tiền lãi đã trả là 62.600.000₫ (lãi suất 119,24%/năm) gấp 5,962 lần so với quy định tại Điều 468 BLDS. Số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là 10.500.000đ, số tiền lãi thu vượt quy định là 52.100.000₫.

4. Đối với anh Vi Văn X (SN 1986); trú tại thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa: Đầu tháng 11/2022, anh X có đến vay Lê Viết Đ số tiền mặt là 10.000.000đ. Tại thời điểm vay tiền, Đồn không yêu cầu anh X phải viết giấy tờ hay thế chấp tài sản gì mà chỉ yêu cầu anh X mỗi tháng phải trả cho Đ 1.000.000đ tiền lãi. Từ thời điểm vay cho đến ngày 15/12/2023, anh X đã trả lãi đầy đủ cho Đ 13 tháng lãi với tổng số tiền là 13 triệu đồng vào số tài khoản 105875584137, mở tại ngân hàng V1 của Đ. Sau mỗi lần trả lãi cho Đ thì anh X đều nhắn tin qua Zalo cho Đ biết và xác nhận. Hiện tại anh X vẫn còn nợ lại Đồn toàn bộ số tiền gốc trên. Như vậy thời gian các bên thoả thuận tính lãi là 13 tháng, số tiền lãi đã trả là 13.000.000₫ (lãi suất 119,24%/năm) gấp 5,962 lần so với quy định tại Điều 468 BLDS. Số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là 2.166.667đ, số tiền lãi thu vượt quy định là 10.833.333đ. Tính đến thời điểm Đồn bị phát hiện và bắt giữ thì Vi Văn X chưa trả xong 10.000.000₫ nợ gốc cho Đ.

Như vậy, Tổng số tiền lãi thực tế Lê Viết Đ đã nhận của những người vay trên là 130.600.000đ (một trăm ba mươi triệu, sáu trăm nghìn đồng). Trong đó tiền lãi phù hợp với lãi suất quy định Điều 468 BLDS là 22.500.000đ (hai hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Tiền lãi thu lợi bất chính của Lê Viết Đ là 108.100.000đ (một trăm lẻ tám triệu, một trăm nghìn đồng).

* Về vật chứng của vụ án: Quá trình khám xét nơi ở của Lê Viết Đ, Cơ quan CSĐT đã thu giữ được đồ vật, tài liệu tài liệu và đã được xử lý vật chứng như sau:

- Vật chứng đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh để bảo quản thi hành chừ xử lý, gồm: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại iPhone XS Max, màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0966.426.971, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại TA-1375, màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0982.583.195, đã qua sử dụng, là tài sản của Lê Viết Đ sử dụng vào việc phạm tội.

- Vật chứng được lưu kèm theo hồ sơ vụ án: 01 (một) Giấy chuyển quyền nhận khoán của Lương Văn H2 cho Lê Viết Đ đối với quyền nhận khoán diện tích 1,2 ha rừng tại lô A, khoảnh 7, tiểu khu E và Đơn xin tự nguyện trả lại diện tích rừng và đất rừng nhận khoán đề ngày 03/8/2022 của anh Lương Văn H2.

