Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1019/2024/DSPT

Ngày: 12-12-2024

Về việc: Tranh chấp về quyền

tài sản; về thừa kế tài sản; về

hợp đồng vay tài sản và Tranh

chấp liên quan đến yêu cầu

tuyên bố văn bản công chứng

vô hiệu.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo

Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền

2. Bà Đỗ Thị Hòa

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Thương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 845/2024/TLPT-

DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về quyền tài sản; về thừa

kế tài sản; về hợp đồng vay tài sản và Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên

bố văn bản công chứng vô hiệu”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 197/2024/DS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án

nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5868/2024/QĐPT-DS ngày 08

tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17268/2024/QĐ-HPT ngày

28 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mai A, sinh năm 1969 (Có mặt);

Địa chỉ: Số nhà E đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Bị đơn: Ông Đỗ Minh Q, sinh năm 1994 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số nhà E đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đỗ Thị Khánh L, sinh năm 2003;

Địa chỉ: Số nhà E đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đỗ Thị Khánh L: Bà Nguyễn Thị

Mai A, sinh năm 1969 (Có mặt);

Địa chỉ: Số nhà E đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Theo Giấy ủy quyền số công chứng 00013450, quyển số 7/2023 TP/CC-

SCC/HĐGD ngày 19/7/2023 tại Văn Phòng C1.

2. Trẻ Đặng Anh T, sinh năm 2020;

Người đại diện hợp pháp của trẻ Đặng Anh T:

Bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số B đường M, phường H, quận H, Thành phố Hải Phòng.

Theo Giấy chứng sinh số 203, quyển số 03/2020 ngày 17/9/2020 của

Bệnh viện phụ sản Thành phố H, bà Đặng Thị Đ là mẹ của trẻ Đặng Anh T.

3. Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1959 (có mặt);

Địa chỉ: Số B C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

4. Công ty cổ phần Đ1 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số A đường X, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội;

5. Bà Đinh Hoàng Anh T1, sinh năm 2002 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Căn hộ A chung cư R, số G đường T, Phường A, Quận A, Thành

phố Hồ Chí Minh;

6. Bà Đinh Hoàng Minh T2, sinh năm 2004 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Căn hộ A chung cư R, số G đường T, Phường A, Quận A, Thành

phố Hồ Chí Minh;

7. Văn phòng C1 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số A đường B, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/5/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày

19/12/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ

thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai A trình bày:

Bà Nguyễn Thị Mai A và ông Đỗ Anh T3 kết hôn vào ngày 16/02/2000.

Vợ chồng có 02 con chung là anh Đỗ Minh Q và chị Đỗ Thị Khánh L. Do phát

sinh mâu thuẫn nên bà A và ông T3 thuận tình ly hôn theo Quyết định công

nhận thuận tình ly hôn ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân Quận A. Tuy

nhiên, trên thực tế, bà và ông T3 vẫn còn chung sống với nhau đến năm 2019.

Năm 2019, ông T3 về quê ở Hải Phòng làm ăn, đã gặp và chung sống với bà

Đặng Thị Đ có 01 con chung là trẻ Đặng Anh T. Ông T3 và bà Đ không có

đăng ký kết hôn.

Trong thời kỳ hôn nhân với ông T3, vào giữa năm 2016, ông, bà đã quyết

định mua bất động sản hình thành trong tương lai là căn hộ số 12A04A, chung

cư R, địa chỉ số G đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh của

Chủ đầu tư là Công ty cổ phần Đ1, mục đích để tiết kiệm, đầu tư lo cho con

chung là chị Đỗ Khánh L đi du học sau này. Ngày 10/6/2016, bà đã ký Thoả

thuận đặt cọc và thanh toán tiền đặt cọc để mua căn hộ nêu trên. Do không rành

thủ tục giấy tờ và cũng để thuận tiện, nên ngày 19/6/2017, bà để ông T3 đứng

tên một mình ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ. Tuy trong Hợp đồng mua bán

căn hộ chỉ có tên ông T3 là Bên mua nhà, nhưng các khoản tiền thanh toán cho

Chủ đầu tư trong quá trình thực hiện hợp đồng là tiền của bà và ông T3.

Năm 2021, ông T3 vay nợ ở quê với lãi suất quá cao không có khả năng

trả nợ, nên bà đồng ý cho ông T3 thế chấp căn hộ nêu trên cho bà Đoàn Thị H

để vay số tiền 2.500.000.000 đồng cho ông T3 trả nợ, lãi suất thỏa thuận

1,8%/tháng, thời hạn vay 06 tháng. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, ngày

24/11/2021, các bên thống nhất ký Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán

căn hộ nêu trên tại Văn phòng C1; đồng thời, ký Văn bản thỏa thuận xác nhận

số tiền đã vay và xác nhận việc ký Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán

căn hộ là để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Tại văn bản thỏa thuận, các bên cam kết

sau khi ông T3, bà A trả hết nợ thì các bên có trách nhiệm huỷ bỏ Văn bản

chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ.

Ngày 23/02/2022, ông T3 tự tử chết, để lại di chúc bằng văn bản viết tay;

đồng thời, ông T3 đã ghi âm, ghi hình ảnh ông đọc nội dung Bản di chúc thể

hiện ý nguyện để lại toàn bộ phần quyền tài sản của ông đối với căn hộ A chung

cư R cho bà A được toàn quyền sở hữu.

Trước khi ông T3 chết, bà và ông T3 có trả tiền lãi cho bà H đầy đủ theo

thỏa thuận. Sau khi ông T3 chết, bà tiếp tục trả tiền lãi cho bà H. Từ ngày

07/3/2022 đến ngày 06/5/2023, bà A đã chuyển khoản trả cho bà H

1.000.000.000 đồng tiền nợ gốc và 481.000.000 đồng tiền lãi.

Ngoài ra, bà đã bỏ ra số tiền 585.000.000 đồng để lo tang lễ và mai táng

cho ông T3, trong đó bao gồm: Tiền mua đất làm mộ là 360.000.000 đồng, tiền

xây mộ là 170.000.000 đồng và tiền dịch vụ mai táng là 55.000.000 đồng.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết

những vấn đề sau đây:

  • - Yêu cầu Tòa án xác định quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán
  • căn hộ 12A04A chung cư Rivera Park S, địa chỉ số G đường T, Phường A,
  • Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của bà và ông Đỗ Anh T3;
  • xác định ½ căn hộ thuộc quyền tài sản của bà và ½ căn hộ là di sản thừa kế của
  • ông T3 để lại.
  • - Yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế theo Giấy di chúc ngày 22/02/2022
  • của ông T3, cho bà được hưởng toàn bộ phần quyền tài sản của ông T3 trong
  • căn hộ nêu trên.
  • - Bà A yêu cầu Toà án khi giải quyết phân chia di sản thừa kế, thì xem
  • xét chi phí mai táng, tang lễ bà đã lo cho ông T3 với số tiền là 100.000.000
  • đồng và tiền lãi bà đã trả thay cho ông T3.
  • - Yêu cầu Toà án tuyên bố Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán
  • căn hộ công chứng tại Văn phòng C1 ngày 24/11/2021 vô hiệu do giả tạo. Phân
  • chia nghĩa vụ trả nợ của bà A và ông T3 đối với khoản tiền vay của bà H, kể từ
  • ngày ông T3 chết.

Theo Bản tự khai ngày 14/6/2023, lời khai tại phiên hòa giải ngày 26/3/2024, bị

đơn anh Đỗ Minh Q trình bày ý kiến như sau:

Anh Q là con của ông Đỗ Anh T3 và bà Nguyễn Thị Mai A. Anh Q trình bày

căn hộ 12A04A chung cư Rivera Park S là tài sản chung của ba, mẹ anh đã mua

trước khi ly hôn. Anh thống nhất toàn bộ lời khai nêu trên của bà A và đồng ý

toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Anh Q xác định anh không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trong vụ

án, anh đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Khánh L có bà Nguyễn Thị Mai A

là người đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại

phiên tòa như sau:

Chị L là con của ông Đỗ Anh T3 và bà Nguyễn Thị Mai A, chị L thống nhất

toàn bộ lời khai nêu trên của bà A và đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị H trình bày trong quá trình

giải quyết vụ án và tại phiên tòa như sau:

Ngày 24/11/2021, bà cho ông T3 và bà A vay số tiền 2.500.000.000

đồng, lãi suất thỏa thuận 1,8%/tháng, thời hạn vay 06 tháng, mục đích để ông

T3 trả nợ ở quê. Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, các bên đã thống nhất ký Văn bản

chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ 12A04A chung cư R cho bà H tại

Văn phòng C1 và cam kết sau khi ông T3, bà A trả hết nợ thì các bên có trách

nhiệm huỷ bỏ Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ.

Về việc thực hiện hợp đồng vay tài sản: Trước khi ông T3 chết, bà A và

ông T3 đã trả tiền lãi cho bà đầy đủ theo thỏa thuận. Sau khi ông T3 chết, bà A

tiếp tục trả tiền lãi và trả một phần nợ gốc cho bà. Bà H xác nhận từ ngày

07/3/2022 đến ngày 06/5/2023, bà A đã chuyển khoản trả cho bà 1.000.000.000

đồng tiền nợ gốc và 481.000.000 đồng tiền lãi.

Tại Tòa, bà H xác nhận giữa hai bên không có giao dịch chuyển nhượng

hợp đồng mua bán căn hộ mà chỉ có quan hệ cho vay tiền. Do vậy, bà đồng ý

Tòa án tuyên bố Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ công chứng

tại Văn phòng C1 ngày 24/11/2021 vô hiệu do giả tạo. Bà H có yêu cầu độc lập

như sau: Yêu cầu Tòa án buộc bà A và những người được hưởng thừa kế di sản

của ông T3 chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền nợ gốc còn lại là

1.500.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1,2%/tháng tính từ ngày

10/6/2023 đến ngày Tòa xét xử vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trẻ Đặng Anh T có bà Đặng Thị Đ là

người đại diện hợp pháp trình bày lời khai và ý kiến như sau:

Năm 2019, bà Đ chung sống với ông Đỗ Anh T3 không có đăng ký kết hôn. Trẻ

Đặng Anh T là con chung của bà với ông T3, được sinh ra tại Bệnh viện P. Tuy

nhiên, vì vướng mắc giấy tờ nên đến nay bà chưa làm được giấy khai sinh cho

trẻ Đặng Anh T.

Về di sản thừa kế: Bà Đ không đồng ý xác định căn hộ 12A04A chung cư

Rivera Park S là tài sản chung của ông T3 với bà A vì khi còn sống, ông T3 có

nói cho bà biết ông T3 tự mua căn hộ trên vào năm 2017, sau khi đã ly hôn với

bà A; nguồn tiền mua căn hộ do ông T3 tự kinh doanh mà có, bà A không có

đóng góp gì. Căn cứ vào Hợp đồng mua bán căn hộ chỉ đứng tên một mình ông

T3, bà yêu cầu xác định di sản ông T3 để lại là toàn bộ quyền tài sản phát sinh từ

Hợp đồng mua bán căn hộ.

Sau khi xem văn bản của ông T3 viết ngày 22/02/2022, bà cho rằng đây là giấy

ủy quyền chứ không phải di chúc, nên bà không chấp nhận giấy ủy quyền viết

ngày 22/02/2022 là giấy di chúc của ông Đỗ Anh T3 để lại. Bà yêu cầu Tòa án

chia di sản của ông T3 theo pháp luật, theo đó, chia cho trẻ Đặng Anh T được

hưởng 1/3 quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ 12A04A chung

cư Rivera Park S.

Đối với yêu cầu Tòa án tuyên bố Văn bản công chứng chuyển nhượng hợp đồng

mua bán căn hộ vô hiệu và yêu cầu chia di sản thừa kế để trả nợ cho bà Đoàn

Thị H, bà Đ có ý kiến như sau: Từ khi bà và ông T3 chung sống với nhau như

vợ chồng từ năm 2019, bà chưa từng nghe thấy ông T3 nói về việc vay nợ và thế

chấp căn hộ trên, bà không biết việc vay nợ nên không đồng ý yêu cầu độc lập

của bà H. Bà yêu cầu Tòa án chia thừa kế toàn bộ quyền tài sản phát sinh từ Hợp

đồng mua bán căn hộ 12A04A chung cư Rivera Park S theo pháp luật.

Do ở xa, bà Đ đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà trong toàn bộ

quá trình giải quyết vụ án và xin Tòa án xét xử vắng mặt bà tại phiên tòa.

Tại Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 06/3/2024 và ngày 25/3/2024, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần Đ1 và Văn phòng C1 trình

bày không có ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết và xét

xử vụ án vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Tại Bản tự khai và Đơn xin vắng mặt ngày 20/3/2024, chị Đinh Hoàng Anh T1

và chị Đinh Hoàng Minh T2 cùng trình bày như sau:

Chị Anh T1 và chị Minh T2 hiện đang cư trú tại căn hộ A chung cư R,

quá trình cư trú không có đóng góp gì trong căn hộ. Chị Anh T1 và chị Minh T2

không có ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vụ

án vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 197/2024/DS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024

của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai A:

1.1. Tuyên bố Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ

12A04A, Khu C (có tên thương mại là Rivera Park S), địa chỉ số G đường T,

Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được Công chứng viên Văn phòng

C1 chứng nhận số công chứng 00021251, quyển số 11/2021 TP/CC-

SCC/HĐGD ngày 24/11/2021 vô hiệu.

1.2. Xác định quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số

12A04A/2017/HĐMBCH - Rivera Park S ký ngày 19/6/2017 giữa ông Đỗ Anh

T3 với Công ty cổ phần Đ1 là tài sản chung của ông Đỗ Anh T3 với bà Nguyễn

Thị Mai A.

Xác định di sản thừa kế của ông Đỗ Anh T3 để lại là ½ quyền và nghĩa vụ phát

sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ nêu trên.

Giao cho bà Nguyễn Thị Mai A được hưởng toàn bộ quyền về tài sản phát sinh

từ Hợp đồng mua bán căn hộ nêu trên.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, các quyền và nghĩa vụ của ông

Đỗ Anh T3 trong Hợp đồng mua bán căn hộ số 12A04A/2017/HĐMBCH -

Rivera Park S ngày 19/6/2017 với Công ty cổ phần Đ1 chấm dứt và được

chuyển cho bà Nguyễn Thị Mai A. Bà Nguyễn Thị Mai A tiếp tục hưởng các

quyền và thực hiện các nghĩa vụ theo Hợp đồng mua bán căn hộ số

12A04A/2017/HĐMBCH - Rivera Park S ngày 19/6/2017 với Công ty cổ phần

Đ1, bao gồm các nghĩa vụ thanh toán, các khoản thuế, phí và lệ phí theo hợp

đồng mua bán căn hộ.

Bà Nguyễn Thị Mai A được toàn quyền định đoạt đối với căn hộ A, Khu C

(có tên thương mại là Rivera Park S), địa chỉ số G đường T, Phường A, Quận A,

Thành phố Hồ Chí Minh, khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

bà Đoàn Thị H:

Buộc bà Nguyễn Thị Mai A thanh toán cho bà Đoàn Thị H số tiền nợ theo

Văn bản thỏa thuận vay tài sản ngày 24/11/2021 tổng cộng là 1.734.000.000

đồng, trong đó bao gồm: nợ gốc là 1.500.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày

10/6/2023 đến ngày 10/7/2024 là 234.000.000 đồng.

Thi hành ngay khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 11/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án

còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định

tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là 10%/năm, tương ứng với

thời gian chậm thi hành án.

Sau khi bà Nguyễn Thị Mai A thanh toán hết số nợ trên, bà Đoàn Thị H có

trách nhiệm giao lại cho bà Nguyễn Thị Mai A bản chính Hợp đồng mua bán

căn hộ số 12A04A/2017/HĐMBCH - Rivera Park S ngày 19/6/2017.

3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Mai A đồng ý hỗ trợ cho cháu

Đặng Anh T 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng (Giao cho bà Đặng Thị Đ là

người đại diện theo pháp luật của cháu T nhận). Thời hạn giao tiền trong vòng

06 (sáu) tháng kể từ ngày hôm nay (12/12/2024 đến hết ngày 12/6/2025).

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mai A phải chịu án phí dân sự sơ

thẩm đối với phần tài sản được chia là 48.951.516 đồng và chịu án phí dân sự sơ

thẩm đối với phần tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba theo quyết định của

Tòa án là 64.020.000 đồng, nhưng được trừ vào các khoản tiền tạm ứng án phí

đã nộp là 6.250.000 đồng theo biên lại thu tiền số 0035073 ngày 01/6/2023;

300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0035784 ngày 03/01/2024; 32.250.000

đồng theo biên lai thu tiền số 0020352 ngày 06/6/2024 và 2.500.000 đồng theo

biên lai thu tiền số 0020379 ngày 13/6/2024. Bà Nguyễn Thị Mai A còn phải

nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 71.671.516 đồng.

Bà Đoàn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu tuyên bố

văn bản công chứng vô hiệu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận là 300.000

đồng. Bà Đoàn Thị H được miễn nộp số tiền án phí phải chịu nêu trên.

5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đặng Thị Đ không phải chịu. Hoàn trả cho

bà Đ số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai

thu tiền số 0020482 ngày 23/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận A,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án

dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,

7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời

hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân

sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - TAND Quận A;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận A;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1019/2024/DSPT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về quyền tài sản; về thừa kế tài sản; về hợp đồng vay tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Số bản án: 1019/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền tài sản; về thừa kế tài sản; về hợp đồng vay tài sản và Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger