TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2024/DS-ST Ngày: 07-11-2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trung Thu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Viết Ngoan.
- Ông Tăng Tài Thủ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ:
Bà Phạm Ngọc Chi – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 945/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1015/2024/QĐST – DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S1.
Địa chỉ: Số B, P, phường N, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Quang L, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn:
- Ông Cao Châu P – Phó Giám đốc Chi nhánh T3. (Có mặt)
- Ông Nguyễn Văn T – Chức vụ: Trưởng phòng Kinh doanh. (Có mặt)
Địa chỉ: Số C, đường N, khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Theo văn bản ủy quyền số 255/GUQ-SGB ngày 14.9.2023 và số 21/GUQ-2023 ngày 21.12.2023).
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm: 1988. ( Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Bà Lê Trần Kim T1, sinh năm: 1992. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh Nhật H, sinh năm: 1995. (Vắng mặt)
- Bà Trần Ngọc H1, sinh năm: 1995. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số D đường số C, khu tái định cư Đ, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Ông Đặng Hoàng K, sinh năm: 1986. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, P, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 21.12.2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S1 là ông Nguyễn Văn T trình bày:
Vào ngày 25.5.2022, Ngân hàng thương mại cổ phần S1 (gọi tắt là Ngân hàng) có cho ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Trần Kim T1 vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số 317/2022/HĐTDTL– CN và Giấy nhận nợ số 318/2022/GNN ngày 26.5.2022 với các nội dung chính như sau: Số tiền vay vốn gốc là 2.700.000.000 đồng; thời hạn vay từ ngày 26.5.2022 đến ngày 25.5.2023; mục đích vay vốn bổ sung vốn kinh doanh lương thực; lãi suất trong hạn 10%/năm; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, trả lãi theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 25 của tháng theo dư nợ thực tế.
Để đảm bảo khoản vay, ông Huỳnh Nhật H và bà Trần Ngọc H1 đồng ý thế chấp cho Ngân hàng tài sản là quyền sử dụng đất theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 058/TCTS-2022 ký ngày 25.5.2022 là quyền sử dụng đất có diện tích 63,9m², thửa đất 334, tờ bản đồ số 35 và tài sản gắn liền trên đất là căn nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng là 49,1 m², diện tích sàn 49,1 m², hình thức sở hữu riêng, nhà cấp 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07433, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 07.06.2019 hiện do ông Huỳnh Nhật H đứng tên chủ sử dụng đất, đất tọa lạc tại 1, đường P, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Trong quá trình vay ông S và bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng, dù Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện về thời gian nhưng ông, bà vẫn không thực hiện. Nay nguyên đơn yêu cầu buộc ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Trần Kim T1 thanh toán cho nguyên đơn tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 07.11.2024 số tiền là 3.501.159.390 đồng, trong đó: nợ gốc là 2.700.000.000 đồng, lãi 801.159.390 đồng và ông S, bà T1 phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp ông S và bà T1 không trả nợ trên thì nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi tài sản của ông H, bà H1 đã thế chấp để bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng thế chấp ông S, bà T1, ông H và bà H1 đã ký để thu hồi nợ.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 30.7.2024 bị đơn ông Nguyễn Hoàng S trình bày:
Ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Trần Kim T1 là vợ chồng. Ngày 25.5.2022, ông và bà T1 có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S1 Hợp đồng tín dụng số 317/2022/HĐTDTL– CN và Giấy nhận nợ số 318/2022/GNN ngày 26.5.2022, để vay số tiền 2.700.000.000 đồng; thời hạn vay từ ngày 26.5.2022 đến ngày 25.5.2023; lãi suất trong hạn 10%/năm; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, phường thức cho vay từng lần. Ông và bà T1 đã nhận tiền vay bằng hình thức chuyển khoản, người đứng tên tài khoàn và nhận tiền vay là bà Lê Trần Kim T1. Để bảo đảm cho khoản vay của ông và bà T1 thì ông Huỳnh Nhật H và bà Trần Ngọc H1 đồng ý thế chấp quyền sử dụng đất và nhà cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 058/TCTS-2022 ký ngày 25.5.2022. Nay trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì ông đồng ý trả nợ. Trường hợp ông và bà T1 không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng thì ông đồng ý phát mãi tài sản thế chấp. Ngoài ra, do ông bận công việc nên xin vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng tại Tòa án các cấp.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06.9.2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Hoàng K trình bày:
Ông Huỳnh Nhật H có cho ông ở nhờ tại căn nhà địa chỉ số A, đường P, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Ông H có thế chấp căn nhà này cho Ngân hàng hay không thì ông không biết và cũng không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này. Ngoài ra, do ông bận công việc nên xin vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng tại Tòa án các cấp.
Về phía bị đơn bà Lê Trần Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Nhật H, bà Trần Ngọc H1 trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập bà T1, ông H và bà H1 tham gia tố tụng theo quy định pháp luật nhưng bà T1, ông H và bà H1 đều vắng mặt và cũng không cung cấp văn bản ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn hay yêu cầu gì cho Tòa án.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, theo yêu cầu của đương sự Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất 334, tờ bản đồ số 35 và tài sản gắn liền trên đất là căn nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng là 49,1 m², diện tích sàn 49,1m², nhà cấp 4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07433, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 07.06.2019 hiện do ông Huỳnh Nhật H đứng tên chủ sử dụng đất vị trí thực tế phù hợp giấy đất được cấp.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Trần Kim T1 phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày 07.11.2024 là 3.501.159.390 đồng, trong đó: nợ gốc là 2.700.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 28.210.762 đồng, lãi quá hạn là 768.834.246 đồng, lãi chậm thanh toán nợ lãi trong hạn là 4.114.382 đồng. Ông S, bà T1 phải tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 08.11.2024 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp ông S, bà T1 không trả nợ trên thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 058/TCTS-2022 ký ngày 25.5.2022 để thu hồi nợ. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Trần Kim T1 phải thanh toán số tiền nợ gốc 2.700.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, do trong quá trình thực hiện hợp đồng phía bị đơn không trả nợ gốc và lãi như đã cam kết nên Ngân hàng khởi kiện. Do đó, đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 trả tiền là 10.000.000 đồng, nên đây là quan hệ đòi lại tài sản mà tự ý nghỉ họcàthuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
[2] Về tố tụng: Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bị đơn đề tham gia hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được với bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Hoàng S, bà Lê Trần Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Hoàng K, ông Huỳnh Nhật H, bà Trần Ngọc H1 vắng mặt. Tuy nhiên, ông S và ông K có ý kiến xin được vắng mặt. Bị đơn bà Lê Thị Kim T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Nhật H, bà Trần Ngọc H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn tiếp tục vắng mặt, không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Xét hợp đồng tín dụng:
Theo tài liệu chứng cứ phía Ngân hàng thương mại cổ phần S1 cung cấp: Ngày 25.5.2022, ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Thị Kim T2 có vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần S1 theo Hợp đồng tín dụng số 317/2022/HĐTDTL– CN và Khế ước nhận nợ số 318/2022/GNN ngày 26.5.2022 có nội dung cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 2.700.000.000 đồng
- Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 26.5.2022 đến ngày 25.5.2023).
- Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh lương thực.
- Lãi suất vay và phương pháp tính lãi: lãi suất trong hạn 10%/năm; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, trả lãi theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 25 của tháng theo dư nợ thực tế. Trả nợ gốc khi tất nợ đến hạn.
Hợp đồng tín dụng nêu trên đã tuân thủ quy định của pháp luật về nội dung và hình thức, đã được thực hiện nên phát sinh hiệu lực. Mặc dù, Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ không có công chứng/chứng thực (hình thức hợp đồng không bắt buộc) nhưng đi kèm theo Hợp đồng tín dụng là Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm khoản vay đã được công chứng và đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, nên có giá trị chứng minh việc vay tiền nêu trên là có thật.
Quá trình giải quyết, bị đơn ông Nguyễn Hoàng S thừa nhận việc vay vốn Ngân hàng và đồng ý trả nợ, đây là chứng cứ không cần phải chứng minh. Đối với bà Lê Trần Kim T1 dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không có gửi tài liệu chứng cứ hay ý kiến, yêu cầu gì liên quan đến vụ án. Theo quy định về nghĩa vụ chứng minh tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
[3.2] Xét yêu cầu trả nợ gốc: Ngày 26.5.2022, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay gốc cho ông S, bà T1. Theo Khế ước nhận nợ thì bên vay phải trả nợ gốc và lãi khi đến hạn. Tuy nhiên, từ khi đến hạn cho đến nay, ông S và bà T1 không thanh toán nợ cho ngân hàng dù ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhỡ việc trả nợ. Nay Ngân hàng yêu cầu ông S và bà T1 phải có trách nhiệm trả số nợ gốc là 2.700.000.000 đồng. Xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và lời thừa nhận của ông S xác định số nợ gốc bị đơn chưa trả là đúng. Do đó, căn cứ vào Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ngân hàng buộc ông S và bà T1 phải trả số nợ gốc tính đến ngày 07.11.2024 là 2.700.000.000 đồng.
[3.3] Về yêu cầu trả tiền lãi: Theo Khế ước nhận nợ lãi suất cho vay trong hạn: 10% năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi chậm thanh toán đối với nợ lãi trong hạn là 10%/năm. Bên vay phải trả lãi vay định kỳ một tháng/lần vào ngày 25 của tháng, theo dư nợ thực tế. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 26.6.2022. Trong quá trình vay, tính đến ngày 25.5.2023 ông S và bà T1 đã trả cho Ngân hàng nợ lãi trong hạn là: 280.994.717 đồng. Từ đó về sau, ông bà không thanh toán nợ lãi cho ngân hàng. Xét thấy, do ông S và bà T1 đã vi phạm thỏa thuận tại Điều 3 của Hợp đồng tín dụng nên nay ngân hàng yêu cầu ông bà phải có trách nhiệm trả tổng số tiền lãi tính đến ngày 07.11.2024
là 801.159.390 đồng (trong đó lãi trong hạn là 28.210.762 đồng, lãi quá hạn là 768.834.246 đồng, lãi chậm thanh toán đối với nợ lãi trong hạn là 4.114.382 đồng) là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11.01.2019 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.4] Xét hợp đồng thế chấp:
Ngân hàng thương mại cổ phần S1 và ông Huỳnh Nhật H, bà Trần Ngọc H1 có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 058/TCTS-2022 ký ngày 25.5.2022, thế chấp quyền sử dụng đất có diện tích 63,9m² và tài sản gắn liền trên đất là căn nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng là 49,1 m², diện tích sàn 49,1 m², nhà cấp 4, thửa đất 334, tờ bản đồ số 35 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07433, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 07.06.2019 hiện do ông Huỳnh Nhật H đứng tên chủ sử dụng đất, đất tọa lạc tại 1, đường P, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật và được tiến hành đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền, nên có hiệu lực. Ông H, bà H1 không giao nộp tài liệu, chứng cứ phản đối yêu cầu của Ngân hàng. Ông K người hiện sử dụng căn nhà cũng xác định chỉ ở nhờ và không có yêu cầu gì. Qua xem xét thẩm định tại chỗ xác định các thửa đất thế chấp phù hợp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã cấp cho ông H.
Tại Điều 8 của Hợp đồng thế chấp có nội dung xử lý tài sản thế chấp khi đến hạn mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ quy định tại Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, trường hợp nếu ông S và bà T1 không trả được nợ vay thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử lý tài sản ông H, bà H1 thế chấp để thanh toán nợ cho Ngân hàng.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tài sản: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thẩm định tài sản với chi phí là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng). Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 3.500.000 đồng. Do yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí này và có trách nhiệm hoàn lại cho nguyên đơn số tiền 3.500.000 đồng theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
[6] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 26, 35, 39, 91, 157, 207, 227,228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11.01.2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Trần Kim T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 tổng số tiền tính đến ngày 07.11.2024 là 3.501.159.390 đồng (Ba tỷ năm trăm lẽ một triệu một trăm năm mươi chín ngàn ba trăm chín mươi đồng), trong đó: nợ gốc là 2.700.000.000 đồng, lãi trong hạn 28.210.762 đồng, lãi quá hạn 768.834.246 đồng, lãi chậm thanh toán đối với nợ lãi trong hạn là 4.114.382 đồng.
- Kể từ ngày 08.11.2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Thị Kim T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 317/2022/HĐTDTL– CN ngày 25.5.2022 và Khế ước nhận nợ số 318/2022/GNN ngày 26.5.2022.
- Trường hợp ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Trần Kim T1 không trả hết nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 058/TCTS-2022 ngày 25.5.2022 tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có diện tích 63,9m² và tài sản gắn liền trên đất là căn nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng là 49,1 m², diện tích sàn 49,1 m², nhà cấp 4, tại thửa đất 334, tờ bản đồ số 35 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07433, do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 07.06.2019 hiện do ông Huỳnh Nhật H đứng tên chủ sử dụng đất, đất tọa lạc tại 1, đường P, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ để thu hồi nợ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tài sản: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Trần Kim T1 phải nộp số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm ngàn đồng). Nguyên đơn đã tạm nộp xong số tiền trên nên bị đơn có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng S và bà Lê Trần Kim T1 phải chịu số tiền 102.023.188 đồng (Một trăm lẽ hai triệu không trăm hai mươi ba ngàn một trăm tám mươi tám đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt.
Ngân hàng thương mại cổ phần S1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 46.337.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu ba trăm ba mươi bảy ngàn đồng) đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0005343 ngày 03.5.2024.
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Thị Trung Thu |
Bản án số 102/2024/DS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 102/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