- Tài liệu, đồ vật không liên quan đến tội phạm, đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, gồm: 01 (một) giấy thoả thuận vay tiền đề ngày 29/3/2022 âm lịch, có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Bá N, Nguyễn Bá T2 và người làm chứng là Lê Thị H3Quách Văn T3; nội dung thể hiện: Ông Nguyễn Bá N, có địa chỉ tại thôn C, C, N, Thanh Hóa vay Lê Viết Đ số tiền 290.000.000đ từ ngày 29/3/2022 đến hạn trả là 29/9/2022 âm lịch; 01 (một) Bản photo Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 29/9/2022, mang tên Nguyễn Bá N; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số KD 8010313 do trung tâm đăng kiểm 36-05D cấp ngày 09/12/2021. Phương tiện Ô tô tải (tự đổ), biển kiểm soát 36M-7739; 01 (một) Đăng ký xe ô tô số 005279 do Công an tỉnh T cấp ngày 24/2/2009. Tên chủ xe: Lê Khắc K2 trú tại T, T, T, Thanh Hóa, nhãn hiệu: Chiến Thắng, loại xe: tải ben, màu xanh, biển kiểm soát 36M-7739; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số AD21/0058987 của xe ô tô BKS: 36M - 7739, mang tên Lê Khắc K2; 02 (hai) Sổ tiết kiệm có kỳ hạn mang tên Lê Thị H; 35 (ba lăm) chiếc nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng; Số tiền 533.800.000đ; 02 (hai) chiếc kiềng dạng đeo cổ bằng kim loại màu vàng; 01 (một) chiếc lắc tay bằng kim loại màu vàng; 01 chiếc dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 (một) dây cao su màu đen, hai đầu được bọc kim loại màu vàng, được gắn một hình răng động vật được bọc kim loại màu vàng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại iPhone7 Plus màu vàng, gắn thẻ sim số thuê bao: 0964.095.908, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại iPhone XR, màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao: 0355.572.106, đã qua sử dụng; 15 (mười lăm) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó 10 (mười) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Viết ĐLê Thị H, 02 (hai) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Bá N, 02 (hai) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Viết Đ1 và 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lê Thị H4.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo tự nguyện nộp 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để đảm bảo thi hành án. Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác của vụ án.

Bản án sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên Lê Viết Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Viết Đ 06 (sáu) tháng tù, được trừ đi 30 ngày tạm giữ, tạm giam. Phạt bổ sung bị cáo Lê Viết Đ 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng). Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 105.000.000₫ (một trăm linh năm triệu đồng) tiền bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội; trong đó, thu từ bị cáo Lê Viết Đ 95.000.000đ, truy thu từ anh Vi Văn X 10.000.000đ. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 22.500.000đ (hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiền do bị cáo phạm tội mà có. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, Lê Viết Đ có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) chấp nhận một phần kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được lỗi lầm, hứa không vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo và cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể: Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến cuối năm 2023, Lê Viết Đ đã thực hiện 04 giao dịch dân sự cho vay lãi nặng, thu lợi bất chính 108.100.000đ. Cụ thể: Cho anh Lương Văn H2 vay 50.000.000₫, lãi suất 110,4%/năm, gấp 5,52 lần so với quy định tại Điều 468 BLDS, số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là 8.333.333đ, số tiền lãi thu vượt quy định 37.666.667đ; cho anh Quách Văn T vay số tiền 30.000.000đ, lãi suất 119,24%/năm, gấp 5,962 lần so với quy định tại Điều 468 BLDS, số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là 10.500.000đ, số tiền lãi thu vượt quy định là 52.100.000đ; Cho anh Ngân Văn H1 vay 15.000.000đ, lãi suất 120%/năm, gấp 06 lần so với quy định tại Điều 468 BLDS, số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là 1.500.000đ, số tiền lãi thu vượt quy định là 7.500.000đ; cho anh Vi Văn X vay 10.000.000₫, lãi suất 119,24%/năm, gấp 5,962 lần so với quy định tại Điều 468 BLDS, số tiền lãi tối đa được thu theo quy định là 2.166.667đ, số tiền lãi thu vượt quy định là 10.833.333đ. Tổng cộng số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ 4 lần cho vay là 108.100.000₫ (một trăm lẻ tám triệu, một trăm nghìn đồng).

[2.1] Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự (BLHS). Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo như trên là có cơ sở pháp luật.

[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất ít nghiêm trọng. Tuy nhiên hành vi diễn ra trong thời gian dài, tại thời điểm loại tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến tín dụng đen có chiều hướng tăng đột biến, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. “Tín dụng đen” hoành hành khắp nơi khiến nhiều gia đình “tán gia bại sản”, không có khả năng trả nợ. Có những trường hợp phải bỏ nhà xa xứ và luôn sống trong tình cảnh lo sợ vì bị siết nợ. Thực trạng trên gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Do vậy, cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm mục đích trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

[3] Về nguyên nhân, điều kiện phạm tội, thấy rằng: Nguyên nhân, động cơ gây án xuất phát từ nhu cầu vốn của người dân rất lớn, trong khi các tổ chức tín dụng chưa đáp ứng được nhu cầu, dẫn đến tín dụng đen có đất phát triển, bởi lợi nhuận từ việc kinh doanh “tín dụng đen” rất lớn, là miếng mồi “béo bở” để các đối tượng làm ăn phi pháp, thu lợi nhuận bất chính.

[4] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo:

[4.1] Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện trả lại cho người vay toàn bộ số tiền thu lợi bất chính (108.100.000₫) và tự nguyện nộp trước 30.000.000₫ để đảm bảo thi hành án nên đã được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù là phù hợp.

[4.2] Tại cấp phúc thẩm bị cáo đã xuất trình thêm các tài liệu mới cụ thể: 02 (hai) giấy xác nhận tham gia ủng hộ Quỹ khuyến học và ủng hộ làm nhà ở cho người nghèo tại địa phương; Đơn xin xác nhận về việc đưa người bị tai nạn giao thông đi cấp cứu; Đơn xin giảm hình phạt (Chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương). Thấy rằng bản thân bị cáo có trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật rất hạn chế, phạm tội chỉ vì hám lời. Sau khi xét xử sơ thẩm, đã tự nguyện nộp đủ án phí sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), toàn bộ tiền phạt bổ sung là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) và toàn bộ số tiền bị truy thu để tịch thu sung ngân sách Nhà nước (số tiền là công cụ, phương tiện phạm tội) theo Biên lai thu tiền số 0002480 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá khi Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Điều đó thể hiện sự ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Bố đã mất sớm bản thân là lao động chính đang phải nuôi mẹ đẻ già yếu, vợ không có công việc hay thu nhập ổn định và 4 người con. Do đó cần áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo khi xem xét nội dung kháng cáo.

[4.3] Xét nguyên nhân, điều kiện hoàn cảnh gia đình, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. HĐXX nhận thấy tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Hơn nữa, hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, bản thân có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây ra nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn địa phương. Do đó cần áp dụng Điều 65 của BLHS, xem xét cho được hưởng án treo để bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước và sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời cũng nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo nhận thức, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh bản thân mà trở thành người công dân có ích cho xã hội. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.

[5] Từ phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên cần giữ nguyên. Tuy nhiên kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Viết Đ là có cơ sở chấp nhận. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị HĐXX áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bản án sơ thẩm tuyên phạt bổ sung bị cáo 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Trước khi xét xử phúc thẩm đã tự nguyện nộp 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng). Bị cáo đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung.

[7] Về xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: Số tiền dùng làm phương tiện phạm tội, tiền do phạm tội mà có và tiền phạt bổ sung bị cáo đã nộp đủ.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm thẩm: Bị cáo đã nộp đủ.

(Các khoản tiền Bản án sơ thẩm tuyên phải nộp và truy thu để tịch thu sung ngân sách Nhà nước, bị cáo đã nộp đủ tại Biên lai thu tiền số 0002480 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá).

[9] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[10] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận phần kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Viết Đ. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng: Khoản 2, khoản 3 Điều 201; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Viết Đ 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/6/2024).

Về số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm, tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo đã nộp đủ.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Viết Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - TAND, VKSND Cấp cao HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an H.Như Thanh, TH;
  • - TAND, VKSND H. Như Thanh, TH;
  • - Chi cục THADS H. Như Thanh, TH;
  • - Lưu hồ sơ vụ án. Lê Quốc Thành.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Quốc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-PT ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 102/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Viết D “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger