|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 102/2021/HNGĐ-ST Ngày: 14-5-2021 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Mẫu số 52-DS |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa
- Ông Huỳnh Văn Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 176/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Mỹ Th, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp S, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Th, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 02 năm 2021 nguyên đơn chị Trần Mỹ Th thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:
Chị Trần Mỹ Th và anh Nguyễn Thanh Th tự quen biết và thương yêu nhau. Sau thời gian quen biết được hai bên gia đình đồng ý nên anh, chị đã tổ chức đám cưới và có làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 21 tháng 8 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau một con tên là Nguyễn Đỗ Bảo A, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2015 hiện đang sống với chị Th. Thời gian sau này anh Th không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Chị đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh Th vẫn không nghe, vẫn không lo làm ăn để cùng vợ nuôi con. Mỗi lần khuyên nhủ là vợ chồng lại cãi nhau, dẫn đến mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng không thể hòa hợp sống chung được nữa. Anh Th đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang từ năm 2015 để sinh sống. Cả hai đã ly thân từ đó cho đến nay.
Hiện tại do cuộc hôn nhân của cả hai không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết:
- 1/ Về hôn nhân: Chị Th yêu cầu được ly hôn với anh Th;
- 2/ Về con chung: Khi ly hôn chị Th yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Đỗ Bảo A và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con;
- 3/ Về tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có.
Bị đơn anh Nguyễn Thanh Th không có văn bản trình bày ý kiến, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; cũng như không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.
Tại phiên tòa ngày 14 tháng 5 năm 2021: Chị Trần Mỹ Th vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Thanh Th vắng mặt không lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
- + Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Mỹ Th với anh Nguyễn Thanh Th;
- + Về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Đỗ Bảo A, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2015 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng khi ly hôn; do chị Th không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên đề nghị không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Mỹ Th khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Thanh Th. Anh Th có nơi cư trú tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Mỹ Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Thanh Th được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt chị Th, anh Th.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Chị Th và anh Th tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang vào ngày 21 tháng 8 năm 2015. Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị Th, anh Th đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Th không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Hiện tại do tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Th. Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong cuộc hôn nhân giữa chị Th và anh Th; anh, chị lại không thực hiện các nghĩa vụ này. Quá trình giải quyết vụ án, anh Th không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không tham dự các buổi hòa giải, không tham dự phiên tòa, không đưa ra được giải pháp hàn gắn hôn nhân giữa anh, chị. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu của anh Th. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th với anh Th.
[3.2] Về con chung: Chị Th trình bày chị và anh Th có một con chung tên Nguyễn Đỗ Bảo A, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2015. Hiện cháu đang do chị Th nuôi dưỡng nên khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con. Do anh Th không có văn bản thể hiện yêu cầu được nuôi dưỡng cháu và cũng không tranh chấp việc nuôi con với chị Th nên căn cứ về quyền lợi mọi mặt của con chung. Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Th phải tạo điều kiện cho anh Th trong việc trông năm, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con do chị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.4] Về nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Chị Th trình bày không có tuy nhiên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì chị Th và anh Th phải liên đới trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.
[3.5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Th phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 186, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Mỹ Th với anh Nguyễn Thanh Th.
Giấy chứng nhận kết hôn số 62/2015, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp cho Nguyễn Thanh Th và Trần Mỹ Th, ngày 21 tháng 8 năm 2015 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2/ Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đỗ Bảo A, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2015 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành. Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Th không yêu cầu.
Chị Th phải tạo điều kiện cho anh Th trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Việc nuôi con chung không cố định.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
3/ Về tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Mỹ Th phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007464 ngày 22 tháng 02 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Chị Th đã nộp đủ.
5/ Về quyền kháng cáo: Chị Th, anh Th được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - Viện Kiểm sát nhân dân TPLX; - Chi cục Thi hành án dân sự TPLX; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Lưu Văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bé Thu |
Bản án số 102/2021/HNGĐ-ST ngày 14/05/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 102/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn với anh T
