|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 102/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05/8/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Dân
Bà Phạm Thị Sơn
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá, tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19/7/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1996, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã T, h. T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị T về việc giao nhận văn bản tố tụng của Toà án: Ông Lường Văn Đ, sinh năm 1997
Địa chỉ: G H, p. N, quận C, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Trịnh Đình H, sinh năm: 1993, vắng mặt.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 19/4/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Trịnh Đình H kết hôn với nhau năm 2016, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/02/2016, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa hợp, hạnh phúc. Sau đó, cuộc sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc.
Khoảng tháng 01/2020, anh H đi lao động tại Nhật Bản đến nay chưa về. Do khoảng cách xa nên vợ chồng không có thời gian quan tâm chia sẻ với nhau.
Đã nhiều lần chị liên hệ với anh H để đề nghị anh H cung cấp địa chỉ nơi ở hiện tại của anh H bên Nhật Bản để chị thực hiện thủ tục ly hôn, nhưng anh H liên tục gây khó dễ và không hợp tác. Vì vậy, chị không có thông tin, địa chỉ của anh H tại nước ngoài.
Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trịnh Đình H.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Trịnh Đình Hải N, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2016.
Hiện tại cháu đang ở với bố mẹ anh H tại Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu, không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản, công nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại các biên bản lấy lời khai, ông Trịnh Đình S và bà Đỗ Thị H1 – bố mẹ ruột của anh H trình bày:
Ông Trịnh Đình S và bà Đỗ Thị H1 là bố mẹ đẻ của anh Trịnh Đình H. Chị Trần Thị T là vợ anh Trịnh Đình H và là con dâu của ông bà. Năm 2016, anh H và chị T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Đến khoảng năm 2019, chị T và anh H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, để cháu Trịnh Đình Hải N là con chung của anh H và chị T cho vợ chồng ông, bà nuôi dưỡng. Năm 2024, chị T về Việt Nam, nhưng chỉ về thăm con 1 ngày sau đó chị T đi đâu thì ông bà không biết. Chị T có thông báo cho ông, bà về việc chị T làm đơn ly hôn anh H, ông bà khuyên vợ chồng nên đoàn tụ nhưng chị T vẫn kiên quyết ly hôn, anh H cũng biết về việc này; ông bà đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Vợ chồng anh H và chị T có một con chung là cháu Trịnh Đình Hải N, sinh ngày 22/7/2016. Nếu chị T và anh H ly H2, ông bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu N vì chị T từ hồi đến giờ không trực tiếp nuôi cháu N, ông bà không đồng ý để chị T nuôi cháu N. Vợ chồng anh H và chị T không có tài sản, công nợ chung.
Ông bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H ở Nhật Bản nên không thể cung cấp cho Tòa án nhưng ông bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh H nên ông bà đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh H.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị T, xử cho chị T được ly hôn anh Trịnh Đình H. Về con: Giao cháu Trịnh Đình Hải N, sinh ngày 22/7/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình.
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Chị Trần Thị T là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là anh Trịnh Đình Hải đăng K hộ khẩu tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống tại Nhật Bản. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Chị T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh H ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh H tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà Đỗ Thị H1 và ông Trịnh Đình S là bố mẹ đẻ của anh H trình bày không biết địa chỉ của anh H ở Nhật Bản. Tuy anh H thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Bà Đỗ Thị H1 và ông Trịnh Đình S vẫn thường xuyên liên lạc với anh H nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh H. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị T có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Trịnh Đình H mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Trịnh Đình H kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị T đều trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn và ly thân nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã không liên hệ với nhau, chị T không có địa chỉ của anh H tại Nhật Bản nên không cung cấp địa chỉ của anh H tại Nhật Bản cho Tòa án được. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị T được ly hôn anh H.
[2.2]. Về con chung: Anh H và chị T có 01 con chung là cháu Trịnh Đình Hải N, sinh ngày 22/7/2016. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Tuy cháu N có nguyện vọng xin được ở với bố, ông S và bà H1 cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu N. Xét thấy, chị T đã về Việt Nam và chị có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con là chính đáng vì hiện nay anh H đang lao động tại Nhật Bản không thể trực tiếp nuôi con được. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu, cần giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị T nên chấp nhận. Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh H không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về
tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh H yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3]. Về án phí: Chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp.
[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị T.
- Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Trịnh Đình H.
- Về con chung: Công nhận cháu Trịnh Đình Hải N, sinh ngày 22/7/2016 là con chung của chị Trần Thị T và anh Trịnh Đình H. Giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Trịnh Đình H có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản và công nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu số 326 ngày 24/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
3. Quyền kháng cáo:
Chị Trần Thị T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Trịnh Đình H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
Bản án số 102/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
- Số bản án: 102/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau ly hôn
