TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1016/2024/HS-PT Ngày 30 tháng 10 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tửu.
Bà Lê Thị Tuyết Trinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 683/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Do có kháng cáo của các bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T và kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, gồm: Bà Đào Mộng Đ và Ngân hàng Cổ phần Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 900/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 9 năm 2024.
Bị cáo có kháng cáo:
- Bùi Xuân P, sinh năm 1978, tại Đồng Nai (có mặt).
Nơi đăng ký HKTT: 161 P, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: 168/12, khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Nguyên Công an tỉnh Đ; Đảng viên đã bị khai trừ ra khỏi Đảng. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Xuân Đ1, sinh năm 1946 và con bà Phạm Thị Y, sinh năm 1956, có vợ: Huỳnh Thị Thanh H, sinh năm 1981 đã ly hôn, có 02 con, sinh năm 2007 và 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 13/7/2021, theo Lệnh bắt bị cáo để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
- Phạm Đức T, sinh ngày 17/12/1961, tại Đồng Nai (có mặt).
Nơi đăng ký HKTT: 420, đường N, khu phố E, phường T, thành phố B, Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: 42F/27, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Luật sư. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn C, sinh năm 1913 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1928 (đã chết); có vợ: Đào Mộng Đ, sinh năm 1967, có 02 con sinh năm 1990 và 1995; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 23/6/2021 theo Lệnh bắt bị cáo để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đang tại ngoại.
Bào chữa cho bị cáo Bùi Xuân P và Phạm Đức T: Luật sư Phạm Văn N, Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
Bị hại: Chị Nguyễn Vũ Hoàng O, sinh năm 1978.
Địa chỉ: C, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
- Bà Đào Mộng Đ, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Địa chỉ: D, KP4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
Địa chỉ: Tầng A, 2 Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp:
Ông Trần Hoàng M, Cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (có mặt).
Bà Nguyễn Kim N1, Cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (có mặt).
Bà Hồ Thị N2, Cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (vắng mặt).
Ông Nguyễn Thanh T1, Cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P- số B, U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong vụ án, có bị hại và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2015, Nguyễn Vũ Hoàng O, quen biết với Bùi Xuân P là cán bộ Công an tỉnh Đ. Qua tiếp xúc, P khoe có cậu là Phạm Đức T là Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ, có nhiều mối quan hệ quen biết với lãnh đạo Bộ C1. Vì tin tưởng P, trong khoảng thời gian từ ngày 18/10/2019 đến tháng 6/2020, O đã nhiều lần đưa cho P và T tổng số tiền 16.436.000.000 đồng để làm theo yêu cầu của O để “lo” cho ông Lê Văn H2 là Trưởng Công an huyện T lên chức Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ, “lo” cho ông Nguyễn Văn T2 cán bộ Phòng C2 Công an tỉnh Đ lên chức Phó Đội trưởng và O được trúng thầu mua cây tràm tại Trại giam Z. Mặc dù, Bùi Xuân P và Phạm Đức T không có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, chỉ huy trong Công an nhân dân, cũng như mua tài sản tại cơ quan, đơn vị trong Công an nhân dân nhưng P và T vẫn nhận tiền để làm theo yêu cầu của O, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Đầu năm 2018, O xây dựng Phòng khám Đ2, tại địa chỉ A ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Thông qua các mối quan hệ, O làm quen với ông Lê Văn H2 là Trưởng Công an huyện T. Sau đó, O nhờ ông H2 vận động một số Công ty trên địa bàn huyện T ký kết hợp đồng khám sức khỏe định kỳ với Phòng khám Đ2. Ông H2 đã giới thiệu giúp O một vài Công ty nhưng không nhận tiền, lợi ích vật chất từ O. Từ đó, O quý mến ông H2 và nảy sinh ý định tìm cách “lo” cho ông H2 lên chức Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ, sau này ông H2 sẽ giúp đỡ O trong hoạt động kinh doanh.
Khoảng tháng 10/2019, O liên lạc với P, chủ động đặt vấn đề “lo” cho ông H2 lên chức Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ thì P đồng ý. Sau đó, P liên hệ và nhờ T giúp đỡ. Mặc dù, T không có khả năng, cũng không liên lạc ai, không biết về quy trình bổ nhiệm cán bộ trong ngành Công an nhưng T vẫn báo với P “lo” được cho ông Lê Văn H2 lên chức Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ với giá 7.000.000.000 đồng, P phải đưa trước 5.000.000.000 đồng, còn lại 2.000.000.000 đồng đưa khi ông H2 có quyết định bổ nhiệm. Tính yêu cầu phải đưa ngay 500.000.000 đồng và chi phí đi lại (vé máy bay, khách sạn,...) để T bay ra Hà Nội gặp lãnh đạo Bộ C1. Tính hứa hẹn đến tháng 3/2020, ông H2 sẽ được bổ nhiệm và khi xong việc, T cho P 300.000.000 đồng.
Ngay sau đó, P báo lại với O số tiền phải “lo” là 14.000.000.000 đồng và yêu cầu phải chuyển tiền sớm cho P, O đồng ý. Trong thời gian từ ngày 18/10/2019 đến ngày 03/12/2019, O nhiều lần nhờ Nguyễn Tuấn T3 là tài xế của O, đứng tên chuyển vào tài khoản số 67010001001125 của Bùi Xuân P mở tại Ngân hàng B1- Chi nhánh Đ3 và đưa tiền mặt cho P với tổng số tiền 14.000.000.000 đồng.
Sau khi nhận tiền từ O, P chuyển và rút tiền sử dụng cá nhân như sau: Ngày 21/10/2019, chuyển 1.000.000.000 đồng vào tài khoản 19034592775010 của Đoàn Thị Quỳnh G mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Chi nhánh H3; ngày 29/11/2019, chuyển 1.000.000.000 đồng vào tài khoản 611704060881736 của Đoàn Thị Quỳnh G mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q - Chi nhánh H3; rút tiền trong tài khoản để sử dụng cá nhân và chỉ mang theo 650.000.000 đồng đến nhà T. Khi gặp T, P nói bạn của P (tức là O) đưa trước 650.000.000 đồng (trong đó có 150.000.000 đồng chi phí đi lại) và P xin T một ít tiền thì T đồng ý cho P 100.000.000 đồng nên P chỉ đưa 550.000.000 đồng cho T. Sau đó, T nói với P đã đặt vé máy bay ra Hà Nội để gặp lãnh đạo Bộ C1 xin cho ông H2 lên chức Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ. Tính tiếp tục yêu cầu P chuyển tiền cho T theo thỏa thuận ban đầu. P chuyển vào tài khoản số 42519619 của Phạm Đức T mở tại Ngân hàng A- Chi nhánh Đ3 số tiền 4.200.000.000 đồng.
Ngày 09/12/2019, T rút 2.500.000.000 đồng đưa cho vợ là Đào Mộng Đ gửi tiết kiệm tại Ngân hàng B2 chi nhánh Đ3. Đến ngày 09/6/2020, bà Đ rút 1.000.000.000 đồng, tiếp tục gửi 1.500.000.000 đồng còn lại với thời hạn 03 tháng. Đến ngày 09/10/2020, bà Đ rút toàn bộ số tiền này và được 141.878.651 đồng tiền lãi. Ngày 18/12/2019, T chuyển vào tài khoản 193237779 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 mở tại Ngân hàng A – Phòng G2 số tiền 1.123.330.200 đồng để mua xe Toyota Camry biển kiểm soát 60A – 736.78 .
Khoảng giữa tháng 12/2019, O hỏi P có ra Hà Nội gặp lãnh đạo Bộ C1 để “lo việc” không và kết quả thế nào thì P nói dối với O là đã trực tiếp đi cùng T ra Hà Nội, đã gặp lãnh đạo Bộ C1 và “lo được”, “cứ yên tâm” chờ kết quả.
Lần thứ hai: Đến đầu tháng 02/2020, tin tưởng P và T có mối quan hệ với lãnh đạo Bộ C1 nên O tiếp tục nhờ P nói với T “lo” cho O trúng thầu mua cây tràm tại Trại giam Z, tỉnh Bình Thuận thì P đồng ý. Mặc dù, không có khả năng, cũng không liên lạc nhờ ai nhưng P vẫn thỏa thuận với O chuẩn bị số tiền phải “lo” là 100.000 USD và 5.000USD chi phí đi lại. Sau đó, P đến nhà T hỏi T có quen ai để “lo” cho bạn (O) trúng thầu mua cây tràm tại Trại giam Z với giá 50.000USD. Mặc dù, không có khả năng tác động và cũng không quen ai nhưng T vẫn đồng ý. Ngày 12/02/2020, O nhờ Nguyễn Tuấn T3 đứng tên chuyển vào tài khoản số 67010001001125 của Bùi Xuân P mở tại Ngân hàng B1 - Chi nhánh Đ3 số tiền 2.436.000.000 đồng. Ngày 17/02/2020, P chuyển vào tài khoản số 42519619 của Phạm Đức T số tiền 1.160.000.000 đồng để T “lo” cho O trúng thầu mua cây tràm tại Trại giam Z theo thỏa thuận.
Ngày 18/02/2020, Phạm Đức T rút tiền trong tài khoản và đưa cho Đào Mộng Đ 1.000.000.000 đồng để gửi vào tài khoản của con gái là Phạm Đào Trúc G1 mở tại Ngân hàng B2 – Chi nhánh Đ3. Đến ngày 18/8/2021, G1 rút toàn bộ số tiền này và được 73.656.740 đồng tiền lãi. Số tiền còn lại P và T rút tiền trong tài khoản để sử dụng cá nhân.
Tháng 3/2020, thấy ông H2 chưa được bổ nhiệm, O nhờ P hỏi Tính tình hình, T nói dối là lãnh đạo Bộ C1 chuẩn bị vào Công an tỉnh Đ làm quy trình bổ nhiệm cho ông H2 lên chức Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ, cứ yên tâm chờ.
Lần thứ ba: Khoảng tháng 6/2020, P khoe với O là Phạm Đức T đang “lo” cho P quay về công tác tại Phòng C2 Công an tỉnh Đ và lên chức Phó đội trưởng (thời điểm này P là cán bộ Phòng Công tác chính trị). Nghe vậy, O nhờ P nói T “lo” giúp cho ông Nguyễn Văn T2 là người sống chung như vợ chồng với O, đang công tác tại Phòng C2 Công an tỉnh Đ lên chức Phó đội trưởng Phòng C2 Công an tỉnh Đ. P đồng ý và đến nhà T nhờ “lo” giúp, mặc dù không biết quy trình bổ nhiệm cán bộ trong ngành Công an nhưng T vẫn đồng ý “lo” và báo giá là 20.000USD. Sau đó, P báo lại với O số tiền phải “lo” là 40.000USD. O đồng ý chi số tiền này nhưng do đang khó khăn nên nhờ P mượn tiền đưa trước cho T. Vài ngày sau, P nói dối với O đã mượn được 40.000USD và đưa cho T để “lo” cho ông T2 lên chức Phó đội trưởng. Sau đó, P đến nhà T, dự định đưa cho T 400.000.000 đồng để “lo” việc này nhưng T nói để lo xong hai việc kia đã nên chưa nhận.
Thời gian sau đó, O liên tục hỏi việc “lo” cho ông H2 lên chức Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ thì P và T vẫn khẳng định “lo được”. Đến tháng 3/2021, ông H2 nghỉ hưu theo quy định của ngành Công an nên O hối thúc, yêu cầu P trả lại tiền. Lúc này, P nói đã đưa tiền cho T chung chi cho người khác nên không lấy lại được. Đến ngày 15/6/2021, O đến Công an tỉnh Đ trình báo sự việc.
Quá trình điều tra, Nguyễn Vũ Hoàng O khai tổng số tiền đã đưa cho Bùi Xuân P là 19.936.000.000 đồng. Tuy nhiên, kết quả điều tra chỉ xác định P chiếm đoạt của O số tiền 16.436.000.000 đồng. Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ tháng 5/2020 đến tháng 01/2021, O nhiều lần vay mượn, trả tiền cho P với mục đích làm ăn, kinh doanh nhưng đây là các giao dịch về dân sự, không liên quan đến vụ án.
Sau khi nhận số tiền 16.436.000.000 đồng từ Nguyễn Vũ Hoàng O, P chỉ giao lại cho T 5.910.000.000 đồng, số tiền còn lại P dùng để mua xe ô tô Honda CRV biển số 60A- 721.25, chuyển vào tài khoản 19034592775010 của Đoàn Thị Quỳnh G mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Chi nhánh Đ3 số tiền 1.000.000.000 đồng vào ngày 21/10/2019 trả nợ cho G, chuyển vào tài khoản 611704060881736 của Đoàn Thị Quỳnh G mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q – Chi nhánh Đ3 số tiền 1.000.000.000 đồng vào ngày 29/11/2019 để Giao mua xe ô tô, số còn lại tiêu xài và sử dụng vào mục đích cá nhân.
Sau khi nhận tiền từ P, T dùng để mua xe ô tô Toyota Camry biển số 60A- 736.78; mở sổ tiết kiệm số tiền 1.000.000.000 đồng đứng tên con gái là Phạm Đào Trúc G1 và sổ tiết kiệm số tiền 2.500.000.000 đồng đứng tên vợ là Đào Mộng Đ, tại Ngân hàng A - Chi nhánh Đ3, với mục đích để lãnh tiền lãi; số tiền còn lại T tiêu xài và sử dụng vào mục đích cá nhân. Tính đến thời điểm tất toán tiền gửi tiết kiệm, gia đình T đã thu lợi (tiền lãi) tổng số tiền là 215.535.391 đồng. Ngày 22/02/2022, bà Đ đã tự nguyện nộp vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ số tiền 30.000.000 đồng để khắc phục.
Theo yêu cầu của Phạm Đức T, ngày 24/11/2020, Phạm Đào Trúc G1 chuyển vào tài khoản 175936039 của Bùi Xuân P số tiền 1.000.000.000 đồng; ngày 11/01/2021, bà Đào Mộng Đ chuyển vào tài khoản 67010001001125 của Bùi Xuân P mở tại Ngân hàng B1 số tiền 950.000.000 đồng và đưa tiền trực tiếp 50.000.000 đồng để trả 1.000.000.000 đồng cho P theo yêu cầu của Phạm Đức T.
Tính nhiều lần khắc phục, trả lại số tiền 5.910.000.000 đồng đã nhận của P, còn P nhiều lần khắc phục, trả lại cho O tổng số tiền là 3.500.000.000 đồng. Bùi Xuân P cung cấp sao kê trong khoảng thời gian từ ngày 26/5/2020 đến 03/02/2021, sử dụng tài khoản 175936039 mở tại Ngân hàng A, tài khoản 67010001001125 mở tại Ngân hàng B1 đã chuyển trả cho Nguyễn Vũ Hoàng O và Liêu Thị Thanh T4 với tổng số tiền 6.100.000.000 đồng; ngoài ra, đưa tiền mặt 3.000.000.000 đồng nhưng P không có giấy tờ chứng minh. Tuy nhiên, theo kết quả sao chụp tin nhắn Zalo giữa Nguyễn Vũ Hoàng O (Doanh nghiệp B3) và Bùi Xuân P cho đến thứ bảy ngày 17/10/2020, O còn nhắn tin Zalo với P nội dung “Có thông tin báo cho em mừng nha a, e đang đếm từng giây, a là điểm tựa cho gia đình e hiện tại; A ơi tình hình em không biết nói sao, e biết a cũng rất mệt mỏi và anh rất thương ông T2 nhà em, e thấy bao đăng bác về Hưng Yên làm lễ ngoài đó từ hôm qua, không biết bác có chi dạo việc gì trong day ko? Có gi a hoi cau xem sao, e lo qua a”... Và nội dung chuyển tiền ghi “Hum lam an”. Cho đến tháng 3/2021 khi nghe tin ông Lê Văn H2 nghỉ hưu thì O mới nghi ngờ và đòi tiền P.
Như vậy, tất cả các giao dịch giữa Nguyễn Vũ Hoàng O và Bùi Xuân P trước tháng 3/2021 là giao dịch làm ăn giữa O và P là phù hợp thực tế và lời khai hai bên.
Đối với các giao dịch Bùi Xuân P chuyển tiền vào tài khoản 190352455512014 của Liêu Thị Thanh T4 mở tại Ngân hàng T6 từ ngày 17/4/2021 đến ngày 07/5/2021 với tổng số tiền 1.250.000.000 đồng là phù hợp lời khai của Nguyễn Vũ Hoàng O thừa nhận P trả tiền khắc phục hậu quả.
Bà Đào Mộng Đ đã nộp 215.535.391 đồng thu lợi bất chính theo biên lai số 16462818 và 17946008 của Kho bạc Nhà nước Đ4.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Bùi Xuân P và Phạm Đức T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Quyết định hình phạt:
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân P 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2021.
Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 12 (mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại giam thi hành án được trừ đi thời hạn bị cáo đã bị tạm giam trước từ ngày 23/6/2021 đến ngày 24/11/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 25/6/2024, bị cáo Bùi Xuân P kháng cáo đề nghị xem lại tội danh và số tiền phải bồi thường. Ngày 01/7/2024, bị cáo Phạm Đức T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 01/7/2024, bà Đào Mộng Đ kháng cáo đề nghị trả lại xe ô tô, biển kiểm soát 60A-736.78. Ngày 17/7/2024, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q kháng cáo đề nghị giao cho Ngân hàng xe ô tô, biển kiểm soát 60A-721.25.
Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên kháng cáo.
Bị cáo Bùi Xuân P trình bày: Bị cáo thừa nhận có phạm tội, nhưng cho rằng không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” vì bà O chủ động nhờ bị cáo chứ không phải bị cáo gợi ý. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại số tiền bị cáo phải bồi thường do bị cáo đã trả cho bà O số tiền 3.500.000.000 đồng.
Bị cáo Phạm Đức T trình bày: Bị cáo không lừa đảo, không có hành vi chiếm đoạt. Đối với số tiền mua xe ô tô Toyota, bị cáo có lấy số tiền P đưa cho vợ (Đ) để mua xe ô tô nhưng đã trả lại ngay sau đó. Ngoài ra, chiếc điện thoại iphone không liên quan đến vụ án nhưng bị cơ quan điều tra tịch thu. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét làm rõ.
Đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, giao cho Ngân hàng chiếc xe ô tô do P đã thế chấp hợp pháp để Ngân hàng xử lý theo quy định.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các bị cáo đã tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo hợp lệ, đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Về số lần phạm tội và số tiền mà bà O đã đưa cho các bị cáo đã được xác định rõ không thay đổi gì so với bản án sơ thẩm. Tổng số tiền các bị cáo lừa đảo là 16.436.000.000 đồng. Việc không làm được mà hứa hẹn làm cho người khác tin tưởng giao tiền cho mình là hành vi lừa đảo. Bị cáo T cho rằng nhận tiền để ra Hà Nội gặp ai đó là bị cáo trình bày, không có gì chứng minh. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Cả 2 bị cáo đều cùng thực hiện một hành vi là lừa đảo bà O thì các bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm liên đới về dân sự. Chiếc xe Camry được hình thành từ việc bị cáo phạm tội mà có, bị cáo T thừa nhận đã chuyển số tiền cho vợ để mua xe, nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tạm giữ để đảm bảo thi hành án là có căn cứ. Đối với chiếc xe Honda mà bị cáo P mua, trong đó vay của Ngân hàng Q là 700 triệu đồng, chứng từ thể hiện Ngân hàng đã chuyển số tiền này cho Công ty bán xe, bị cáo đã sử dụng ô tô này để thế chấp ngân hàng. Vì vậy, việc bản án sơ thẩm tuyên giữ xe này để đảm bảo thi hành án là có cơ sở. Tuy nhiên, việc xử lý chiếc xe Honda này phải ưu tiên trả cho Ngân hàng, sau đó số tiền còn lại sẽ để đảm bảo thi hành bản án đối với bị cáo P.
Đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm, tuyên bác kháng cáo của bị cáo P và bị cáo T về tội danh và giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo của bà Đ; chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng, chiếc xe vẫn được tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho Ngân hàng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Phúc trình B:
Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra tiến hành khám xét chiếc xe ô tô của bị cáo P thì chỉ có số tiền 8 triệu đồng, còn các chứng cứ có liên quan như chiếc điện thoại cùng với giấy nợ...không được thể hiện trong hồ sơ vụ án, việc khám xét xe này không có sự chứng kiến của bị can P. Bản án sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là không đúng với hành vi của các bị cáo. Bà O là người chủ động liên hệ với P để nhờ T giúp cho ông H2 lên chức, bị cáo P không hề dùng thủ đoạn gian dối để bà O tin tưởng. Hành vi của bị cáo P không phải là lừa đảo; cần xem xét xử lý bà O, ông H2 trong cùng một vụ án này để làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo P. Bản án sơ thẩm có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với bà O, ông H2, nên không làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Do đó, việc buộc các bị cáo trả lại toàn bộ số tiền cho bà O là không có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, hủy bản án sơ thẩm để điều tra làm rõ hành vi của bà O, ông H2.
Luật sư bào chữa cho bị cáo T trình bày: Ông T đã cho bà Đ mượn tiền để mua xe ô tô nhưng sau đó bà Đ để trả đủ. Ông T đã trả đủ tiền nhận từ P trước khi bà O tố cáo với cơ quan điều tra. Nếu buộc ông P và ông T liên đới bồi thường thì cho bà Đ phải được nhận lại số tiền đã cho ông T mượn. Nếu không thì cho bà Đ nhận xe ô tô đã mua. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để xem xét lại vấn đề này.
Bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T đồng ý nội dung bào chữa của Luật sư và không trình bày gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Xuân P và Phạm Đức T xác định đã thực hiện hành vi như bản án sơ thẩm đã nêu; mối quan hệ giữa Nguyễn Vũ Hoàng O với bị cáo P và giữa bị cáo P với bị cáo T; số tiền Nguyễn Vũ Hoàng O giao cho P và số tiền P giao cho T là đúng. Tuy nhiên, bị cáo P không có hành vi lừa Nguyễn Vũ Hoàng O mà do O chủ động nhờ P nên đã đưa tiền cho P để “lo” chức Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ cho ông Lê Văn H2 và một số việc khác. Bị cáo T có quen biết người có thẩm quyền và đã thực hiện một số việc nhưng không đạt kết quả chứ T không lừa O. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là không đúng. Các bị cáo xác định có hành vi phạm tội nhưng không phải là tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
[4] Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định:
Lợi dụng vào sự tin tưởng của bị hại (Nguyễn Vũ Hoàng O), sau khi bị cáo Bùi Xuân P đề xuất việc chạy chức cho ông Lê Văn H2 là Trưởng Công an huyện T lên làm Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ với bị cáo Phạm Đức T và được T đồng ý với chi phí là 7 tỷ đồng, bị cáo P trực tiếp yêu cầu bị hại đưa số tiền 14 tỷ đồng để lo chạy chức cho ông H2; ngoài ra, P còn nhận lo cho ông Nguyễn Văn T2, cán bộ Phòng C2 Công an tỉnh Đ lên chức Phó Đội trưởng và việc O được trúng thầu mua cây tràm tại Trại giam Z, với tổng số tiền trên 16.436.000.000 tỷ đồng.
Trong thời gian từ 18/10/2019 đến tháng 6/2020, do tin tưởng trong việc hứa hẹn chạy được chức vụ cho người khác nên Nguyễn Vũ Hoàng O đã 03 lần đưa cho Bùi Xuân P tổng số tiền 16.436.000.000 đồng để “lo” cho ông Lê Văn H2 lên chức Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ, “lo” cho ông Nguyễn Văn T2 lên chức Phó Đội trưởng và O được trúng thầu mua cây tràm tại Trại giam Z. Sau khi nhận được tiền từ O, Bùi Xuân P đã đưa cho Phạm Đức T 5.910.000.000 đồng để lo chạy chức cho ông H2.
Mặc dù Bùi Xuân P và Phạm Đức T không có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, chỉ huy trong lực lượng Công an nhân dân, cũng như mua tài sản tại cơ quan, đơn vị trong Công an nhân dân nhưng Bùi Xuân P và Phạm Đức T đã 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Vũ Hoàng O, với tổng số tiền là 16.436.000.000 đồng.
[5] Hành vi của các bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây mất uy tín của cán bộ đảng viên trong ngành Công an nhân dân.
[6] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a, khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
[7] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T, thấy rằng: Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Bùi Xuân P 15 năm tù, Phạm Đức T 12 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T cũng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, hình phạt tù của bản án sơ thẩm nêu trên đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.
[8] Đối với kháng cáo của bà Đào Mộng Đ: Chiếc xe ôtô Toyota, biển kiểm soát 60A - 736.78 được mua từ nguồn tiền do bị cáo T chiếm đoạt của bị hại. Mặc dù, bị cáo T đã nộp lại số tiền chiếm đoạt và bản án sơ thẩm cũng không xác định trách nhiệm dân sự đối với bị cáo T. Tuy nhiên, bị cáo P và bị cáo T cùng có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại và hiện nay, bị cáo P vẫn có trách nhiệm dân sự đối với số tiền chiếm đoạt là 10.936.000.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tiếp tục tạm giữ xe ô tô trên để đảm bảo thi hành án là đúng pháp luật.
[9] Đối với kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q: Bị cáo P vay 700.000.000 đồng và thế chấp chiếc xe 01 xe ô tô hiệu Honda CRV, biển kiểm soát 60A-721.25.
Hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 27/11/2019, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và Bùi Xuân P ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp xe ô tô biển kiểm soát 60A - 721.25. Cùng ngày 27/11/2019, Ngân hàng giải ngân và chuyển số tiền 700.000.000 đồng cho Công ty TNHH Đ5. Như vậy, tiền mua xe ô tô trên từ nguồn vay của Ngân hàng, không phải tiền do phạm tội mà có. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án, đồng thời giành quyền khởi kiện cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với bị cáo P bằng một vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu là không đúng quy định, ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng.
Trường hợp này, chiếc xe ô tô biển kiểm soát 60A - 721.25 trên vẫn là tài sản thế chấp hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, chiếc xe này phải được giao cho Cơ quan thi hành án dân sự để bán đấu giá theo quy định, số tiền thu được sẽ giao cho Ngân hàng để thực hiện theo hợp đồng tín dụng giữa Ngân hành với bị cáo P. Trường hợp còn dư thì được xem là số tiền bảo đảm thi hành án của bị cáo P.
Vì vậy, kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có căn cứ chấp nhận một phần.
[10] Trong vụ án này, Nguyễn Vũ Hoàng O đã sử dụng số tiền đưa cho bị cáo P nhằm mục đích bất hợp pháp. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo P và chị Đoàn Thị Quỳnh G có nghĩa vụ bồi thường cho Nguyễn Vũ Hoàng O 10.936.000.000 đồng và 2.000.000.000 đồng là không đúng. Số tiền này bị cáo và bà G phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước.
[11] Trong vụ án này, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyếtsố 1705/QĐ-VKS-P2 đìnhvụ án đối với bị can và miễn trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Vũ Hoàng O. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ. Đối với ông Lê Văn H2, quá trình điều tra chưa có cơ sở xác định Nguyễn Vũ Hoàng O bàn bạc với ông Lê Văn H2 để “lo” ông H2 lên chức Phó Giám đốc Công an tỉnh Đ. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đang tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định pháp luật là đúng pháp luật.
Vì vậy, việc bị cáo và người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để xem xét vai trò của Nguyễn Vũ Hoàng O và ông Lê Văn H2 là không có căn cứ.
[12] Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T và kháng cáo của bà Đào Mộng Đ; Chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; sửa một phần bản án về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng. Các bị cáo và bà Đ phải chịu án phí phúc thẩm; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q không phải chịu án phí phúc thẩm.
[13] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Đào Mộng Đ.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
- Sửa Bản án sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
- Tuyên bố các bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017),
- Xử phạt bị cáo Bùi Xuân P 15 (mười lăm) năm tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2021.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Bùi Xuân P để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017),
- Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 12 (mười hai) năm tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại giam thi hành án được trừ đi thời hạn bị cáo đã bị tạm giam trước từ ngày 23/6/2021 đến ngày 24/11/2023.
- Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 401; Khoản 5 Điều 275, Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự,
- Buộc bị cáo Bùi Xuân P phải có trách nhiệm nộp số tiền chiếm đoạt của Nguyễn Vũ Hoàng O là 10.936.000.000 (mười tỷ, chín trăm ba mươi sáu triệu) đồng vào ngân sách nhà nước.
- Buộc chị Đoàn Thị Quỳnh G phải phải có trách nhiệm nộp số tiền chiếm đoạt của chị Nguyễn Vũ Hoàng O là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng vào ngân sách nhà nước.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng để đảm bảo thi hành án theo Biên lai số 0000802 ngày 17/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
- Về xử lý vật chứng:
- Tiếp tục tạm giữ xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại CAMRY, biển số 60A-73678 (màu sơn đen, số khung MR2BN3HK904005927, số máy 6ARP543390) và giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô trên để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Tiếp tục tạm giữ xe ô tô nhãn hiệu HONDA, số loại CRV, biển số 60A-721.25 (màu sơn trắng, số khung MRHRW1870KP088605, số máy L15BG2225034) và các giấy tờ, gồm: 01 Giấynhận đăng ký xe 60A-721.25 (bản pho to); 01 Giấychứng nhận bảo hiểm xe bắt buộc trách nhiệm dân sự đối với xe 60A-721.25; 01 giấy kiểm định đối với xe 60A-721.25 để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Đ có trách nhiệm bán tài sản là xe ô tô nhãn hiệu HONDA, số loại CRV, biển số 60A-721.25 (màu sơn trắng, số khung MRHRW1870KP088605, số máy L15BG2225034) theo quy định pháp luật. Số tiền thu được sẽ trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q để thực hiện theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với bị cáo P theo quy định pháp luật. Trường hợp còn dư thì số tiền đó là tiền để bảo đảm thi hành án của bị cáo Bùi Xuân P.
- Hai xe ô tô nêu trên hiện Cơ quan Điều tra PC01 – Công an tỉnh Đ đang trông coi, bảo quản (do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai chưa có kho), không kiểm tra tình trạng kỹ thuật bên trong xe.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Theo Bản án sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Án phí hình sự phúc thẩm:
Bị cáo Bùi Xuân P, Phạm Đức T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bà Đào Mộng Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đức Phương |
Bản án số 1016/2024/HS-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 1016/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng
