Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 102/2022/HSST

Ngày 09-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • Ông Nguyễn Quốc Dũng;

  • Ông Phạm Tấn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai (trực tuyến) tại các điểm cầu: Điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử hình sự - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương; Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đối với vụ án hình sự thụ lý số: 84/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Dương Đình D, sinh năm 1975 tại Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm Z, xã Y, huyện X, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đình N và bà Ma Thị C; có vợ là Ma Thị H và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giam từ ngày 03 tháng 7 năm 2022 cho đến nay; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Dương Đình B, vắng mặt;

Tại điểm cầu thành phần: ông Đinh Văn Hoan – Cán bộ Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an huyện Bàu Bàng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Đình D là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 22 giờ 35 phút ngày 03 tháng 7 năm 2022, D đang ở cùng với anh ruột là Dương Đình B tại phòng trọ M dãy N thuộc khu phố O, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị Công an thị trấn P, huyện B kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện trong ví màu đen bỏ sau túi quần bên phải đang mặc của D có 03 (ba) gói giấy bạc màu vàng bên trong nghi chứa chất ma túy (D khai nhận bên trong có ma túy loại Heroine) và 01 (một) gói nilon hàn kín chứa chất màu trắng dạng cục. Qua làm việc, D khai nhận tất cả những tang vật nêu trên là ma túy, loại Heroine. D cất giấu nhằm mục đích để sử dụng. Công an thị trấn P tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm:

  • 03 (ba) gói giấy bạc màu vàng bên trong nghi chưa chất ma túy (đối tượng D khai nhận bên trong có ma túy, loại Heroine).

  • 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa chất màu trắng dạng cục nghi là ma túy (đối tượng D khai nhận bên trong có ma túy, loại Heroine).

Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận giám định số: 326/KL-KTHS (MT) ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương (bút lục số 31) kết luận: mẫu chất màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: 0,5009 gam (M1); 0,0982 gam (M2), loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định: mẫu vật được niêm phong, khối lượng/trọng lượng: 0,4861gam (M1) và 0,0401 gam (M2).

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo D do không có họ tên, địa chỉ cụ thể nên khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Dương Đình B không biết bị cáo D cất giấu ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương không xử lý.

Tại Cáo trạng số: 86/CT - VKSBB ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đại diện diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Dương Đình D mức hình phạt tù từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật sau giám định được niêm phong, khối lượng/trọng lượng: 0,4861gam (M1) và 0,0401 gam (M2) ma túy loại Heroine đề nghị tịch thu và tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về Kết luận giám định số: 326/KL-KTHS (MT) ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng. Do vậy, đã có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 22 giờ 35 phút ngày 03 tháng 7 năm 2022, tại phòng trọ số M dãy N thuộc khu phố O, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo D bị Công an thị trấn Lai Uyên bắt quả tang bị cáo D cất giấu 04 (bốn) gói ma túy có khối lượng/trọng lượng: 0,5991 gam, loại Heroine trong ví màu đen bỏ sau túi quần bên phải của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, là mầm mống phát sinh ra các tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có cha là ông Dương Đình N được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và mẹ là bà Ma Thị C được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Tày), khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[6] Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên Công an huyện Bàu Bàng tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.

[8] Đối với Dương Đình B không biết bị cáo D cất giấu ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương không xử lý là phù hợp quy định của pháp luật.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật được hoàn lại sau khi giám định được niêm phong, khối lượng/trọng lượng: 0,4861gam (M1) và 0,0401 gam (M2) ma túy, loại Heroine là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Dương Đình D.

Các Điều 46 và 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điều 106; khoản 2 Điều 136; các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Dương Đình D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Dương Đình D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 7 năm 2022.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 326/PC09 có dấu đỏ của phòng KTHS – Công an tỉnh Bình Dương khối lượng mẫu niêm phong: M1: 0,4861 (gam) Heroine và M2 = 0,0401 (gam) Heroine.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng ngày 10 tháng 10 năm 2022).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Dương Đình D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • - Công an huyện Bàu Bàng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Minh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2022/HSST ngày 09/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 102/2022/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/11/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DUONG DINH D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger