|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1018/2023/HS-PT Ngày: 28/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên
Các Thẩm phán: Ông Phan Tô Ngọc
Ông Phan Nhựt Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 520/2023/TLPT-HS ngày 19 tháng 7 năm 2023 do có kháng kháng cáo của các bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 270/2023/HS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Duy Anh K, sinh 1997 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: Số A đường X, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Số A Đường Số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị D; có vợ là Trần Ngọc Kim T và 01 người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 25 tháng 7 năm 2022. Có mặt.
- Trần Ngọc Kim T, sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số A đường Số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang T1 và bà Trịnh L; có chồng là Nguyễn Duy A Khoa và 01 người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 09 tháng 7 năm 2022, đến ngày 18 tháng 7 năm 2022 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại:
- + Bà Trịnh L, sinh năm 1969; địa chỉ: Số A đường Số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án này còn có đại diện hợp pháp của trẻ Lê Xuân Bảo N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài và trả nợ, vào đầu tháng 7 năm 2022 tại nhà số A đường Số C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Duy Anh K bàn bạc với vợ là Trần Ngọc Kim T bắt cóc trẻ Lê Xuân Bảo N (sinh ngày 17 tháng 3 năm 2016) là cháu ruột của T, nhằm mục đích buộc bà Trịnh L là bà nội của trẻ N và là mẹ ruột của T đưa 200.000.000 đồng tiền chuộc, T đồng ý.
Ngày 05 tháng 7 năm 2022, K rủ thêm Vũ Quốc S (bạn ngoài xã hội) cùng tham gia. K kêu S thuê xe ô tô G để chở trẻ N và T đi vài ngày ở khách sạn nào đó, S sẽ canh giữ trẻ N và dùng điện thoại di động gọi điện thoại, nhắn tin cho bà L để đe dọa, buộc bà L phải đưa đủ số tiền 200.000.000 đồng để chuộc trẻ N về, nếu chiếm đoạt được tiền K hứa sẽ chia cho S số tiền 20.000.000 đồng, S đồng ý. Sau đó, K đưa cho T chiếc điện thoại di động hiệu Nokia có sim số thuê bao 0902516744 và K soạn sẵn tin nhắn với nội dung “Tao đang giữ người, tao cần 200.000.000 đồng, trong vòng 01 tiếng, có ý định báo Công an thì mày tự hiểu. Nếu đúng 01 tiếng không có tiền thì cũng không có cơ hội gặp lại người” để T nhắn tin đe dọa bà L khi đã bắt cóc được trẻ N. K thì ở lại nhà bà L nghe ngóng thông tin của bà L để thông báo cho T và S.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 7 năm 2022, bà L nhờ T chở trẻ N đi mua sách vở để đi học. Thấy đây là cơ hội để thực hiện việc bắt cóc trẻ N, K gọi điện thoại thông báo cho S biết để thuê xe ôtô G đến nhà sách F, địa chỉ số A đường L, Khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh chờ sẵn. Sau đó, T điều khiển xe mô tô hiệu SH Mode màu trắng, biển số 59X1-934.98 (xe của bà L) chở trẻ N đến gửi xe tại nhà sách F, rồi cùng S đưa trẻ N lên xe ô tô Grab kêu lái xe chở đến thuê phòng số 001 của khách sạn N1, địa chỉ số A đường D, phường B, quận B, làm nơi giữ trẻ N.
Sau đó, T gọi điện thoại thông báo cho K biết là đang giữ trẻ N ở khách sạn thì K kêu T nhắn tin gửi cho bà L như kế hoạch đã bàn bạc trước đó. T dùng điện thoại Nokia có số thuê bao 0902516744 gửi tin nhắn đến số điện thoại 0911.725.xxx của bà L với nội dung “Tao đang giữ người, tao cần 200.000.000 đồng, trong vòng 01 tiếng, có ý định báo Công an thì mày tự hiểu. Nếu đúng 01 tiếng không có tiền thì cũng không có cơ hội gặp lại người”, rồi T tắt điện thoại. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T mở điện thoại lên thấy tin nhắn của bà L có nội dung “Bây giờ đưa tiền sao, có gì từ từ nha, gia đình tôi gửi đủ, anh em từ từ nha”, T kêu S nhắn tin lại cho bà L với nội dung “Hết giờ rồi, có tiền chưa? Tao hỏi có tiền chưa, tao không đủ kiên nhẫn với mày đâu”. Một lúc sau, bà L gọi điện thoại lại thì S nói “Mấy người cứ chuyển tiền đi, tôi sẽ cho người về”, rồi S tắt máy điện thoại.
Trong thời gian này, K ở nhà biết được thông tin bà L cùng gia đình đến Công an phường H, thành phố T trình báo trẻ N bị bắt cóc nên gọi điện thoại và nhắn tin để thông báo cho T biết nhưng không liên lạc được do điện thoại di động của T hết pin. Không liên lạc được với K nên vào khoảng 23 giờ 55 phút cùng ngày, T và S trả phòng rồi thuê xe taxi đưa trẻ N đến thuê phòng số 301 tại khách sạn S1, địa chỉ số F đường T, Khu phố B, phường A, Thành phố T để giữ trẻ N, chờ thông tin của K, S sau đó đi về nhà tại địa chỉ số A đường Số B, Khu phố A, phường T, thành phố T ngủ.
Đến 07 giờ ngày 09 tháng 7 năm 2022, S sử dụng xe mô tô biển số 59H1-261.08 đến khách sạn gặp T. Tại đây, S và T mở máy điện thoại lên tiếp tục nhắn tin cho bà L đe dọa với nội dung “Mày lừa tao à, mày báo Công an thì không cần nhận người nữa, nên nhớ con mày đang nằm trong tay tao, mày báo Công an là mày không muốn gặp con mày rồi, giờ mày muốn nhận người hay không”. Sau đó, S gọi điện thoại cho bà L rồi kêu T và trẻ N hét lên để cho bà L nghe, kêu bà L nhanh chóng chuyển số tiền 200.000.000 đồng vào tài khoản số 07860110597 của T mở tại Ngân hàng M, rồi S tắt điện thoại.
Bà Trịnh L do sợ cháu nội và con gái bị nhóm đối tượng bắt cóc hãm hại nên bà L cùng ông Lê Xuân D1 (cha của trẻ N) đến Công an phường H, thành phố T trình báo. Ngày 09 tháng 7 năm 2022, Công an thành phố T phối hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiến hành kiểm tra phòng 301 khách sạn S1, Số F đường T, Khu phố B, phường A, thành phố T phát hiện Trần Ngọc Kim T và Vũ Quốc S đang giữ trẻ Lê Xuân B Nam trong phòng nên đã đưa về trụ sở làm việc sau đó ra lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Ngày 25 tháng 7 năm 2022, Nguyễn Duy Anh K được vợ là Trần Ngọc Kim T và gia đình vận động, nên K đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đầu thú.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn Duy Anh K, Trần Ngọc Kim T và Vũ Quốc S khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi nêu trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 270/2023/HSST ngày 12-6-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
-
Căn cứ Điểm a Khoản 3 Điều 169; các điểm a, i Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Anh K phạm tội: “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A Khoa 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2022.
-
Căn cứ Điểm a Khoản 3 Điều 169; các điểm a, i Khoản 1 Điều 52; các điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Kim T phạm tội: “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Kim T 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 09 tháng 7 năm 2022 đến ngày 18 tháng 7 năm 2022.
-
Căn cứ Điểm a Khoản 3 Điều 169; các điểm a, i Khoản 1 Điều 52; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Vũ Quốc S phạm tội: “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Vũ Quốc S 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 7 năm 2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21-6-2023, bị cáo Nguyễn Duy Anh K, Vũ Quốc S có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 22-6-2023, bị cáo Trần Ngọc Kim T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 22-6-2023, bị hại Trịnh L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Ngọc Kim T.
Ngày 17-7-2023, bị cáo Vũ Quốc S có đơn xin rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo.
Ngày 20-9-2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 38/2023/HSPT-QĐ đối với kháng cáo của bị cáo Vũ Quốc S.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Nguyễn Duy Anh K, Trần Ngọc Kim T vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bà Trịnh L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Ngọc Kim T.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Ngọc Kim T, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy Anh K và sửa bán án hình sự sơ thẩm số 270/2023/HS-ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về hình thức đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Duy Anh K bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 11 (mười một) năm tù, bị cáo Trần Ngọc Kim T, bị cáo Vũ Quốc S bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo 10 (mười) năm tù về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Vũ Quốc S rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Vũ Quốc S.
[1] Nội dung: Tại phiên Tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm được tóm tắt nêu trên.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử: Do cần tiền tiêu xài và trả nợ, vào đầu tháng 7 năm 2022, Nguyễn Duy A Khoa bàn bạc với Trần Ngọc Kim T và Vũ Quốc S bắt cóc trẻ Lê Xuân Bảo N, sinh ngày 17 tháng 3 năm 2016 nhằm buộc bà Trịnh L là bà nội của trẻ N đưa số tiền chuộc là 200.000.000 đồng. Ngày 08 tháng 7 năm 2022, K ở nhà bà L để nghe ngóng tình hình, còn T cùng S đưa trẻ N đến giữ tại phòng số 001 của khách sạn N1, số A đường D, phường B quận B và phòng 301 khách sạn S1, đường số F T, khu phố B, phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, T, S dùng điện thoại nhắn tin, gọi điện đe dọa bà L đòi tiền chuộc, bà L chưa chuyển tiền thì T, S đã bị công an phường H, thành phố T bắt giữ tại khách sạn S1. Ngày 25 tháng 7 năm 2022, Nguyễn Duy A Khoa đầu thú.
Các bị cáo thực hiện hành vi bắt cóc trẻ Lê Xuân B Nam khi đó mới 06 tuổi 03 tháng 18 ngày, với mục đích chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng của bà Trịnh L. Việc bà L chưa chuyển tiền theo yêu cầu của các bị cáo không làm thay đổi mục đích chiếm đoạt ban đầu của các bị cáo cho nên thời điểm tội phạm hoàn thành là khi các bị cáo có hành vi bắt giữ trẻ N, gây áp lực để bà L chuyển tiền. Do đó hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” được quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 169 Bộ luật hình sự 2015 mà cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người đúng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm hại đối tượng là trẻ em và quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng trừng trị, giáo dục đối với các bị cáo và để phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Anh K và bị cáo Kim T thì thấy:
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Duy Anh K là chủ mưu, xúi giục, bị cáo Trần Ngọc Kim T và bị cáo Vũ Quốc S là đồng phạm có vai trò giúp sức, người thực hành. Do đó, bị cáo Nguyễn Duy Anh K phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn bị cáo S và bị cáo T. Do đó, hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Nguyễn Duy Anh K là tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Duy Anh K.
Đối với bị cáo Trần Ngọc Kim T, Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án này mặc dù bị cáo thực hiện với vai trò đồng phạm nhưng bị cáo là người bị động làm theo mệnh lệnh của bị cáo K (chồng bị cáo T), bản thân bị cáo T không có sự lựa chọn nào khác khi người chủ mưu cầm đầu là chồng của bị cáo và bị cáo đã thực hiện theo mệnh lệnh của bị cáo K là bắt cóc trẻ Bảo Nam là cháu ruột của bị cáo để nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của mẹ ruột mình là bà L là bà nội của trẻ N. Trong quá trình điều tra bị cáo T thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối hận những việc mình đã gây ra và là người rất tích trong việc khai báo, động viên bị cáo K ra đầu thú. Ngoài ra bị cáo T còn được mẹ ruột là bà L (bà nội của trẻ N) có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Xét về mặt tinh thần và vật chất thì chưa có thiệt hại xảy ra do bị cáo T là cô ruột của bé Bảo N và cũng là con ruột của bà L. Hơn nữa, bị cáo T là lao động chính trong gia đình của bà L và đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, con của bị cáo T đang mắc bệnh động kinh và đang phải điều trị. Bản thân T cũng đang bị bệnh và đang điều trị tại bệnh viện T2. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy đây là những tình tiết giảm nhẹ chưa được cấp sơ thẩm xem xét cho nên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
[3] Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo K, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm đối với phần hình phạt của bị cáo K; chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, sửa bản án hình sự sơ thẩm đối với phần hình phạt của bị cáo T là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Do kháng cáo của bị cáo K không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ nghị nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Duy Anh K, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 270/2023/HS-ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với phần hình phạt của bị cáo Nguyễn Duy Anh K.
- Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc Kim T, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 270/2023/HS-ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với phần hình phạt của bị cáo Trần Ngọc Kim T.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy Anh K, Trần Ngọc Kim T, Vũ Quốc S phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”
-
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 169; các điểm a, i khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A Khoa 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo K để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 169; các điểm a, i khoản 1 Điều 52; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc Kim T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 09/7/2022 đến ngày 18/7/2022.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Các thẩm phán |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
|
Phan Tô Ngọc |
Phan Văn Yên |
|
Phan Nhựt Bình |
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tối cao;
- - VKSNDCC Thành phố Hồ Chí Minh;
- - TAND TP Hồ Chí Minh;
- - Phòng thi hành án hình sự- TAND TP Hồ Chí Minh (2);
- - VKSND TP Hồ Chí Minh;
- - Cục THADS TP Hồ Chí Minh;
- - Trại Tạm giam CA TP Hồ Chí Minh;
- - Bị cáo (qua BGT Trại TG);
- - Bị cáo (theo đ/c);
- - Bị hại (theo đ/c);
- - Lưu hồ sơ 01, HCTP 5 (DTTP 18b).
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Yên |
Bản án số 1018/2023/HS-PT ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 1018/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy Anh K, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc Kim T, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm đối với phần hình phạt của bị cáo Trần Ngọc Kim T
