Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1018/2023/HC-PT

Ngày: 29 - 11 - 2023

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính

——————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng

Bà Lê Thúy Cầu

- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 17 và 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 640/2023/TLPT-HC ngày 02 tháng 10 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính".

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2023/HC-ST ngày 25-4-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2882/2023/QĐPT ngày 06-11-2023, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1966; bà Trịnh Thị Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: số B, tổ A, ấp P, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)

Người đại diện của người khởi kiện: Anh Dương Lê T; sinh năm 1987; nơi cú trú: tổ C, ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo ủy quyền (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 04-6-2022). (Có mặt)

- Người bị kiện:

  • + Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh - Ông Huỳnh Văn M. (Có mặt)
  • + Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh – Ông Phan Văn H. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Văn M – Chủ tịch (Có mặt).
  • + Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn H – Chủ tịch (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B; Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh: Ông Trịnh Văn Đ1 – Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B, tỉnh Tây Ninh; (Có mặt)

Người đại diện hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, Ủy ban nhân dân xã L: Bà Trần Thị Bé N – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L; là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 29-9-2022. (Vắng mặt)

Do có kháng cáo của người khởi kiện và kháng nghị của Viện kiểm sát.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung được tóm tắt như sau:

Trong đơn khởi kiên ngày 04-6-2022 của người khởi kiện ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ; lời trình bày của anh Dương Lê T là người đại diện của người khởi kiện, thể hiện:

Ngày 24/9/2021, vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ có gửi đơn khiếu nại Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã L về hành vi thực hiện không đúng quy định pháp luật về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) lần đầu cho ông B, bà Đ theo Quyết định số 2691/QĐ/UBND ngày 03/11/2020 của UBND tỉnh T đến Chủ tịch UBND xã L, yêu cầu giải quyết khiếu nại theo quy định pháp luật, với các lý do sau:

  • Thứ nhất, phần đất 32.323,4 m², của ông B, bà Đ sử dụng ổn định lâu dài từ trước đến nay, không có tranh chấp xảy ra.
  • Thứ hai, căn cứ bản án số 01/2021/HC-PT ngày 14/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, thể hiện chưa có tài liệu nào chứng minh diện tích đất nêu trên thuộc quỹ đất công ích 5% đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Đất đai qua các thời kỳ và hiện nay diện tích đất khu vực Bàu Tà Ôn UBND xã L đang quản lý nhưng chưa sử dụng, chưa giao cho tổ chức, cá nhân nào sử dụng. Như vậy diện tích đất này được xem là đất chưa sử dụng. Căn cứ Điều 164, 165 Luật Đất đai và Điều 22, 36 Nghị định số 43/2014 thì trường hợp của ông B, bà Đ được xem xét cấp GCNQDĐ theo quy định của pháp luật.
  • Thứ ba, từ trước tới nay ông B, bà Đ chưa nhận được bất kỳ quyết định thu hồi nào từ Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Tây Ninh. Nên việc Chủ tịch UBND huyện B yêu cầu ông B, bà Đ “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này có hiệu lực ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ có trách nhiệm di rời tài sản trên phần đất Bàu Tà Ôn diện tích là 32.323,4 m² thuộc thửa đất số 187, 218, 228, 229, 241, 235 tờ bản đồ số 15 (bản đồ VN 2000) tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh để giao trả lại đất cho nhà nước quản lý sử dụng vào mục đích công ích theo quy định” là trái quy định pháp luật.
  • Thứ tư, trong quyết định số 1437/UBND ngày 20/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện B có nêu việc quản lý đất công ích 5% của xã L là thiếu chặt chẽ để cho ông B, bà Đ chiếm sản xuất từ năm 2000 đến nay là sai với khoản 4 Điều 132 Luật đất đai năm 2013. Phần đất Bàu Tà Ô phía ông B, bà Đ đã đầu tư công sức, tiền bạc để cải tạo phần đất trên từ năm 1992 đến năm 2014. Chủ tịch UBND xã L biết nhưng không có ý kiến.

Nay người đại diện theo ủy quyền của ông B, bà Đ yêu cầu hủy Quyết định số 1473/QĐ-UBND ngày 20/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Tây Ninh và Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 11/1/2022 của Chủ tịch UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Ý kiến của Chủ tịch UBND xã L, huyện B:

Căn cứ ra quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 11/1/2022 của Chủ tịch UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh:

Chủ tịch UND xã L nhận đơn khiếu nại ngày 24-9-2021 của ông Nguyễn Văn B và bà Trịnh Thị Đ. Ngày 19-11-2021, đã ra Thông báo số 02/TB-UBND thụ lý giải quyết khiếu nại.

Căn cứ vào nguồn gốc đất, quá trình quản lý, sử dụng, kết quả đối thoại và quy định của pháp luật về đất đai. Ngày 11-01-2022, Chủ tịch UBND xã ban hành Quyết định số 07/QĐ-UBND giải quyết khiến nại lần đầu của ông B, bà Đ. Quyết định xác định UBND xã L xác định các thửa đất 187, 218, 228, 229, 241, 235 tờ bản đồ số 15 (bản đồ VN 2000) tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh có 32.323,4 m² thuộc đất Bàu Tà Ôn là đất công ích 5% do UBND xã quản lý. Quyết định số 07/QĐ-UBND ban hành đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 17 Luật khiếu nại năm 2011.

Tại Văn bản số 1104/UBND ngày 04-8-2022, Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Tây Nin; ý kiến của người bảo vệ Chủ tịch UBND huyện B, Chủ tịch UBND huyện B tại phiên tòa, thể hiện:

Căn cứ ra quyết định số 1473/QĐ-UBND ngày 20/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Tây Ninh:

Chủ tịch UBND huyện B nhận đơn khiếu nại đề ngày 26/01/2022, ông Nguyễn Văn B và bà Trịnh Thị Đ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B tiến hành xử lý việc chậm giải quyết đơn khiếu nại của ông B, bà Đ đề ngày 24/9/2021 đối với Chủ tịch UBND xã L và hủy Quyết định số: 07/QĐ-UBND, ngày 11/01/2022 của Chủ tịch UBND xã L về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ (lần đầu), với những nội dung như sau: Buộc UBND xã L thực hiện đầy đủ, đúng các trình tự, thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lần đầu cho ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ và xác nhận hoàn thiện bộ hồ sơ xin cấp giấy CNQSDĐ, trả kết quả giải quyết hồ sơ cho ông B, bà Đ theo đúng quy định pháp luật.

Sau khi xem xét nội dung đơn của ông Nguyễn Văn B; bà Trịnh Thị Đ yêu cầu và kết quả kiểm tra, xác minh và đối thoại trực tiếp, thể hiện như sau:

Qua xem xét đơn đề ngày 26/01/2022 của ông B, bà Đ và các hồ sơ, tài liệu có liên quan, Chủ tịch UBND huyện B nhận thấy ông B, bà Đ kê khai, đăng ký cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đối với một phần đất Bàu Tà Ô có diện tích 32.323, 4 m² thuộc thửa đất số 187, 218, 228, 229, 241, 235 tờ bản đồ số 15 (bản đồ VN 2000) tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh là không có cơ sở xem xét giải quyết. Cụ thể:

Ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ cho rằng phần đất Bàu Tà Ô (hiện ông đang đăng ký xin cấp giấy) được ông sản xuất ổn định từ năm 1992 đến nay là hoàn toàn không có cơ sở. Lý do: ông không cung cấp được giấy tờ chứng minh được thời điểm bắt đầu sử dụng đất, được quy định tại điểm a, Khoản 2, Điều 21, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013.

Diện tích đất mà ông B, bà Đ kê khai, đăng ký cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, theo sổ mục kê năm 1985 và năm 2008 đã được UBND xã L, UBND huyện B và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T phê duyệt đều thể hiện diện tích đất Bàu Tà Ôn là loại đất nông nghiệp do UBND xã L quản lý. Căn cứ Khoản 4, Điều 132, Luật Đất đai 2013 “Quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn do UBND cấp xã nơi có đất quản lý”. Như vậy, đất Bàu Tà Ô là đất nông nghiệp do xã L quản lý là quỹ đất công ích 5% của xã L. Đồng thời, theo trang 16, Sổ Địa chính năm 2008 ban hành kèm theo Thông tư số: 29/2004/TT-BTNMT, ngày 01/11/2004 của Bộ T2 về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính thì diện tích đất nêu trên được Sở T ký xác nhận chủ sử dụng đất là UBND xã L.

Hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ lần đầu của ông B, bà Đ gửi đến UBND xã L chưa đảm bảo các loại giấy tờ theo quy định tại khoản 2, điểm a Mục 3 về hành phần, số lượng hồ sơ, Thủ tục 01 trong Quy trình giải quyết thủ tục hành chính cấp xã thuộc thẩm quyền của ngành Tài nguyên và Môi trường thực hiện trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (Ban hành kèm Quyết định số: 1262/QĐ-UBND, ngày 11/6/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh T).

Việc UBND xã L xác nhận vào hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông B, bà Đ tại Mẫu số 04 a/ĐK, ngày 21/7/2021 với nội dung “Đất mà ông B, bà Đ xin cấp giấy CNQSDĐ có diện tích 32.323,4 m² gồm thửa: 187, 218, 228, 229, 241, 235 tờ bản đồ số 15 (BĐ hệ tọa độ VN B) tại ấp L, xã L, đây là đất Bàu Tà Ôn do UBND xã L quản lý, sử dụng thuộc quỹ đất công ích của xã” là có cơ sở. Đồng thời, không xác nhận các nội dung còn lại là phù hợp với quá trình quản lý quỹ đất công ích 5% của xã L.

Bên người khởi kiện, cho rằng thời hiệu giải quyết khiếu nại của UBND huyện B ghi trong Quyết định số 1473/QĐ-UBND ngày 20/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Tây Ninh là không đúng quy định pháp luật, căn cứ khoản 2 Điều 44 Luật Khiếu nại tố cáo năm 2011. Như vậy, Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định số: 1473/QĐ-UBND ngày 20/5/2022 về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ là đúng quy định pháp luật.

Ý kiến của Ủy ban nhân dân xã L, huyện B:

Phần đất của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ kê khai đăng ký thuộc thửa đất số 187, 218, 228, 229, 241, 235 tờ bản đồ số 15 (bản đồ VN 2000) tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh có 32.323,4 m². Sau khi nhận đơn yêu cầu đăng ký QSDĐ của ông B, bà Đ, UBND xã L tiến hành xem xét thì phát hiện phần đất này nằm trong sổ mục kê năm 1985, là đất Bàu Tà Ô có diện tích 50.937 m², thửa đất số 1232, tờ bản đồ số 04 do nhà nước quản lý. Đến năm 1998, tách địa giới hành chính giữa xã L và xã L nên một phần đất Bàu Tà Ô do xã L quản lý, còn một phần do xã L quản lý cụ thể diện tích là 32.323,4 m².

Về lịch sử phần đất này, từ năm 1976 đến năm 1982, UBND xã L giao cho tập đoàn sản xuất nông nghiệp cho ông Trương Văn T1 làm trưởng tập đoàn; từ năm đoạn 1980-1982 giao cho ông Ngô Văn B1 làm trưởng tập đoàn để trồng lúa. Do không đạt tiêu chuẩn nên không cải tạo tiếp tục trồng lúa. Gia đình ông B1 có xin UBND xã L cho gia đình ông được canh tác sản xuất nhưng UBND xã không chấp nhận.

Đến năm 2000, ông B, bà Đ tự ý đến canh tác đất Bàu Tà Ô mà không xin ý kiến của UBND xã. Năm 2013, 2014, 2015 UBND xã có mời ông B, bà Đ có làm việc với UBND xã về việc thu hồi đất, sau quá trình làm việc UBND xã thống nhất cho ông B sản xuất trong vụ Đ2 - Xuân năm 2013-2014, khi thu hoạch xong trả lại diện tích nêu trên cho UBND xã, ông B, bà Đ đồng ý và ký tên trong biên bản.

Căn cứ vào Sổ địa chính số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ T2 về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính, được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt ngày 18/9/2008 là đất của tổ chức. Ngoài ra, ông B, bà Đ cũng không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất, mốc thời gian sử dụng theo quy định tạ điểm a khoản 2 Điều 21 Ngị định số 43/2014/NĐ/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014. Do đó, UBND xã L khi tiếp nhận hồ sơ kê khai đăng ký của ông B, đã xác nhận các thửa đất số 187, 218, 228, 229, 241, 235 tờ bản đồ số 15 (bản đồ VN 2000) tại xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh có diện tích 32.323,4 m² là đất công ích.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 03/2023/HC-ST ngày 25-4-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Áp dụng Điều 132 Luật đất đai; Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Bác toàn bộ đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ về các yêu cầu sau:

  • - Yêu cầu hủy Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 11/1/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh;
  • - Yêu cầu hủy Quyết định số 1473/QĐ-UBND ngày 20/5/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 26/4/2023, người khởi kiện – ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B, bà Đ.

