Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1015/2024/HS-PT

Ngày 30 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

2/ Ông Trần Ngọc Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Thông, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 30/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 847/2024/TLPT-HS ngày 16/9/2024. Do có kháng cáo của bị cáo Phạm Trí N, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (đã được sửa chữa, bổ sung tại Thông báo số 67/2024/TB-TA ngày 25/10/2024).

Bị cáo kháng cáo: Phạm Trí N, sinh năm 1983 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Phụ xe; Con ông Phạm Trí T, sinh năm 1944 và bà Mai Thị L, sinh năm 1949; Vợ Mai Thị L1, sinh năm 1987, bị cáo có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 22/4/2009 Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tuyên phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, được trừ đi thời gian tạm giam; thời gian thử thách 18 tháng, đã chấp hành xong thời gian thử thách và nghĩa vụ án phí hình sự sơ thẩm ngày 08/6/2009; Ngày 31/8/2016 Toà án nhân dân thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước xét xử về tội “Cướp tài sản”, tuyên phạt 02 năm tù giam, đã chấp hành xong hình phạt tù và đã đóng án phí vào ngày 14/11/2016.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2020 đến ngày 25/12/2020, bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương B1. Ngày 09/10/2023, bị cáo được đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 09/12/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Đoàn Trọng N1, Văn phòng L2, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 11/3/2020 bị cáo Phạm Trí N đang giữ xe tại bãi xe Bệnh viện đa khoa tỉnh B thì gặp người bạn tên T1 (không rõ nhân thân), N xin Tí ma túy để sử dụng thì T1 đồng ý và hẹn N ra bãi đất trống thuộc khu phố E, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để lấy. Lúc này, thấy Nguyễn Thanh D và Nguyễn Trọng B đang ở bãi giữ xe nên N kêu D và B đi đến nơi Tí đã hẹn để chờ N thì B điều khiển xe chở D đi trước. Còn N gọi điện thoại cho Trần Hùng A đang ở quán H rủ A tới nhà của Nguyễn Đức G tại khu phố E, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để sử dụng ma túy, thì Hùng A đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93H7-8764 đi đến nhà G. Sau đó, N điều khiển ô tô biển kiểm soát 93A-071.31 đến nơi Tí hẹn thì gặp T1, B, D ở đó. Khi gặp N thì T1 nói “cho ông đó” rồi chỉ tay vào một túi nylon màu đen để dưới đất cách nơi N đứng khoảng 01 mét, rồi điều khiển xe bỏ đi. N biết bên trong có ma túy nên nói với D cầm lấy mang đến nhà G để sử dụng thì D đồng ý và đi đến nhặt lấy túi nylong có chứa ma túy rồi lên xe do B điều khiển, còn N điều khiển ô tô cùng đi đến nhà của G.

Khi đến nhà G thì tất cả gặp G và Hùng A. Bằng và Hùng A mang xe ô tô biển kiểm soát 93A-071.31 về nhà của N tại Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước cho N. D để túi ma túy ở phòng khách và lấy cái áo gần đó phủ lên trên. N đi đến cầm lấy túi ma túy đi vào phòng ngủ của nhà G, mở túi kiểm tra thấy có 16 (mười sáu) bọc ma túy đá kích thước khác nhau, N lấy băng keo màu xanh quấn từng bọc lại rồi bỏ vào túi nylon màu đen mang ra để dưới chân bộ bàn ghế đá ngoài sân nhà G. Hùng A và B sau khi mang xe ôtô về nhà cho N và quay lại thấy N đang cầm túi nylon màu đem chứa ma túy đá ngồi ở bộ bàn ghế đá ngoài sân nhà G, N nói Hùng A mang túi nylong màu đen chứa ma túy về nhà của N để cất giấu thì A đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93H7-8764 chở Hùng A, G điều khiển xe môtô của G chở N, còn B điều khiển xe của B cùng chạy về nhà N.

Khi đến nhà, N nói Hùng A giấu túi nylong màu đen chứa ma túy vào thùng xe lò nướng trước nhà N. Một lúc sau thì Hùng A, B, G bỏ đi, còn lại D và N. Đến khoảng 02 giờ ngày 12/3/2020, trong lúc D và N ngồi chơi trước nhà, N nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đi ra thùng xe lấy ra 05 bọc ma túy bỏ vào 01 bọc nylong màu đen khác giấu vào chậu cây cảnh gần đó và lấy ra 01 bọc ma túy bỏ dưới đất gần chân của D để sử dụng, thấy vậy D dùng chân trái đạp lên. Cùng lúc này, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh B phối hợp Công an thành phố Đ và Công an phường T kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Phạm Trí N, Nguyễn Thanh D.

