Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1016/2024/DS-PT

Ngày: 06 - 12 - 2024

V/v “Tranh chấp thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thanh

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 597/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 104/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6962/2024/QĐPT ngày 07 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1957. Địa chỉ: B T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

    Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1974. Địa chỉ: 3 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1956. Địa chỉ: H Lake Otis P, A, A, Hoa Kỳ. Địa chỉ đăng ký HKTT và đang tạm trú: 6 L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Nguyễn Thị Minh T (Thu Minh G), sinh năm 1950. Địa chỉ: A E, A, A, Hoa Kỳ. Vắng mặt.

    2. Ông Nguyễn Sĩ H, sinh năm 1955. Địa chỉ: H Lake Otis P, A, A, Hoa Kỳ. Vắng mặt.

    3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967. Địa chỉ: F F, A, A, Hoa Kỳ. Vắng mặt.

    4. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969. Địa chỉ: A E, A, A, Hoa Kỳ. Vắng mặt.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà L, ông C, ông H: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1974. Địa chỉ: 3 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

    5. Ông Nguyễn Anh K, sinh năm 1981. Địa chỉ: B L, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1974. Địa chỉ: 3 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

    6. Bà Nguyễn Thị Tú H1, sinh năm 1971. Có mặt.

    7. Bà Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm 1972. Vắng mặt.

    8. Bà Lưu Ngọc H2, sinh năm 1992. Vắng mặt.

    9. Bà Phan Tấn Hàn C1, sinh năm 1997. Vắng mặt.

    10. Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1996. Vắng mặt.

    11. Trẻ Hồ Ngọc T2, sinh năm 2012. Vắng mặt.

      Cùng trú: 6 L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Ông Lương Khải Â, sinh năm 1975. Địa chỉ: 3 đường số H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Do có kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tú H1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M trình bày trình bày:

Cha mẹ của bà Nguyễn Thị Ngọc M là ông Nguyễn Văn T3 (sinh năm 1928 - chết ngày 01/5/1993) và bà Nguyễn Thị D (sinh năm 1933 - chết ngày 02/10/2018) đều đã chết và không để lại di chúc. Ông T3, bà D có tất cả 07 người con gồm 02 người con nuôi là bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn C và 05 người con ruột là các ông, bà: nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Ngọc M, bị đơn - Nguyễn Thị Q; Nguyễn Thị Minh T, ông Nguyễn Sĩ H và ông Nguyễn Anh T4 (sinh năm 1960, chết ngày 18/11/1983). Ông T4 có một người con là Nguyễn Anh K, sinh năm 1981. Cha mẹ của ông Nguyễn Văn T3 là ông Nguyễn Văn T5, bà Nguyễn Thị T6, cha mẹ của bà Nguyễn Thị D là ông Nguyễn Văn K1, bà Nguyễn Thị K2 đều đã chết từ rất lâu, chết trước ông T3, bà D, ông T3, bà D không có con riêng.

Về nguồn gốc toàn bộ tài sản nguyên đơn bà M yêu cầu chia thừa kế là nhà đất hiện nay tọa lạc số F L, Phường H, quận G, trước đó có số cũ 3 Q, Phường A, Quận G, đến năm 2004 mới có quyết định đổi số nhà. Nhà đất này là do ông T3, bà D tạo lập và đã được Ủy ban nhân dân quận G cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2148/2004 ngày 10/3/2004, với diện tích đất 106,29m² và diện tích xây dựng là 93,57m² thuộc thửa đất 13 tờ bản đồ 123 Phường A, quận G. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất do UBND Quận G cung cấp, thể hiện bà D là người nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất, xin giấy phép xây dựng số 544/GPXD ngày 12/5/2004 và xây nhà trong năm 2004, đến nay nhà chưa được hoàn công do lúc đó xây sai giấy phép. Khi làm giấy tờ nhà đất năm 2004, bà D là người kê khai, nộp thuế.

Bà Nguyễn Thị Tú H1 con của bị đơn - bà Nguyễn Thị Q cho rằng nhà do bà H1 ký hợp đồng bỏ tiền xây và đất bà H1 thương lượng mua thêm 52,05m²; đóng thuế cho Nhà nước theo tờ khai ngày 01/4/2004, giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước theo biên lai ngày 5/4/2004 nhưng không có tài liệu nào chứng minh nhà đất này do bà H1 bỏ tiền ra mua thêm đất và đi đăng ký kê khai, xây nhà năm 2004 vì bà H1 chỉ là cháu ngoại, không có việc làm và phải nuôi con, chủ yếu được bà Q giúp đỡ và chỉ sống cùng nhà bà D, bà Q nên không có tiền xây nhà.

Nay nguyên đơn bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án chia đều di sản thừa kế của ông T3, bà D là nhà đất số F L, Phường H, quận G, Tp . cho 07 đồng thừa kế gồm Nguyễn Thị Ngọc M, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị Minh T (Minh Thu G1), bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Sĩ H, ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Anh K (người thừa kế của Nguyễn Anh T4). Chỉ đồng ý tính công sức trong việc gìn gìn bảo quản nhà của bà H1 là 630.000.000 đồng và đề nghị Cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản khi bản án có hiệu lực pháp luật, sau khi khấu trừ số tiền công sức này phần còn lại chia đều theo giá trị tài sản cho các đồng thừa kế nêu trên. Những người hiện nay đang thường trú tại địa chỉ nhà đất đang tranh chấp gồm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Q và các con Nguyễn Thị Tú H1, Nguyễn Thị Ngọc N1; các cháu ngoại bà Q gồm Lưu Ngọc H2 và Phan Tấn Hàn C1, yêu cầu ra khỏi nhà đất nêu trên để Thi hành án phát mãi. Theo Chứng thư thẩm định giá số 2511/2022 ngày 10/8/2022, của Công ty TNHH Đ đã xác định quyền sử dụng diện tích đất 106,29m² là: 9.660.698.100 đồng và công trình xây dựng là nhà ở 03 tầng có giá: 874.843.380 đồng. Tổng cộng: 10.535,546.380 đồng, đây là giá trị chỉ để xem xét.

Về trình bày của bị đơn bà Nguyễn Thị Q:

Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và các thông báo nêu rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; ý kiến phản bác của bà H1 và yêu cầu bà Q cung cấp ý kiến, chứng cứ và yêu cầu phản tố nếu có. Bà Q biết việc nguyên đơn bà M khởi kiện và hiện đang ở Việt Nam nhưng không cung cấp ý kiến và không đến tham gia phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.

Theo các công văn trả lời của Cục Q1 – Bộ C3; Công an P, Quận G; ý kiến của bà Nguyễn Thị Tú H1 và bên nguyên đơn, thì: Trước đây bà Q sinh sống cùng bà D và có hộ khẩu thường trú tại 3 L, Phường A (Số cũ), Quận G Thành phố Hồ Chí Minh. Thời điểm Tòa án Quận G thụ lý vụ án (chưa chuyển vụ án) bà Q đang cư trú tại H Lake Otis Parkway A, A, A, Hoa Kỳ. Theo các công văn trả lời của Cục Q1 Bộ C3 về thông tin xuất nhập cảnh của bà Q, thì bà Q đã sử dụng 03 hộ chiếu phổ thông Việt Nam số: BN0225119; B0144792; N1466007 (Nay đã hết hạn) để xuất nhập cảnh 14 lần. Sử dụng hộ chiếu Mỹ số [...] để xuất nhập cảnh 03 lần và lần gần nhất nhập cảnh vào Việt Nam ngày 04/6/2022, nay chưa xuất cảnh. Theo các kết quả trả lời ngày 16/3/2021; ngày 13/12/2022, ngày 27/2/2023, ngày biên bản làm việc ngày 21/3/2023 về thông tin cư trú của bà Q khi nhập cảnh về Việt Nam của Công an P, Quận G: Bà Q có hộ khẩu thường trú và cư trú tại 6 L, Phường H, Quận G (Số C Q) từ ngày 8/8/1994 đến ngày 28/7/2006 thì xóa đăng ký thường trú do xuất cảnh qua Mỹ năm 2004. Bà Q hiện nay đang cư trú tại 6 L, Phường H và có đăng ký tạm trú tại đây. Ý kiến của bà Nguyễn Thị Tú H1: Bà Q có đăng ký hộ khẩu và nay vẫn đang ở Việt Nam tạm trú tại nhà F L, Phường H, G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Q biết việc bà M yêu cầu chia nhà đất này, bà Q vẫn còn minh mẫn, nhưng có bệnh truyền nhiễm không đến Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tú H1 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Về mối quan hệ huyết thống giữa bị đơn bà Q, bà H1 với ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị D và thời điểm chết của ông T3, bà D; mối quan hệ với nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M và tất cả các đương sự trong vụ án, về hàng thừa kế của ông T3, bà D thì bà H1 hoàn hoàn thống nhất với nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Tú H1 hiện cư ngụ tại: 6 L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Gia đình bà H1 có nhận Thông báo ngày 09/7/2019 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh mời mẹ ruột bà là bà Nguyễn Thị Q (Địa chỉ 69/19 Lê Văn T7), tham gia tố tụng vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản” thụ lý số 387/DSST ngày 11/6/2019, theo đơn kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc M nhưng lúc đó bà Q không sống ở Việt Nam.

Căn nhà các đương sự yêu cầu chia thừa kế hiện gia đình bà H1 đang sinh sống là do chính bà H1 đã bỏ tiền ra mua đất xây dựng nhà, quản lý, sử dụng liên tục từ trước đến nay, việc khởi kiện chia thừa kế của bà M hoàn toàn không có căn cứ pháp lý. Nhà bà H1 kí kết hợp đồng với công ty X để xây mới như hiện nay với diện tích xây dựng là 349,2m², theo giấy phép xây dựng ngày 12/05/2004. Đối với quyền sử dụng đất của ông T3, bà D chỉ mua trả góp 54,25m² theo giấy phép mua bán chuyển dịch nhà cửa ngày 18/7/1987, toàn bộ diện tích đất còn lại 52,05m² do bà H1 là người thương lượng chủ nhà bên cạnh hỗ trợ họ tiền để không tranh chấp và đóng thuế đất cho nhà nước theo tờ khai ngày 01/4/2004, giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ngày 05/4/2004. Hiện tại, toàn bộ chứng từ này bà H1 đang giữ và có đề nghị Tòa xác minh, giám định chữ ký của bà D theo đúng quy định của pháp luật, nhưng không có tiền đóng chi phí giám định. Bà H1 sống từ nhỏ và sau đó cùng con cháu vẫn sống chung với ông T3, bà D hơn 25 năm cho đến nay, các con ruột của ông T3 bà D đi nước ngoài hoặc sống nơi khác và không ai trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi ông T3, bà D qua đời. Đề nghị Tòa giải quyết các quyền lợi của bà H1 được chia phần công sức nuôi dưỡng, chăm sóc ông T3, bà D và quản lý tôn tạo nhà đất đang tranh chấp tại địa chỉ trên.

Tại Đơn phản hồi ngày 15/4/2022, bà Nguyễn Thị Tú H1 trình bày: Toàn bộ căn nhà số F L có hiện trạng hiện nay do bà H1 bỏ tiền xây dựng như hiện trạng. Diện tích đất là 106,29m² của bà D mua trả góp là 54,25m² theo Giấy phép mua bán chuyển dịch nhà cửa ngày 18/7/1987, phần diện tích đất còn lại là đất hẻm công cộng, cá nhân bà H1 đã bỏ toàn bộ tiền riêng đứng ra làm thủ tục mua lại của Nhà nước dưới hình thức khai thác đất liền kề và nộp toàn bộ tiền sử dụng đất là 52,04 m² với số tiền 2.065.000 đồng theo Tờ khai nộp tiền sử dụng đất ngày 01/4/2004 và Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ngày 05/4/2004.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H1 là ông Lương Khả Â1 tại các bản ý kiến và trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Thống nhất mối quan hệ huyết thống giữa ông T3, bà D với các đương sự trong vụ án. Thời điểm ông T3 và bà D mất và không có di chúc; hàng thừa kế của ông T3, bà D đúng như nguyên đơn trình bày theo đơn khởi kiện, ông C, bà L là con riêng của bà D. Chỉ đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn đối với diện tích 54,25m² và chia làm 8 phần trong đó có bà H1 một phần công sức, chia theo giá đất tại chứng thư thẩm định giá của nguyên đơn để bà H1 hoàn lại giá trị cho 07 người thừa kế và nhận nhà, đất. Không thừa nhận di sản của ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị D là toàn bộ nhà và đất tại địa chỉ 6 L, Phường A, quận G được Ủy ban nhân dân quận G công nhận QSHN và QSDĐ ở ngày 10/3/2004 cho ông T3 và bà D. Lý do: Giấy tờ mua bán chuyển dịch nhà của Ủy ban nhân dân quận G cấp ngày 18/7/1987 cho phép bà D mua, nhưng toàn bộ tiền mua đất xây nhà, đóng thuế sử dụng đất do bà H1 bỏ ra, kể cả tiền hoàn công. bà H1 là cháu ngoại nhưng đã ở cùng với bà D từ nhỏ, đến khi lớn lập gia đình ở cùng với bà D đến khi bà D mất. Nhà đất nêu trên theo như Công an P, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thông tin có địa chỉ cũ 3 Q, Phường A, quận G, chủ hộ là bà Nguyễn Thị Tú H1, thành viên trong gia đình có bà N1, bà H1 là con bà Q, C1, T1, là con của bà H1, T2 con bà N1 đều là cháu ông T3, bà D. Hiện trạng nhà cấp giấy chứng nhận kể trên cho ông T3, bà D nay đã thay đổi hoàn toàn, bà H1 đã đập bỏ xây lại mới toàn bộ khoảng năm 2004 gồm 01 trệt, 02 tầng, đổ bê tông cốt thép, thuộc hạng nhà cấp 3, chưa được hoàn công. Bà H1 quản lý, sử dụng liên tục từ trước đến nay. Nhà này có diện tích xây dựng là 349,2m² theo Giấy phép xây dựng ngày 12/5/2004, kết quả định giá vừa qua là chưa đúng gây thiệt hại cho bà H1 nhưng bà H1 không yêu cầu định giá lại. Đối với quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông bà D chỉ mua trả góp 54,25m² theo Giấy phép mua bán chuyển dịch nhà cửa ngày 18/7/1987, toàn bộ diện tích đất còn lại 52,5m² do chính bà H1 là người thương lượng chủ nhà bên cạnh hỗ trợ họ tiền để không tranh chấp và đóng thuế đất cho Nhà nước theo Tờ khai ngày 01/4/2004, Giấy nộp tiền vào Ngân sách Nhà nước ngày 05/4/2004. Hiện nay toàn bộ chứng từ này bà H1 đang giữ đề nghị toà xác minh, giám định chữ ký của bà D theo đúng quy định của pháp luật làm chứng cứ cho việc giải quyết vụ án. Những chứng cứ này tuy có đề tên bà D (Nguyễn Thị D), nhưng thực tế đều do bà H1 tự bỏ tiền riêng đứng giao dịch, thanh toán và ký, đề tên thay bà D. Bà H1 và con cháu sống chung với ông bà D hơn 25 năm, từ nhỏ đến lớn, các con ruột của ông bà D đi nước ngoài hoặc sống nơi khác và không ai trực tiếp chăm sóc cấp dưỡng cho đến khi ông bà qua đời. Đề nghị Toà giải quyết các quyền lợi của bà H1 là được chia phần công sức nuôi dưỡng, chăm sóc ông bà D và quản lý tôn tạo nhà đất đang tranh chấp tại địa chỉ trên.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/12/2021 ông Lương Khải Á trình bày: Không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn. Ông  không thừa nhận di sản là nhà và đất tại địa chỉ 6 L, Phường A, quận G, được Ủy ban nhân dân Quận G công nhận ngày 10/3/2004 cho ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị D là tài sản của ông T3 và bà D. Lý do: Giấy tờ mua bán chuyển dịch nhà của Ủy ban nhân dân quận G cấp ngày 18/7/1997 cho phép bà D mua nhưng toàn bộ tiền mua đất xây nhà, đóng thuế sử dụng đất do bà H1 bỏ ra, kể cả tiền hoàn công. Bà H1 là cháu đã ở cùng với bà D từ nhỏ, đến khi lớn lập gia đình ở cùng với bà D tại đây đến khi bà D mất. Nhà đất này có địa chỉ cũ 3 Q, Phường A, quận G, chủ hộ tại đây là bà Nguyễn Thị Tú H1. Ông  có đơn thông báo thể hiện nhận được giấy triệu tập tới đến Tòa làm việc ngày 16/11/2023 để thực hiện thủ tục trưng cầu giám định và đã thông báo cho bà H1 cung cấp theo yêu cầu của Tòa án. Trong vụ án này ông  có nhận ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ngọc N1, Lưu Ngọc H2, Phan Tấn Hàn C1 cùng trú tại nhà với bà H1, nhưng ba người này tiếp xúc khó khăn, không đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ tố tụng nên ông  thông báo chấm dứt ủy quyền của ba người này.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông, bà: Nguyễn Thị Minh T, Nguyễn Sĩ H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn C, Nguyễn Anh K có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn N trình bày:

Thống nhất về mối quan hệ huyết thống của ông T3, bà D; về diện hàng thừa kế của các đương sự như nguyên đơn; thống nhất nhà đất số F L, Phường H, quận G, số cũ là 3 Q, Phường A, quận G do ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị D tạo lập và hai người chết không để lại di chúc. Nhà đất đã được UBND quận G cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng số 2148/2004 ngày 10/3/2004 cho ông T3 (Chết 1993), bà Nguyễn Thị D; thuộc thửa đất 13 tờ bản đồ 123 Phường A, quận G. Ông K là con duy nhất của ông Nguyễn Anh T4, sinh năm 1960 - chết 1983. Mẹ ông K là bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1939 - chết 2014 tại Hoa Kỳ. Cha mẹ ông K không đăng ký kết hôn. Ông K đồng ý yêu cầu của nguyên đơn nên đã rút lại yêu cầu độc lập và yêu cầu này cũng chưa được Tòa án thụ lý. Nay các ông, bà bà Nguyễn Thị Minh T (Minh Thu G1), bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Sĩ H, ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Anh K (người thừa kế của ông Nguyễn Anh T4) đều đồng ý thống chia di sản thừa kế của ông T3, bà D là nhà đất số F L, Phường H, quận G; thống nhất tính công sức trông giữ nhà của bà H1 con bà Q là 630.000.000 đồng. Yêu cầu Cơ quan Thi hành án phát mãi di sản này tính số tiền công sức cho bà H1 còn lại chia đều giá trị cho 07 đồng thừa kế gồm bà Nguyễn Thị Ngọc M, bà Nguyễn Thị Q, bà Nguyễn Thị Minh T (Minh Thu G1), bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Sĩ H, ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Anh K (người thừa kế của ông Nguyễn Anh T4). Không đồng ý yêu cầu và ý kiến của bà Nguyễn Thị Tú H1, vì không có chứng cứ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là bà Nguyễn Thị Ngọc N1 và con là Hồ Ngọc T2, Nguyễn Minh T1; con bà H1 là bà Lưu Ngọc H2, Phan Tấn Hàn C1 (Đang cư trú tại nhà 69/19) theo giấy ủy quyền ngày 06/01/2020 ông Lương Khải  nhận ủy quyền của bà N1, bà H2, bà C1 tại biên bản lấy lời khai ngày 24/12/2021, người đại diện theo ủy quyền có ông Lương Khải Á trình bày: Không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn. Không thừa nhận di sản là nhà và đất tại địa chỉ 6 L, Phường A, quận G, Tp . được UBND quận G công nhận ngày 10/3/2004 cho ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị D có số 2148/2004 là tài sản của ông T3 và bà D. Lý do: Giống như trình bày của bà H1. Ngày 16/11/2023, ông  có đơn thông báo thể hiện nhận được giấy triệu tập tới đến Tòa làm việc để thực hiện thủ tục trưng cầu giám định và đã thông báo cho bà H1 cung cấp theo yêu cầu của Tòa án. Trong vụ án này ông  có nhận ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ngọc N1, Lưu Ngọc H2, Phan Tấn Hàn C1 cùng trú tại nhà với bà H1, nhưng ba người này tiếp xúc khó khăn, không đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ tố tụng nên ông  thông báo chấm dứt ủy quyền của ba người này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 104/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M về việc: Chia di sản thừa kế theo pháp luật là nhà và đất của ông Nguyễn Văn T3 (chết năm 1993), bà Nguyễn Thị D (chết 2018) tại địa chỉ 6 L ( số cũ 3 Q, Phường A) nay Phường H, quận G đã được UBND quận G cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở ngày 10/3/2004, cho ông Nguyễn Văn T3 (Chết năm 1993), bà Nguyễn Thị D.

  1. Xác định nhà, đất tại địa chỉ 6 L (số cũ 3 Q, Phường A) Phường H, quận G theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở số 2148/2004, do UBND Quận G cấp ngày 10/3/2004 cho ông Nguyễn Văn T3 (Chết 1993) và bà Nguyễn Thị D, có hiện trạng hiện nay diện tích đất 118m2 và vật kiến trúc gắn liền 02 lầu + sân thượng (chưa được hoàn công) theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 4/3/2022, của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thể hiện là di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn T3 (chết năm 1993), bà Nguyễn Thị D (chết 2018) để lại được chia theo pháp luật.

  2. Xác định những người thừa kế được hưởng di sản của ông T3, bà D gồm: bà Nguyễn Thị Ngọc M, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị Minh T (Minh Thu G1), Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn C, Nguyễn Sĩ H, Nguyễn Anh T4 (Chết năm 1983) có người thừa kế thế vị là – ông Nguyễn Anh K.

  3. Không chấp nhận yêu cầu chia đều di sản thừa kế là giá trị nhà, đất tại 6 L ( số cũ 3 Q, Phường A) Phường H, quận G đã được UBND quận G cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở số 2148/2004, do UBND Quận G cấp ngày 10/3/2004 cho ông Nguyễn Văn T3 (Chết 1993) và bà Nguyễn Thị D thành 07 phần bằng nhau cho những người thừa kế của ông T3, bà D.

  4. Xác định bà Nguyễn Thị Tú H1 được hưởng một phần công sức đóng góp quản lý giữ gìn di sản nhà, đất tại 6 L (số cũ 3 Q, Phường A) Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tương ứng một kỷ phần thừa kế.

  5. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc: Giao Cơ quan Thi hành án Dân sự phát mãi bán đấu giá toàn bộ nhà, đất tại địa chỉ số F L (số C Q, Phường A) Phường H, quận G đã được UBND Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở số 2148/2004 ngày 10/3/2004, cho ông Nguyễn Văn T3 (Chết 1993), bà Nguyễn Thị D có hiện trạng hiện nay diện tích đất 118m2 và vật kiến trúc gắn liền 02 lầu + sân thượng (chưa được hoàn công) theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 4/3/2022, của Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở T9 thể hiện (Đính kèm). Bà Nguyễn Thị Tú H1 ưu tiên được quyền mua nhà, đất trước nếu không mua sẽ đấu giá bán theo quy định. Số tiền thu được từ việc bán di sản thừa kế nói trên sau khi trừ các chi phí liên quan đến việc bán bán tài sản sẽ được chia như sau:

    Chia đều cho các đương sự gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Ngọc M, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị Minh T (Minh Thu G1), Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn C, Nguyễn Sĩ H, Nguyễn Anh K (thừa kế thế vị của ông T4); bà Nguyễn Thị Tú H1 mỗi người được hưởng tỷ lệ 1/8 giá trị tài sản.

  6. Bà Nguyễn Thị Tú H1; Bà Nguyễn Thị Ngọc N1 (con bà Q, em bà H1); bà Lưu Ngọc H2, Phan Tấn Hàn C1 con bà H1; ông Nguyễn Minh T1, Hồ Ngọc T2 – con bà N1 và bà Nguyễn Thị Q (Nếu còn tạm trú) phải di dời tài sản của mình và giao nhà, đất tại địa chỉ nêu trên cho Cơ quan Thi hành án để phát mãi và bàn giao cho người trúng đấu giá.

    Các đương sự thi hành án tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

  8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Tú H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được cấn trừ với số tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị Tú H1 đã nộp theo biên lai số 0032643 ngày 19/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Tú H1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.

  9. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

  10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - Cục THADS TP.HCM; (1)
  • - Những người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu VP; HSVA; ĐTM. (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Thu

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Nguyễn Thị Thanh

Cao Văn Tám

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1016/2024/DS-PT ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 1016/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tú H1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 104/2024/DS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger