TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2023/HS-ST | Ngày: 17 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đinh Thanh Hoàn
- Ông Phạm Quốc Hưng
Thư ký phiên tòa: bà Vũ Tú Uyên, thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà: ông Trần Trung Hiếu, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2023/TLST-HSST ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023; đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Mai Văn L, tên gọi khác: Mai Viết L1, sinh ngày 26 tháng 8 năm 1976, tại U, Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu B, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ở: số D, phố E, khu D, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Viết P và bà Đỗ Thị N, mẹ kế là bà Đinh Thị H; chung sống như vợ chồng với chị Lê Thị Thanh T; con: 01 con, sinh năm 2022. Tiền án: 01 tiền án. Ngày 15/11/2002, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 08 năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 2 Điều 194 và khoản 2 Điều 197 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Đều áp dụng tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm”). Tổng hợp hình phạt phải chấp hành là 17 năm tù. Nhân thân: Ngày 16/9/1994, Toà án nhân dân huyện Hải Ninh (nay là thành phố M) xử phạt 09 tháng tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1985; Ngày 25/5/1995, Toà án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985; Ngày 20/9/1995, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1985 (xét xử vắng mặt); Ngày 22/01/1996, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 04 năm tù, về tội “Trốn khỏi nơi giam" theo quy định tại khoản 2 Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1985. Tổng hợp hình phạt với 02 bản án trước đó, buộc phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm tù. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2023. Hiện tạm giam. Có mặt.
2. Họ và tên: Hoàng Trọng S, tên gọi khác: Hoàng Quang T1, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1974, tại K, Hưng Yên. Nơi cư trú: thôn E, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trọng T2 và bà Lê Thị A; vợ, con: không. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 15/6/2001, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 năm tù, về tội “Cướp tài sản của công dân”; Ngày 18/10/2006, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Ngày 11/10/2019, Công an thành phố M xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2023. Hiện tạm giam. Có mặt.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn N1, tên gọi khác: không, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1990, tại D, Nghệ An. Nơi thường trú: xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị L2; vợ: Vũ Thị T3, con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2023. Hiện tạm giam. Có mặt
Người chứng kiến: ông Nguyễn Ngọc K. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 19/6/2023, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Nguyễn Văn N1 gọi điện thoại cho Hoàng Trọng S hỏi mua 600.000 đồng ma tuý Heroine. S này sinh ý định mua ma tuý về bán cho N1 kiếm lời nên đồng ý bán và thoả thuận là S sẽ mang ma tuý đến giao gần nơi ở của N1, thì N1 phải trả thêm cho S số tiền 200.000 đồng. Sau đó, S gọi điện thoại cho một người đàn ông (theo S khai là Mai Văn L) đặt mua 01 gói ma tuý Heroine với giá 600.000 đồng và hẹn đến khu vực sau Trung tâm thương mại M thuộc phường T, thành phố M để giao dịch. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 14K1-318.01 đi đến điểm hẹn, gặp và mua của người đàn ông trên 01 gói ma tuý với giá 600.000 đồng. Sau khi mua, S điều khiển xe đi đến khu vực lăng mộ nhà ông Nguyễn Văn C ở Khu D, phường B, thành phố M, thì S lấy ra một phần ma tuý trong gói ma tuý vừa mua, cho vào 01 gói giấy để sử dụng sau, rồi cất giấu ở bụi cỏ gần lăng mộ cùng chiếc điện thoại di động dùng để liên lạc mua bán ma tuý.
Đến khoảng 12 giờ 35 phút cùng ngày, S điều khiển xe mô tô đi đến khu vực M, thuộc khu A, phường B, thành phố M, gặp N1 rồi chở N1 đi một đoạn, thì N1 đưa cho S số tiền 800.000 đồng, S đưa cho N1 01 gói ma tuý. Sau khi mua, N1 xuống xe, cất giấu gói ma tuý vào trong ốp chiếc điện thoại di động và đi bộ về hướng cảng M, thì bị Tổ công tác của Công an phường B phối hợp với Đồn Biên phòng T4 kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ của N1 gồm: 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng (kí hiệu M1); 01 chiếc điện thoại di động; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng
Vật chứng thu giữ của S: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 14K1-318.01, kèm theo giấy phép lái xe, tại khu lăng mộ nhà ông Nguyễn Văn C, 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng (kí hiệu M2) và 01 chiếc điện thoại di động.
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 20/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Mai Văn L tại Khu D, phường K, thành phố M thu giữ vật chứng gồm 04 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng ( ký hiệu M3, M4, M5, M6) và 03 chiếc điện thoại di động. L khai nhận các chất bột này là ma túy loại Heroine, L tàng trữ để sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 867/KL-KTHS ngày 27/6/2023, của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật kí hiệu từ M1 đến M6 gửi giám định là ma túy; loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, khối lượng như sau: M1: 0,214 gam; M2: 0,052 gam; M3: 0,145 gam; M4: 0,219gam; M5: 0,226 gam; M6: 0,211 gam.
Tại bản cáo trạng số 95/CT-VKSMC ngày 12 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Mai Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Trọng S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo có lời khai phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.
Người chứng kiến ông Nguyễn Ngọc K vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: vào khoảng 12 giờ 35 phút ngày 19/6/2023 ông K được lực lượng Công an phường B mời chứng kiến sự việc kiểm tra hành chính và bắt quả tang đối với đối tượng Nguyễn Văn N1 về hành vi cất giấu ma túy trong ốp điện thoại tại khu vực M, thuộc khu A, phường B, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Mai Văn L từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề xuất mức hình phạt đối với Hoàng Trọng S từ 30 tháng đến 36 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn N1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu số ma túy hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành; đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo N1, bị cáo S và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia gắn kèm theo sim của bị cáo L, các bị cáo dùng để liên lạc vào hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 14K1-318.01 của bị cáo Hoàng Trọng S, kèm theo giấy đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Trọng S bị cáo dùng làm phương tiện bán ma túy nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; 02 chiếc điện thoại di động đều có nhãn hiệu Iphone thu giữ của bị cáo L không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo; Số tiền 50.000 đồng của bị cáo N1 là tài sản của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội cần trả cho bị cáo. Ngoài ra truy thu của bị cáo S số tiền 800.000 đồng do bán ma túy mà có.
Các bị cáo không tranh luận gì với nội dung của bản luận tội, các bị cáo thừa nhận việc truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và trình bày lời nói sau cùng: xin giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ quá trình tranh tụng, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 19/6/2023, tại Khu A, phường B, thành phố M, bị cáo Hoàng Trọng S có hành vi bán trái phép 0,214 (không phẩy hai một bốn) gam Heroine cho Nguyễn Văn N1. Bị cáo Nguyễn Văn N1 có hành vi cất giấu trái phép 0,214 (không phẩy hai một bốn) gam Heroine để sử dụng, thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo Mai Văn L có hành vi cất giấu trái phép 0,801 (không phẩy tám không một) gam Heroine để sử dụng tại Khu D, phường K, thành phố M, bị kiểm tra phát hiện ngày 20/6/2023,
[3] Hành vi tàng trữ trái phép ma túy của các bị cáo Nguyễn Văn N1, Mai Văn L và hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Hoàng Trọng S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" của bị cáo Mai Văn L thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, do bị cáo phạm tội khi bị cáo đang có tiền án mà tại bản án năm 2002 bị cáo bị xét xử về tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích. Hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" loại Heroin của bị cáo Nguyễn Văn N1 thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Hoàng Trọng S có đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do vậy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn để răn đe các bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Xét vai trò các bị cáo trong vụ án thấy các bị cáo phạm tội độc lập không có tính chất đồng phạm nên mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm tương ứng với hành vi phạm của mình.
[6] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về vật chứng: số ma túy hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo N1, bị cáo S và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia gắn kèm theo sim của bị cáo L, các bị cáo dùng để liên lạc vào hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 14K1-318.01 của bị cáo Hoàng Trọng S, kèm theo giấy đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Trọng S bị cáo dùng làm phương tiện bán ma túy nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của bị cáo L không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo; Số tiền 50.000 đồng của bị cáo N1 là tài sản của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội cần trả cho bị cáo. Ngoài ra truy thu của bị cáo S số tiền 800.000 đồng do bán ma túy mà có.
[9] Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,052 gam Heroine của bị cáo S, mục đích để sử dụng chưa đủ lượng để truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xử lý.
[10] Liên quan trong vụ án có người đàn ông tên H1 đã bán ma tuý cho bị cáo L, quá trình điều tra không xác minh được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý. Về lời khai của bị cáo S nguồn gốc ma túy bán cho bị cáo N1 là mua của bị cáo L, tuy nhiên bị cáo L không thừa nhận và cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi bán ma túy của bị cáo L cho bị cáo S nên không xét.
[11] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Mai Văn L, Nguyễn Văn N1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hoàng Trọng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Mai Văn L: 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 6 năm 2023.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng S: 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 6 năm 2023
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1: 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 6 năm 2023
- Áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong 01 phong bì được niêm phong có ghi “Phòng kỹ thuật hình sự. Đội giám định số: 867/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 867 ngày 27 tháng 6 năm 2023 vụ: Nguyễn Văn N1
Tịch thu sung ngân sách nhà nước các vật chứng gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh có ốp lưng màu đen có số Imei: 865073040715295; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen có số Imei 1: 355635045745258, số Imei 2: 355635046246256; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số Imei 1: 355197672355505, số Imei 2: 355197672355513 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu nâu đỏ đen biển số 14K1-318.01 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Hoàng Trọng S hiện đang lưu tại hồ sơ).
Tịch thu tiêu hủy các thẻ sim gắn trong các điện thoại trên.
Trả lại cho bị cáo Mai Văn L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, số Imei: 359328808403382, số Imei 2: 35938807995792 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng số Imei 1: 352842110342549, số I 2: 352842110470837.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn N1 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 50.000 đồng.
(Tình trạng các vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 07/2024/THA ngày 13/10/2023 giữa Công an thành phố M với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
Buộc bị cáo Hoàng Trọng S phải nộp lại số tiền 800.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 331, khoản 1,3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Nga |
Bản án số 102/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 102/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Mai Văn Long, Nguyễn Văn Ngọc phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hoàng Trọng Sơn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
