|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 102/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 12 - 2024. V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Danh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Oanh và Ông Đặng Văn Hai.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 393/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh P - sinh năm: 1984.
Địa chỉ: B, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Đặng Thị Bích P1 - Văn phòng L và Cộng sự, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp.
-
Bị đơn: Bà Trần Thị P2 - sinh năm: 1986.
Địa chỉ: 68/1, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyên đơn, bị đơn và Luật sư cùng có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, văn bản ý kiến ngày 17/9/2024 của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh P trình bày:
- - Về hôn nhân: Ông P và bà P2 có tìm hiểu và tự nguyện sống chung với nhau, có tổ chức đám cưới vào năm 2012 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; đến 2022 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình, quan điểm sống không phù hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; cuộc sống vợ chồng thường xuyên cự cãi, gây gổ. Vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 10/2022 cho đến nay. Nay ông P yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị Phi .
- - Về nuôi con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về chia tài sản chung và nợ chung: Ông P xác định là không có tài sản chung, không có nợ chung; không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung.
Tại Bản tự khai ghi ngày 06/11/2024, bị đơn là bà Trần Thị P2 trình bày:
- - Về hôn nhân: Bà P2 và ông P có tìm hiểu và tự nguyện sống chung với nhau, có tổ chức đám cưới vào năm 2012 nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc; đến 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên gây gổ, không có tiếng nói chung, không thương yêu, quan tâm lẫn nhau; bà P2 đã về nhà mẹ ruột sinh sống và sống ly thân cho đến nay.
- - Về nuôi con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà P2 xác định là không có tài sản chung, không có nợ chung; không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh P khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Trần Thị P2 là loại vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Quá trình tham gia tố tụng: Nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là Luật sư Đặng Thị Bích P1 và bị đơn là bà Trần Thị Phi C có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trường hợp vắng mặt của nguyên đơn, Luật sư và bị đơn không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt nguyên đơn, luật sư và bị đơn.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của ông Nguyễn Thanh P về việc yêu cầu ly hôn bà Trần Thị P2; Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông P và bà P2 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012, trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý...".
Đồng thời, tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. N, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.
Hội đồng xét xử xét thấy: Lẽ ra trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012 đến nay, ông P và bà P2 phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp, nhưng ông P và bà P2 đã không tuân thủ việc kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa ông P và bà P2 không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hơn nữa, trong quá trình chung sống như vợ chồng; giữa ông P và bà P2 đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên gây gổ, cự cãi với nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, không thể hàn gắn; vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2022 đến nay.
Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án; cả ông P và bà P2 cùng xác định là không còn tình cảm với nhau, cuộc sống hôn nhân giữa ông P với bà P2 không có hạnh phúc, không thể hàn gắn, không thể tiếp tục chung sống, ông P và bà P2 đều có nguyện vọng được ly hôn. Tuy nhiên, do ông P và bà P2 không có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không thể công nhận sự thuận tình ly hôn cho các đương sự.
Tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...”.
Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Hội đồng xét xử không công nhận ông Nguyễn Thanh P và bà Trần Thị P2 là vợ chồng.
- Về nuôi con chung, chia tài sản chung và nợ chung: Do các bên đương sự ông P và bà P2 cùng xác định là không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh P phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Thanh P và bà Trần Thị Phi .
- Về nuôi con chung, chia tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Thanh P nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, ông P đã nộp ngày 22/10/2024 theo biên lai thu số: 0014120 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ông Nguyễn Thanh P và bà Trần Thị P2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định./.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN
(ký tên, ghi rõ họ tên)(ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Duy O - Đặng Văn Hai |
Trần Quốc Danh TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
Nơi nhận:Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa
|
Trần Quốc Danh |
Bản án số 102/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 102/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