Ngày 09/5/2023, Viện trưởng VKSND tỉnh Tây Ninh ban hành QĐ kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-HC kháng nghị đối với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, bà Đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo – ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ có người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông B, bà Đ giữ nguyên toàn bộ yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy QĐ số 1473/QĐ-UBND ngày 20/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Tây Ninh và tuyên hủy QĐ số 07/QĐ-UBND ngày 11/01/2022 của Chủ tịch UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Người bị kiện – Chủ tịch UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh trình bày:

Bản án sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật, ông B, bà Đ kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông B, bà Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bị kiện – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày:

Vì đất là đất công thuộc quản lý của cấp xã, nên việc giao đất thuộc thẩm quyền của xã. Người khởi kiện cho rằng có sử dụng liên tục thì thấy rằng qua các biên bản xác minh thì không có ai xác nhận người khởi kiện có sử dụng, canh tác liên tục; phía người khởi kiện cũng không chứng minh được nguồn gốc đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là đúng thẩm quyền và còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị HĐXX chấp nhận. Đơn kháng cáo ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Tây Ninh, chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B, bà Trình Thị Đ3, hủy QĐ số 1473/QĐ-UBND ngày 20/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Tây Ninh và tuyên hủy QĐ số 07/QĐ-UBND ngày 11/01/2022 của Chủ tịch UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

  1. Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là đúng thẩm quyền và còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
  2. Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
  3. Về nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ:
    • [3.1] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm có cơ sở xác định:

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2021/HC-PT ngày 14/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc “Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính” giữa người khởi kiện là ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ và người bị kiện là UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh tuyên xử: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, bà Đ: 1. Hủy Thông báo số 47/TB-UBND ngày 16/9/2019 của Chủ tịch UBND xã L v/v từ chối giải quyết hồ sơ đối với ông B, bà Đ; 2. Buộc UBND xã L nhận lại hồ sơ đăng ký QSDĐ của ông B, bà Đ để xử lý theo quy định của pháp luật”.

Ngày 25/7/2021, ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ nộp lại hồ sơ xin cấp GCN QSDĐ đối với 32.323,4m² tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh theo Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả số 000.23.31.H53-210616-0001/BN ngày 16/6/2021 của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả xã L với ngày hẹn trả kết quả là ngày 14/7/2021 (BL 117).

Ngày 12/7/2021, UBND xã L xác nhận vào Đơn đăng ký, cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông B, bà Đ nội dung: “2. Nguồn gốc sử dụng đất: Đất mà ông B, bà Đ xin cấp GCN QSDĐ có diện tích 32.323,4m² gồm thửa 187, 218, 228, 229, 241, 235, tờ bản đồ số 15 (BĐ hệ tọa độ VN B) tại ấp L, xã L đây là đất Bàu Tầ Ôn do UBND xã L quản lý, sử dụng thuộc quỹ đất công ích của xã” (BL 116).

Sau đó, ông B, bà Đ có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Ngày 11/01/2022, Chủ tịch UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh ban hành QĐ số 07/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn B và bà Trịnh Thị Đ (lần đầu) có nội dung: “Bác đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ” (Quyết định bị kiện số 1).

Ngày 26/02/2022, ông B, bà Đ có đơn khiếu nại lần 2 đến Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Ngày 20/5/2022, Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Tây Binh ban hành QĐ số 1473/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ (lần 2) có nội dung:

  • “Điều 1. Không chấp nhận đơn khiếu nại đề ngày 26/01/2022 của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ cùng ngụ tại nhà số B, tổ A, ấp P, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh (lần hai).
  • Điều 2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực, ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ có trách nhiệm di dời tài sản trên phần đất Bàu Tà Ôn, diện tích 32.323,4 m² thuộc thửa 187, 218, 228, 229, 241, 235 tờ bản đồ số 15 (BĐ hệ tọa độ VN B) tại ấp L, xã L để giao trả lại đất cho Nhà nước quản lý, sử dụng vào mục đích công ích theo quy định” (Quyết định bị kiện số 2).

Ngày 04/6/2022, ông B, bà Đ có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án:

  • “1. Hủy QĐ số 1437/QĐ-UBND ngày 20/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện B; 2. Hủy QĐ số 07/QĐ-UBND ngày 11/01/2022 của Chủ tịch UBND xã L; 3. Yêu cầu UBND huyện B, UBND xã L tiến hành thủ tục cấp GCN QSDĐ theo đúng quy định pháp luật”.

Ngày 30/6/2022, TAND tỉnh Tây Ninh ban hành thông báo thụ lý vụ án số 37/2022/TLST-HC thụ lý đơn khởi kiện của ông B, bà Đ những yêu cầu cụ thể NKK yêu cầu Tòa án giải quyết: “1.Hủy Quyết định số 1473/UBND ngày 20/5/2022 của Chủ tịch UBND huyện B, tỉnh Tây Ninh; 2. Hủy Quyết định số 07/UBND ngày 11/1/2022 của Chủ tịch UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. 3. Yêu cầu Chủ tịch UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh làm thủ tục cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất”.

    • [3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cụ thể như sau:

[3.2.1] Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2021/HC-PT ngày 14/4/2021 của TAND tỉnh Tây Ninh tuyên xử: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, bà Đ: 1. Hủy Thông báo số 47/TB-UBND ngày 16/9/2019 của Chủ tịch UBND xã L v/v từ chối giải quyết hồ sơ đối với ông B, bà Đ; 2. Buộc UBND xã L nhận lại hồ sơ đăng ký QSDĐ của ông B, bà Đ để xử lý theo quy định của pháp luật” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ là Thông báo số 47/TB-UBND ngày 16/9/2019 của Chủ tịch UBND xã L, chưa xác minh tình trạng thi hành bản án hành chính phú thảm số 01/2021/HC-PT ngày 14/4/2021 của TAND tỉnh Tây Ninh là chưa đủ cơ sở giải quyết vụ án.

[3.2.2] Tại quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 11/01/2022 của Chủ tịch UBND xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh thể hiện giải quyết đơn khiếu nại ngày 24/9/2021 của ông B, bà Đ, nội dung khiếu nại: “Ông B cho rằng gia đình ông đến sản xuất và canh tác đất Bàu Tà Ô từ năm 1992, nên gia đình ông xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng UBND xã L xác nhận đây là quỹ đất công ích do UBND xã quản lý là không đúng theo bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh; Cũng trong đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ (mẫu 04a/ĐK) có nhiều nội dung mà UBND xã chỉ xác nhận một nội dung, còn nhiều nội dung bỏ trống; UBND xã L không tổ chức họp lấy ý kiến khu dân cư và cũng không thực hiện niêm yết công khai; UBND xã L cũng không thực hiện đúng và đầy đủ các trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ lần đầu theo quy định của pháp luật; Yêu cầu UBND xã L thực hiện đầy đủ các thủ tục theo pháp luật về việc gia đình ông làm đơn xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 32.323,4m² là đất Bàu Tà Ôn thuộc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh”. Xét thấy, việc xem xét tính hợp pháp, đúng pháp luật của QĐ giải quyết khiếu nại số 07/QĐ-UBND ngày 11/01/2022 của Chủ tịch UBND xã L cần xem xét đầy đủ đơn khiếu nại của ông B, bà Đ. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập đơn khiếu nại ngày 24/9/2021 của ông B, bà Đ là chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.

  1. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, chưa xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ nên trên mà tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B, bà Đ là chưa đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
  2. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót về thủ tục tố tụng, tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ, hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2023/HC-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần xác định những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong Bản án hành chính phúc thẩm số 01/2021/HC-PT ngày 14/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã có hiệu lực pháp luật là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 79 Luật tụng hành chính năm 2015 để giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
  3. Nhận định trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận một phần hoặc toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc toàn bộ quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, của người khởi kiện và người bị kiện.
  4. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ.

Hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2023/HC-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

  1. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả lại cho Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị Đ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000023 ngày 15/8/2023 Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. HCM;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Tây Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án (ĐTM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Toàn

Các Thẩm phán

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thúy Cầu

Nguyễn Văn Hùng

Vũ Đức Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1018/2023/HC-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính

  • Số bản án: 1018/2023/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hủy án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger