|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101A/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-8-2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
-
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng, bà Lê Thị Mẫn
-
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 42/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng Y, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
-
- Bị đơn: Anh Phạm Minh T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 16/5/2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của chị Lê Thị Hồng Y tại phiên tòa đã xác định như sau:
-
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng Y và anh Phạm Minh T tìm hiểu nhau khoảng 03 năm thì quyết định đi đến kết hôn, ngày 28/1/2019 cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng chung sống với nhau đã lâu nhưng chưa có con, mặc dù cả hai đã cố gắng chữa trị nhưng đều không có kết quả, cả hai bị áp lực từ phía gia đình về vấn đề con cái dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vả, xích mích, không có được tiếng nói chung. Cuộc sống vợ chồng ngày càng trở nên căng thẳng, gay gắt với nhau, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng không thể hòa giải nên hai vợ chồng đã quyết định sống ly thân từ đầu năm 2023, chị Y về nhà bố mẹ đẻ sinh sống còn anh T sống cùng gia đình tại thôn X, xã V. Từ khi sống ly thân đến nay cả hai cả hai ít quan tâm đến nhau, ít khi liên lạc. Dù đã cố gắng nói chuyện hàn gắn nhưng vì áp lực từ nhiều phía nên đều không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên chị Y gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Y được ly hôn với anh Phạm Minh T.
-
- Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị Y và anh T không có con chung.
-
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Y xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để anh Phạm Minh T thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh T vẫn vắng mặt, tuy nhiên vào ngày 09/7/2024 tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải anh T đã nhờ chị Y nộp cho Tòa án bản tự khai và đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt với nội dung trình bày như sau:
-
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị Y tìm hiểu nhau khoảng 03 năm thì quyết định đi đến kết hôn. Cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 28/1/2019 và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi đăng ký kết hôn cả hai vợ chồng chung sống tại Thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nhà bố mẹ ruột anh T). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2023 thì bắt đầu có mâu thuẫn, vợ chồng kết hôn đã hơn 4 năm nhưng chưa có con mặc dù đã cố gắng chữa trị nhưng không có kết quả, cả hai đều bị áp lực từ gia đình về chuyện con cái nên thường xuyên xảy ra cãi vã mâu thuẫn. Từ đầu năm 2023 hai vợ chồng bắt đầu sống ly thân, chị Y về nhà bố mẹ đẻ sống từ đó, còn anh T sống với bố mẹ tại Thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ khi sống ly thân cả hai ít quan tâm đến đời sống của nhau, ít khi liên lạc cũng ít khi gặp nhau. Nay chị Y có đơn xin ly hôn và anh T cũng nhận thấy tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, không thể tiếp tục nên đồng ý ly hôn, đề nghị tòa án xem xét giải quyết cho hai vợ chồng ly hôn. Tuy nhiên vì lý do công việc không thể đến tham gia phiên tòa nên có đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vắng mặt.
-
- Về con chung: Anh T xác nhận hai vợ chồng không có con chung.
-
- Về tài sản chung và nợ chung : Anh T xác nhận không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, người tiến hành tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
-
- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị Hồng Y. Xử cho chị Lê Thị Hồng Y được ly hôn với anh Phạm Minh T.
-
- Về con chung: Chị Lê Thị Hồng Y xác nhận không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
-
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Hồng Y xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
-
- Về án phí: Buộc chị Lê Thị Hồng Y phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Phạm Minh T có hộ khẩu thường trú tại: Thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là anh Phạm Minh T đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng Y và anh Phạm Minh T chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Hồng Y, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của chị Y, anh T, quá trình Tòa án điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng chung sống với nhau đã lâu nhưng không có con, nên từ đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Chị Y và anh T đã sống ly thân từ năm đầu 2023 đến nay. Từ khi chị Y có đơn xin ly hôn, phía Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để anh T trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Y nhằm mục đích hàn gắn cho hai vợ chồng đoàn tụ nhưng anh T không đến và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bản thân anh T cũng muốn ly hôn với chị Y nhưng do điều kiện công việc không sắp xếp được thời gian nên không thể đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị Y. Nhận thấy vợ chồng chị Y, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho chị Y được ly hôn với anh T là phù hợp pháp luật.
[3] Về con chung: Chị Y và anh T xác nhận không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Hồng Y và anh Phạm Minh T đều xác nhận không có tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Hồng Y. Xử cho chị Lê Thị Hồng Y được ly hôn với anh Phạm Minh T; Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Chị Lê Thị Hồng Y và anh Phạm Minh T đều xác nhận không có con chung nên Tòa án không giải quyết.
-
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Hồng Y và anh Phạm Minh T đều xác nhận không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Hồng Y phải nộp tiền án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị Y đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0001894 ngày 04 tháng 4 năm 2024. Chị Y đã nộp đủ nay không phải nộp.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |
Bản án số 101A/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 101A/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp xin ly hôn