Tang vật thu giữ trong khi bắt quả tang gồm:

  • 02 bọc nylong miệng kéo dính, được quấn băng keo màu xanh bên ngoài kích thước 6,5 x 3,5 cm, bên trong 02 bọc đều chứa tinh thể màu trắng.
  • 05 bọc nylong miệng kéo dính, được quấn băng keo màu xanh bên ngoài kích thước 8,0 x 4,5 cm, bên trong 05 bọc nylong đều chứa tinh thể màu trắng.
  • 09 bọc nylong miệng kéo dính, được quấn băng keo màu xanh bên ngoài kích thước 5,5 x 3,5 cm, bên trong 09 bọc đều chứa tinh thể màu trắng.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, không lên nguồn, thu giữ của Phạm Trí N.
  • 01 điện thoại di động hiệu oppo màu đen thu của Nguyễn Thanh D.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Trí N tại Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, thu giữ: 01 đầu thu camera KB vision USA; 01 cân điện tử mini (không còn sử dụng được); 01 kéo bằng kim loại; 01 quẹt khò ga màu đỏ.

Cùng ngày Cơ quan điều tra tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Hùng A, tại Cơ quan điều tra Phạm Trí N, Nguyễn Thanh D và Trần Hùng A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận giám định số 65 ngày 18/3/2020 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Tinh thể màu trắng có trong 16 bọc nylong (ký hiệu M1 đến M3) bắt quả tang thu giữ của Phạm Trí N, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có tổng khối lượng là 101,4232 gam (khối lượng sau giám định là 94,6405) ma túy, loại Methamphetamine.

Trong quá trình điều tra, người thân bị cáo Phạm Trí N cung cấp Quyết định số 4356 ngày 10/11/2011 của Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh T về việc “trợ cấp đối với người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc hóa học” đối với Phạm Trí N.

Ngày 03/9/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định tâm thần số 99 đối với bị cáo Phạm Trí N.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 734 ngày 15/12/2020 của Viện pháp y tâm thần trung ương B1 kết luận:

Về Y học: Trước, trong và sau khi gây án đương sự bị Rối loạn cảm xúc không ổn định (suy nhược) thực tổn (F06.6-ICD.10). Hiện nay đương sự bị Rối loạn sự thích ứng với phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm/ Rối loạn cảm xúc không ổn định (suy nhược) thực tổn (F43.22/ F06.6-ICD.10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án, đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện nay đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Ngày 25/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước ra Quyết định số 01 về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Phạm Trí N.

Ngày 28/12/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định số 261 về việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và và Quyết định số 262 về việc tạm đình chỉ bị cáo đối với Phạm Trí N để đi bắt buộc chữa bệnh tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương B1.

Tại Kết luận giám định Pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 719 ngày 03/10/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B1 kết luận:

Hiện nay bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc. Đương sự Phạm Trí N đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

Ngày 09/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án đối với bị cáo và Quyết định phục hồi điều tra bị cáo đối với Phạm Trí N để tiếp tục điều tra theo quy định. Sau khi Cơ quan cảnh sát điều tra phục hồi điều tra, trong quá trình điều tra bị cáo Phạm Trí N không hợp tác làm việc, khai nhận thường xuyên bị đau đầu, mất ngủ, không đủ sức khỏe để làm việc với Cơ quan cảnh sát điều tra. Ngày 12/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục ra Quyết định trưng cầu giám định số 346 trưng cầu Viện Pháp y tâm thần Trung ương B1 giám định tâm thần đối với Phạm Trí N.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 99 ngày 29/01/2024 của Viện pháp y tâm thần trung ương B1 (BL 338 - 339), kết luận đối với Phạm Trí N:

Về y học: Hiện nay đương sự bị bệnh Tăng huyết áp/Rối loạn cảm xúc không ổn định (suy nhược) thực tổn (I10/F06.6-ICD. 10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay, Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

Sau khi được thông báo kết luận giám định tâm thần, bị cáo N hợp tác làm việc nhưng không thừa nhận những nội dung mình đã khai với Cơ quan điều tra tại thời điểm sau khi xảy ra vụ án.

Bản thân N chỉ thừa nhận vào đêm ngày 11/3/2020 có gặp một người bạn tên T1, sau đó T1 nói N đi cùng T1 đến khu vực bãi đất trống tại khu phố E, phường T để Tí cho quà. N không biết quà là gì và khi đến nơi hẹn thì T2 vứt quà xuống đất nên N không lấy, vì N cho rằng quà tại sao lại vứt xuống đất do đó N bỏ đi không lấy quà của T1 và không biết ai nhận quà của T1. N thừa nhận cùng với D, Hùng A và B vào nhà của G chơi không có mục đích gì khác. N khẳng định không lấy băng keo màu xanh quấn các gói ma túy tại nhà của G và không sử dụng ma túy tại nhà G như lời khai trước đây N đã khai tại cơ quan điều tra. Sau khi ngồi chơi tại nhà G một lúc thì N, D, Hùng A, B và G đi về nhà của N chơi, rồi Hùng A, G và B đi về. N và D ngồi chơi trước nhà đến khoảng 23 giờ 00 phút có lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện tại xe lò nướng thịt và chậu cây cảnh có ma túy, N không biết nguồn gốc số ma túy Công an thu giữ là của ai.

Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKSBP-P1 ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, có nội dung: Truy tố bị cáo Phạm Trí N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2024/HS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (đã được sửa chữa, bổ sung tại Thông báo số 67/2024/TB-TA ngày 25/10/2024), đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Trí N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249; điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Trí N 15 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2020.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về tang vật, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Trí N làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Mức án sơ thẩm quá nặng, yêu cầu giảm án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo N vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, xin được xem xét giảm nhẹ mức án vì cho rằng hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo bị bệnh nên xin được Hội đồng xét xử chiếu cố giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo thì cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên là đúng. Tuy nhiên, bị cáo thật thà khai báo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ mức án theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng. Bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con người mà còn gây mất trật tự an ninh, đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Trí N làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
  2. [2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo:
    1. [2.1] Do cùng là người sử dụng ma túy và cùng làm việc trông giữ xe tại bãi xe của Bệnh viện Đa khoa tỉnh B, nên vào khoảng 1giờ 30phút ngày 12/3/2020, Trần Thanh D1, Trần Hùng A đã cùng với Phạm Trí N cất giấu 101,4232 gam ma túy loại Methamphetamine vào thùng xe lò nướng trước nhà của N tại khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để nhằm mục đích sử dụng, thì bị Phòng Cảnh sát ma túy và tội phạm ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an thành phố Đ, Công an phường tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt giữ người phạm tội và tang vật. Riêng Trần Hùng A thì bị bắt giữ về một tội danh khác trong một trường hợp bắt giữ người khẩn cấp.
    2. [2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi sai phạm của mình, bị cáo chỉ xin được xem xét là hiện đã thấy được tội lỗi, ăn năn hối hận, thật thà khai báo.
    3. [2.3] Xét, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, xâm phạm đến chính sách về quản lý ma túy của Nhà nước. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng phát sinh nhiều loại tội phạm khác và tệ nạn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo với mức án 15 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, trong đó có áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là đúng quy định của pháp luật.

    Tuy nhiên, do ở cấp sơ thẩm bị cáo không nhận tội, nên Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năng, hối hận, nên cấp phúc thẩm có cơ sở áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo theo luật định.

    Ngoài ra, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ khác như: Bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi, cha của bị cáo tham gia hoạt động kháng chiến và bị nhiễm chất độc hóa học màu da cam, là thương binh được tặng thưởng nhiều quân, huy chương. Do đó áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp.

  3. [3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo N không phải chịu theo luật định.
  4. [4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Trí N. Sửa một phần bản án sơ thẩm.

1/ Tuyên bố bị cáo Phạm Trí N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Trí N 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2020.

2/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

3/ Bị cáo Phạm Trí N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - VKSND tỉnh Bình Phước.
  • - TAND tỉnh Bình Phước.
  • - Công an tỉnh Bình Phước.
  • - Trại TG Công an tỉnh Bình Phước.
  • - Cục THADS tỉnh Bình Phước.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước.
  • - Lưu VP; HS vụ án, TK: TPQ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1015/2024/HS-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (illegal storage of narcotics)

  • Số bản án: 1015/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Illegal storage of narcotics)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger