Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Q

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 102/2023/HS-ST

Ngày 28 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoa
2. Ông Tạ Văn Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thẩm tra viên chính.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên tòa:

Ông Đoàn Hữu Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 93/2023/TLHS - ST ngày 24 tháng 10 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với;

- Bị cáo Vũ Danh T, sinh năm 1990; Nơi cư trú: thôn B, xã H, huyện Q, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông: Vũ Danh Khang, sinh năm 1960; con bà: Hoàng Thị Lưỡng, sinh năm 1959; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có hai anh em bị cáo là con lớn; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 15/2009/HSST ngày 14/12/2009 của Tòa án nhân dân huyện Q xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (trị giá tài sản lừa đảo 5.200.000 đồng). Chấp hành xong án phạt tù ngày 08/10/2010; đã nộp án phí tại biên lai số 3608 ngày 27/03/2013; Bản án sơ thẩm số 341/2012/HSST ngày 27/07/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 12 năm tù về tội Giết người; Bản án số 615/2012/HSPT ngày 09/11/2012 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội - Tòa án nhân dân tối cao sửa bản án sơ thẩm xử phạt 10 năm tù về tội Giết người. Chấp hành xong án phạt tù ngày 16/07/2020; đã nộp án phí theo biên lai số 42886 ngày 09/04/2010; Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 28/07/2023. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Số giam: 4069C2 Buồng 6. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1959; nơi cư trú: Đồi Phủ, thôn B, xã Hoà Thạch, huyện Q, thành phố Hà Nội. Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

Ông Vũ Danh K, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Đội 1, thôn B, xã Hoà Thạch, huyện Q, thành phố Hà Nội. Có mặt

Anh Đỗ Tiến T, sinh năm 1984; Nơi cư trú: xóm Quán, thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Q, thành phố Hà Nội (có đơn xin vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 24 tháng 7 năm 2023, Ông Vũ Danh K, sinh năm 1960, cùng vợ là Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1959 và con trai là Vũ Danh T đang ở nhà tại thôn B, xã Hoà Thạch, huyện Q, thành phố Hà Nội, ông Khang lấy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9 của mình mở clip trên ứng dụng Tiktok đưa cho bà Lưỡng xem, sau đó đi cắt rau ở phía sau nhà. Bà Lưỡng cầm điện thoại ngồi ở hè trước cửa ra vào nhà. Trong lúc bà Lưỡng đang xem điện thoại, Tuấn đi từ trong nhà ra hè tiến đến dùng tay trái giằng, giật chiếc điện thoại SamSung Galaxy note 9 bà Lưỡng đang cầm, bà Lưỡng liền giằng lại điện thoại nhưng không được. Tuấn bỏ chạy vào trong nhà, sau đó tiếp tục cầm chiếc điện thoại Nokia 105 của ông Khang để ở kệ gỗ tivi trong phòng khách cất vào túi quần rồi nấp ngoài cửa. Bà Lưỡng đi vào trong nhà tìm Tuấn nhưng không thấy, Tuấn liền lẻn chạy trốn ra ngoài cổng đứng trốn ở góc tường nhà ông bà Nhung Hào (là hàng xóm nhà Tuấn), sau đó đi nhờ xe của một cháu học sinh đến đoạn nghĩa trang liệt sỹ xã Cấn Hữu thì xuống xe. Tuấn đi bộ thêm một đoạn theo hướng đi chợ Bương rồi lại đi nhờ xe của một người nam giới (không rõ nhân thân). Khi đến đoạn ngã tư đèn tín hiệu giao thông khu vực thị trấn Quốc Oai, Tuấn nói với người nam giới này cho xuống xe một chút để vào quán điện thoại có việc, người này đồng ý. Tuấn vào quán mua bán sửa chữa điện thoại Thịnh Thu có địa chỉ số 245 đường Phố Huyện, thị trấn Quốc Oai, do anh Đỗ Tiến T, sinh năm 1984; trú tại: thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Q làm chủ, nói dối với anh Thịnh là do bị Cảnh sát giao thông bắt giữ xe, không mang theo tiền nên để lại chiếc điện thoại Samsung với giá 300.000 đồng lấy tiền nộp phạt, đồng thời đưa cho anh Thịnh chiếc điện thoại lấy được của bà Lưỡng trước đó. Anh Thịnh kiểm tra chất lượng máy và đồng ý viết giấy biên nhận. Sau khi lấy được tiền, Tuấn quay ra đi nhờ người nam giới kia đến khu vực cổng bệnh viện đa khoa huyện Q thì xuống xe, sau đó tiếp tục đi nhờ xe người khác về nhà và tiêu hết số tiền đã cầm cố được. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Tuấn về nhà và trả lại cho ông Khang chiếc điện thoại Nokia 105 đồng thời nói cho vợ chồng ông Khang biết việc đã cầm cố điện thoại, đưa tờ giấy biên nhận có ghi địa chỉ cửa hàng điện thoại của anh Thịnh để bảo ông Khang đi chuộc. Đến ngày 25/7/2023, Tuấn đến cửa hàng của anh Thịnh nói muốn lấy thêm 300.000 đồng nữa và đưa cho anh Thịnh thẻ căn cước của mình để xem thì lúc này anh Thịnh mới biết tên tuổi địa chỉ của Tuấn. Do tin tưởng, anh Thịnh đồng ý và đưa thêm cho Tuấn 300.000 đồng, Tuấn sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Cùng ngày, ông Khang mang 400.000 đồng đến gặp anh Thịnh để lấy lại chiếc điện thoại nhưng do không đủ tiền nên ông Khang để lại 400.000 đồng cho anh Thịnh và nói sẽ về lấy thêm tiền, đồng thời ông Khang đến Công an xã H trình báo sự việc.

Đồ vật thu giữ: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen do Ông Vũ Danh K giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung note 9 màu đen có ốp bảo vệ màu đỏ đen, máy đã qua sử dụng do anh Đỗ Tiến T giao nộp.

- Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q, xác định:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 9 màu đen, số seri: R58K753T4YZ; số IMEI 1: 359447098459126; số IMEI 2: 359448098459124 tại thời điểm ngày 24/07/2023 có giá trị là: 1.733.000 đồng;

- 01 ốp điện thoại mặt trong màu đen, mặt ngoài màu đỏ có in chữ Lieferant des FERRARI Teams tại thời điểm ngày 24/07/2023 có giá trị là: 7.000 đồng;

Tổng cộng giá trị tài sản định giá trên là: 1.740.000 đồng.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9 quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ông Vũ Danh K. Sau khi phục vụ công tác điều tra, ngày 04/8/2023 Cơ quan điều tra đã ra quyết định số 27 trả lại 02 chiếc điện thoại nêu trên cho ông Khang quản lý và sử dụng.

* Cáo trạng số: 89/CT-VKSQO ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Vũ Danh T về tội “Cướp giật tài sản”, theo khoản 1, Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội về tội “Cướp giật tài sản”, theo khoản 1, Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án đã được xoá án tích, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt.

Đề nghị về hình phạt: Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1, Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Danh T từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 28 tháng 7 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo do Bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn đinh.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Vũ Danh K đã nhận lại điện thoại và không có yêu cầu bồi thường gì khác, ông Khang và bà Lưỡng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Vũ Danh T. Đối với anh Đỗ Tiến T (chủ cửa hàng điện thoại Thịnh Thu) đã nhận số tiền 400.000 đồng từ Ông Vũ Danh K vào ngày 25/07/2023 và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để được sớm trở về gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, về thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh: Hội đồng xét xử xét thấy lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với vật chứng đã thu giữ trong vụ án; Kết luận định giá tài sản, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận tội. Vào khoảng 08 giờ sáng ngày 24/07/2023 tại thôn B, xã H, huyện Q, bị cáo có hành vi cướp giật chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9 trị giá 1.740.000 đồng của Bà Hoàng Thị L (mẹ đẻ của bị cáo). Sau đó, bị cáo đã cầm cố chiếc điện thoại này tại cửa hàng điện thoại Thịnh Thu của anh Đỗ Tiến T được số tiền là 600.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Thông qua diễn biến vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa cho thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản, gây mất an toàn và trật tự công cộng được luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.

Xét thấy: Vụ án có tính chất đơn giản, bị cáo là con đẻ của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại để tiêu sài cá nhân do sự thiếu hiểu biết về pháp luật của bị cáo dẫn đến hành vi phạm tội. Sau khi sự việc xảy ra, tài sản đã chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhân thân bị cáo có 02 tiền án đã được xoá án tích.

Đối với những người đã chở bị cáo đi tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có quá trình điều tra không xác định được nhân thân lại lịch, căn cứ lời khai của Vũ Danh T xác định những người này không biết việc bị cáo phạm tội, không biết bị cáo xin đi nhờ xe để đến khu vực thị trấn Quốc Oai, huyện Q, để làm gì, bị cáo cũng không có quen biết gì với những người này. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với anh Đỗ Tiến T - chủ cửa hàng điện thoại “Thịnh Thu”, quá trình điều tra xác định anh Thịnh không thể biết chiếc điện thoại này là do bị cáo phạm tội mà có. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với hành vi lấy chiếc điện thoại Nokia 105, quá trình điều tra xác định bị cáo thường xuyên mượn và lấy chiếc điện thoại này của ông Khang với mục đích liên lạc cá nhân, sáng ngày 24/07/2023, bị cáo đã lấy chiếc điện thoại này cũng với mục đích trên và đến trưa cùng ngày đã mang về trả cho ông Khang. Xét thấy không có việc chiếm đoạt, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q không đề cập xử lý là có căn cứ.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ là phạt tiền.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1, Điều 171; Điều 38; Điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Danh T 20 (hai mươi) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 7 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường.

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

- Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Bị cáo, bị hại và Ông Vũ Danh K có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 28 tháng 11 năm 2023; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những nội dung liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản bản được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại; người liên quan;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Q;
  • - Trại tạm giam số 1 Công an TP Hà Nội;
  • - Công an huyện Q;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Q;
  • - UBND xã H, huyện Q, thành phố Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 102/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 08 giờ sáng ngày 24/07/2023 tại thôn Bạch Thạch, xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, bị cáo có hành vi cướp giật chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9 trị giá 1.740.000 đồng của bà Hoàng Thị Lưỡng (mẹ đẻ của bị cáo). Sau đó, bị cáo đã cầm cố chiếc điện thoại này tại cửa hàng điện thoại Thịnh Thu của anh Đỗ Tiến Thịnh được số tiền là 600.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger