|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1012/2024/HC-PT Ngày: 16 - 9 - 2024 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 953/2023/TLPT-HC ngày 24 tháng 11 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 157/2023/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2637/2024/QĐPT ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Người khởi kiện: ông Lê Thanh T, sinh năm 1981; địa chỉ: số F, ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư Phan Minh H – Công ty L và Luật sư Trương Thị H1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
-
Người bị kiện:
2.1. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An; địa chỉ: 2 Ô Khu B, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Thành P – Quyền Chủ tịch UBND huyện Đ, có mặt
Người đại diện theo ủy quyền: ông Trương Minh H2 – Phó Chủ tịch UBND huyện Đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND huyện Đ: ông Nguyễn Thanh T1 – Viên chức BQL dự án Đầu tư Xây dựng huyện Đ, có mặt.
2.2. Chủ tịch UBND huyện Đ, có mặt
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị Bạch Y, sinh năm 1986; địa chỉ: số B Đ, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
3.2. Ông Lê Trung H3, sinh năm 1988; địa chỉ: số B B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.3. Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1951; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
3.4. Ông Lê Minh H5, sinh năm 1976; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
3.5. Bà Lê Thị Thu H6, sinh năm 1983; địa chỉ: số C D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lê Thanh T, sinh năm 1981; địa chỉ: số F, ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lê Thị Bạch Y, ông Lê Trung H3, bà Nguyễn Thị H4, ông Lê Minh H5, bà Lê Thị Thu H6, ông Lê Thanh T: Bà Trương Thị H1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
-
Người có kháng cáo: người khởi kiện ông Lê Thanh T; kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bạch Y, ông Lê Trung H3, bà Nguyễn Thị H4, ông Lê Minh H5, bà Lê Thị Thu H6.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người khởi kiện ông Lê Thanh T trình bày tại Đơn khởi kiện ghi ngày 16/11/2022 và thông qua người đại diện trong quá trình tố tụng:
Ông Lê Văn Đ là chủ sử dụng đất hợp pháp được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy 438/QSDĐ/0716-LA, ngày cấp 27/6/1997, gồm các thửa đất số 499, loại đất có mục đích để ở (ký hiệu T), diện tích 867 m², thời hạn sử dụng: lâu dài; thửa đất số 500, loại đất lúa, diện tích 1613 m2; thửa đất số 456, loại đất lúa, diện tích 2843 m²; thửa đất số 455, diện tích 960 m², loại đất cây hàng năm khác (DRM) (các thửa số 499, 456, 455 đã được điều chỉnh lại số thửa ngày 16/3/2018 do UBND huyện Đ ký duyệt ghi phía sau Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); thửa số 448, loại đất lúa, diện tích 2859 m²; thửa số 411, loại đất lúa, diện tích 1346 m² thuộc tờ bản đồ số 20; địa chỉ các thửa đất tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Thực hiện Dự án Trạm biến áp E và các đường dây đấu nối (Hạng mục đường dây đấu nối 500kV số 1 và số 2) - sau dây gọi tắt là Dự án Trạm biến áp 500kV Đ - được phê duyệt theo Quyết định số 4986/QĐ-BCT ngày 03/06/2014 của Bộ C và các văn bản, quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh L, ngày 07/12/2020 UBND huyện Đ đã ban hành Quyết định số 5338/QĐ-UBND “Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án công trình Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (Hạng mục đường dây đấu nối 500kV số 1 và số 2) do Ban Quản lý các công trình điện miền N làm chủ đầu tư qua các xã Đ, Mỹ Hạnh N, Đức Hòa T2, Hòa Khánh Đ1 và thị trấn Đ, huyện Đ” và Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của UBND huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ, kèm theo Bản chiết tính ngày 26/11/2020 của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Đ lập (ký tên, đóng dấu Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Đ). Tổng diện tích bồi thường, hỗ trợ theo bản chiết tính kèm theo Quyết định 5742/QĐ-UBND cụ thể như sau: bồi thường do thu hồi đất xây dựng mố trụ 1012,9 m², đơn giá 7.752.035 đồng/m²; đơn giá hỗ trợ hành lang đường điện là 11.627.400 đồng/m² đối với 50m đầu tiếp giáp đường hoặc 50m đầu không có vị trí tiếp giáp đường nhưng cùng chủ sử dụng với thửa đất tiếp giáp đường và 4.651.221 đồng/m² trong phạm vi từ sau mét thứ 50 đến hết mét thứ 100 đối với đường; Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ theo bản chiết tính kèm theo Quyết định 5742/QĐ-UBND là 43.432.794.685 đồng.
Đối với Dự án Trạm biến áp 500kV Đức Hòa theo Quyết định 4063/QĐ-UBND ngày 03/11/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh L về việc “Phê duyệt lại hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng thực hiện công trình Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (Hạng mục đường dây đấu nối 500kV số 1 và số 2) qua các xã Đ, M, Đức Hòa T2, Hòa Khánh Đ1 và thị trấn Đ, huyện Đ” thì phải bồi thường do thu hồi đất theo giá 19.379.000 đồng/m² (đối với 50m đầu tiếp giáp đường hoặc 50m đầu không có vị trí tiếp giáp đường nhưng cùng chủ sử dụng với thửa đất tiếp giáp đường) và phải tính giá 7.752.035 đồng/m2 (trong phạm vi từ sau mét thứ 50 đến hết mét thứ 100 đối với đường), không tính hỗ trợ 60% theo giá 11.627.400 đồng/m² (đối với 50m đầu tiếp giáp đường hoặc 50m đầu không có vị trí tiếp giáp đường nhưng cùng chủ sử dụng với thửa đất tiếp giáp đường) và giá 4.651.221 đồng/m² (trong phạm vi từ sau mét thứ 50 đến hết mét thứ 100 đối với đường) như bảng chiết tính kèm theo Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ, ông T không đồng ý vì không đúng theo quy định của pháp luật.
- Do nhận thức được chính sách pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 nên đại diện thừa kế của ông Lê Văn Đ là ông Lê Minh H5 (con ông Lê Văn Đ) và hộ gia đình ông Đ đã chấp hành, thực hiện theo các văn bản Thông báo thu hồi đất, Quyết định thu hồi đất và Quyết định bồi thường, hỗ trợ của Ủy ban nhân dân huyện Đ, đã nhận tiền bồi thường theo Quyết định 5742/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Đ là 43.432.794.685 đồng. Nhưng sau khi nhận được số tiền bồi thường, hỗ trợ nêu trên về, đại diện thừa kế và hộ gia đình ông Lê Văn Đ đã xem xét, đối chiếu với quy định pháp luật thấy việc bồi thường, hỗ trợ về thu hồi đất, tài sản trên đất theo Quyết định 5742/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Đ là trái với quy định của pháp luật về thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành luật Đất đai năm 2013, đồng thời trái với Luật Điện lực năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2012; trái với các Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh L như: QĐ số 40/2020/QĐ-UBND ngày 24/9/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh L sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An ban hành kèm theo Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh L; Quyết định 4063/QĐ-UBND ngày 03/11/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh L về việc “Phê duyệt lại hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng thực hiện công trình Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (Hạng mục đường dây đấu nối 500kV số 1 và số 2) qua các xã Đ, M, Đức Hòa T2, Hòa Khánh Đ1 và thị trấn Đ, huyện Đ; Quyết định số 17/2019/QĐ-UBND22/4/2019 của UBND tỉnh L ban hành Quy định đơn giá xây dựng mới nhà ở, công trình xây dựng, vật kiến trúc và đơn giá mồ mả trên địa bàn tỉnh Long An và Quyết định số 42/2019/QĐ-UBND07/10/2019 của UBND tỉnh L sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 17/2019/QĐ-UBND22/4/2019 của UBND tỉnh.
Trong Quyết định 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ, Ủy ban nhân dân huyện Đ chỉ áp dụng hỗ trợ 60% do bị thiệt hại về đất ảnh hưởng bởi hành lang an toàn đường điện cao áp 500kV Đ, áp dụng theo Điều 19 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP ngày 26/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện lựcan toàn điện. Khi Nghị định số 51/2020/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 21/4/2020 thì Điều 19 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP ngày 26/02/2014 của Chính phủ đã bị bãi bỏ, thay thế bằng Điều 18a (khoản 12 Điều 1 Nghị định số 51/2020/NĐ-CP ngày 21/4/2020 của Chính phủ) quy định “Việc thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ đối với đất và tài sản gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp bị thiệt hại do phải giải tỏa được thực hiện theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.”. Điều 19 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP ngày 26/02/2014 của Chính phủ chỉ áp dụng đối với đất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp 220 kV, trong khi công trình đang thực hiện bồi thường để thu hồi đất là Dự án Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (Hạng mục đường dây đấu nối 500kV số 1 và số 2) đi ngang qua đất của ông Lê Văn Đ. Với quy định pháp luật tại Điều 18a (khoản 12 Điều 1 Nghị định số 51/2020/NĐ-CP ngày 21/4/2020 của Chính phủ) và căn cứ Điều 51, khoản 3 Luật Điện lực năm 2004, SĐ, BS năm 2012 quy định: “3. Không cho phép tồn tại nhà ở và công trình có người thường xuyên sinh sống, làm việc trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không có điện áp từ 500 kV trở lên, trừ những công trình chuyên ngành phục vụ vận hành lưới điện đó.” đã xác định là việc thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ đối với đất và tài sản gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp bị thiệt hại do phải giải tỏa được thực hiện theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013. Nghị định số 14/2014/NĐ-CP ngày 26/02/2014 của Chính phủ và cả Nghị định số 51/2020/NĐ-CP ngày 21/4/2020 của Chính phủ đều là văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về Điện lực, có liên quan đến dự án Dự án Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (Hạng mục đường dây đấu nối 500kV số 1 và số 2) nên từ sau khi Nghị định số 51/2020/NĐ-CP ngày 21/4/2020 của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 21/4/2020 thì việc chuyển sang bồi thường, hỗ trợ đối với đất và tài sản gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp bị thiệt hại do phải giải tỏa được thực hiện theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013. Đồng thời Luật Điện lực năm 2004 (và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực năm 2012 đều giữ nguyên Điều 51 của Luật Điện lực năm 2004; tại khoản 3 Điều 51 của Luật Điện lực năm 2004 quy định: ...“3. Không cho phép tồn tại nhà ở và công trình có người thường xuyên sinh sống, làm việc trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không có điện áp từ 500 kV trở lên, trừ những công trình chuyên ngành phục vụ vận hành lưới điện đó.”. Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên của Luật Điện lực thì không thể cho người sống, sinh hoạt, làm việc, tồn tại trong đất thuộc hành lang bảo vệ lưới điện cao áp 500 kV và phải được thu hồi đất, bồi thường 100% giá trị quyền sử dụng đất thay vì chỉ hỗ trợ 60% như Quyết định 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ. Việc áp dụng Nghị định số 51/2020/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 21/4/2020 có nghĩa là khi Nhà nước thu hồi đất đối với các dự án công trình điện lực thì phải chuyển sang thực hiện theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và thi hành khoản 3 Điều 51 Luật Điện lực năm 2004 thì toàn bộ diện tích đất của ông Lê Văn Đ nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường điện cao áp 500kV Trạm biến áp E và các đường dây đấu nối phải được bồi thường 100% giá trị bồi thường theo Quyết định số 4063/QĐ-UBND ngày 03/11/2020 của UBND tỉnh L “Về việc phê duyệt lại hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng thực hiện công trình Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (Hạng mục đường dây đấu nối 500kV số 1 và số 2) qua các xã Đ, M, Đức Hòa T2, Hòa Khánh Đ1 và thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An”, do đó việc Ủy ban nhân dân huyện Đ quyết định chỉ hỗ trợ 60% giá trị bồi thường đối với đất nằm trong hành lang bảo vệ lưới điện cao áp 500 kV cho ông Lê Văn Đ là gây thiệt hại nghiêm trọng về quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân bị thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định của pháp luật thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013.
Do áp dụng không đúng quy định pháp luật về thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013 và việc áp giá bồi thường khi Nhà Nước thu hồi đất không đúng với Quyết định số 4063/QĐ-UBND ngày 03/11/2020 của UBND tỉnh L “Về việc phê duyệt lại hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng thực hiện công trình Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (Hạng mục đường dây đấu nối 500kV số 1 và số 2) qua các xã Đ, M, Đức Hòa T2, Hòa Khánh Đ1 và thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An” nên phần bồi thường giá trị tài sản trên đất trong Quyết định 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất, bồi thường mồ mã... đối với ông Lê Văn Đ cũng không đúng, nên tôi không đồng ý với số tiền bồi thường giá trị tài sản trên đất là 1.840.000 đồng và chính sách hỗ trợ là 81.538.450 đồng như Quyết định 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ (chi tiết như bảng chiết tính do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng lập ngày 26/11/2019 đính kèm).
Quyết định hành chính bị kiện:
-
Hủy Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ và yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định thay thế Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020.
-
Hủy công văn số 5517/UBND-TCD của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc: “trả lời đơn của công dân” có nội dung quyết định giải quyết kiến nghị ngày 29/9/2022 của ông Lê Thanh T.
Tại đơn bổ sung đơn kiện ngày 09/6/2023 ông Lê Thanh T căn cứ Điều 8, Luật tố tụng Hành chính năm 2015 ông Lê Thanh T khởi kiện bổ sung:
-
Yêu cầu Tòa án hủy một phần Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (Hạng mục đường dây đấu nối 500kV số 1 và số 2 do Ban Quản lý dự án các công trình điện M làm chủ đầu tư qua các xã H, xã Đ, xã Đ, xã M và trị trấn Đ, huyện Đ).
-
Yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc thu hồi đất đối với ông Lê Văn Đ, đất tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người khởi kiện cam đoan không đồng thời khiếu nại, kiến nghị đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
* Người bị kiện UBND huyện Đ có Văn bản phúc đáp số 9841/UBND-NC ngày 07/8/2023 như sau:
1. Ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ; Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối đất tọa lạc tại xã Đ; Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc thu hồi đất đối với ông Lê Văn Đ, đất tọa lạc tại xã M.
UBND huyện Đ có ý kiến:
Việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất đối với ông (bà) Lê Văn Đ được thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi. Cụ thể trong Thông báo thu hồi đất, quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường được phê duyệt đều có căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An.
Theo đó ngày 07/12/2020 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 5742/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ với số tiền là 43.516.173.135đ (Ông Lê Văn H7 đại diện các thừa kế của ông Lê Văn Đ nhận tiền đối với quyết định này). Việc ban hành Quyết định số 5742/QĐ-UBND của UBND huyện Đ được thực hiện theo phương án đã được phê duyệt tại Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (Hạng mục: đường dây đấu nối 500kV số 1 và số 2) do Ban Quản lý các công trình điện M làm chủ đầu tư qua các xã H, xã Đ, xã Đ, xã M và trị trấn Đ, huyện Đ
Như vậy, việc UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối; Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc thu hồi đất đối với ông Lê Văn Đ là đúng quy định luật Đất đai năm 2013.
2. Ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Văn bản số 5517/UBND-TCD ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc trả lời đơn ông, vấn đề này Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An có ý kiến như sau:
- Ngày 12/5/2023, Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Văn bản số 5517/UBND-TCD về việc trả lời đơn cho ông Lê Thanh T là đúng quy định của pháp luật.
Việc UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc thu hồi đất đối với ông Lê Văn Đ và Quyết định số 5742/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ là đúng quy định luật Đất đai năm 2013.
- Kiến nghị thu hồi toàn bộ diện tích 4.093m2 đất bị ảnh hưởng trong hành lang đường điện và phần diện tích 5.382,1m2 nằm ngoài hành lang đường điện tại các thửa đất số 455, 456, 448, 499, 500; tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc xã M là không có cơ sở để xem xét giải quyết bởi vì: Phần diện tích còn lại của ông Lê Văn Đ là 9.475,1m² (các thửa đất này có vị trí tiếp giáp và liền kề nhau) vẫn đảm bảo diện tích theo Quyết định số: 42/2021/QĐ-UBND ngày 18/10/2021 của UBND tỉnh L.
- Việc ông Lê Thanh T kiến nghị được bồi thường, hỗ trợ chi phí đầu tư trên đất đối với các thửa đất trên và được bồi thường về di chuyển mồ mã đối với 02 ngôi mộ nằm trong hành lang đường điện tại thửa đất số 500 là không có cơ sở để xem xét giải quyết vì các thửa đất trên chỉ bị ảnh hưởng bởi hành lang đường điện.
- Đối với việc ông Lê Thanh T kiến nghị điều chỉnh giá bồi thường tại thửa đất số 455; tờ bản đồ số 20; theo loại đất trồng cây hằng năm khác, theo Biên bản kiểm đếm số: 93/BBKK ngày 22/8/2019 do Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng huyện Đ lập thì loại đất tại thửa 455; tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc xã M là loại đất Lúa, qua rà soát hồ sơ thì đơn vị bồi thường đã áp giá bồi thường giá trị quyền sử dụng đất tại thửa số 455; tờ bản đồ số 20 là loại đất trồng cây hằng năm khác (BHK) với đơn giá là 11.627.400 đồng/m2 được quy định tại mục II phần B thuộc xã M theo Quyết định số: 4063/QĐ0UBND ngày 03/11/2020 của UBND tỉnh L. Mức hỗ trợ bằng 60% mức bồi thường của đất do đây là nhóm đất nông nghiệp khác (đính kèm Quyết định số: 4063/QĐ-UBND ngày 03/11/2020 của UBND tỉnh L). Như vậy, việc áp giá bồi thường cho ông Lê Văn Đ tại thửa đất số 455; tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc xã M là đảm bảo đúng quy định pháp luật vì 2 loại đất này có đơn giá tương đồng nhau.
- Đối với nội dung kiến nghị chừa đường đi vào 02 thửa đất 411, 448; tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc xã M. Do kiến nghị thu hồi toàn bộ phần đất nằm ngoài dự án tại các thửa đất số 448, 455, 456, 499, 500; không được xem xét thu hồi, do đó việc kiến nghị chừa lối đi vào thửa 411, 448; không có cơ sở để xem xét. Hiện trạng các thửa đất này có vị trí tiếp giáp và liền kề nhau không ảnh hưởng đến quá trình sản xuất đi lại của gia đình ông Lê Văn Đ.
* Ngày 11/9/2023 UBND huyện Đ có Văn bản phúc đáp số 11560/UBND-NC như sau:
- Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của UBND huyện Đ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án: Trạm biến áp E và các đường dây đấu nối, hạng mục: Đường dây đấu nối 500 kV số 1 và số 2 qua địa bàn xã H, Đ, Đức Hòa Đ2, Mỹ Hạnh N và thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc thu hồi đất đối với ông (bà) Lê Văn Đ. Đất tọa lạc xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, với diện tích: 1.012,9 m². Gồm thửa đất:
| TBĐ | Số thửa | Diện tích (m²) | Loại đất | Phụ ghi |
|---|---|---|---|---|
| 20 | 448 | 930,5/2.859 | Lúa | Một phần thửa |
| 20 | 500 | 82,4/1.613 | Lúa | Một phần thửa |
- Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 V/v bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông (bà): Lê Văn Đ, với số tiền: 43.516.173.135 đồng (đính kèm bảng chiết tính lập ngày 26/11/2020), trong đó:
- + Giá trị quyền sử dụng đất: 7.852.036.252 đồng
- + Hỗ trợ hành lang đường điện: 35.580.758.434 đồng
- + Giá trị tài sản trên đất: 1.840.000 đồng
- + Chính sách hỗ trợ: 81.538.450 đồng
Quyết định thu hồi đất Quyết định bồi thường, hỗ trợ đã được công bố và trao cho ông Lê Thanh T (đại diện cho các đồng thừa kế của ông Lê Văn Đ) và Nhà nước đã tổ chức chi trả tiền cho gia đình ông Lê Văn Đ (do ông Lê Minh H5 đại diện nhận tiền) vào ngày 19/01/2022, cam kết không khiếu nại và bàn giao đất cho Nhà nước thực hiện dự án trên.
Quá trình thực hiện các quyết định hành chính và giải quyết kiến nghị:
Sau khi nhận tiền xong, ông Lê Thanh T (đại diện cho các đồng thừa kế của ông Lê Văn Đ) có đơn kiến nghị gửi đến UBND huyện Đ, với nội dung: - Kiến nghị các khoản bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các khoản hỗ trợ thực hiện đúng theo quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất đối với Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của UBND huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt về đất và tài sản đối với ông Lê Văn Đ (theo Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ).
- Kiến nghị thu hồi toàn bộ diện tích 4.093m² đất bị ảnh hưởng trong hành lang đường điện và phần diện tích 5382,1m² nằm ngoài hành lang đường điện tại các thửa đất số 455, 456, 448, 499, 500; tờ bản đồ số 20 đất tọa lạc xã M, huyện Đ.
- Kiến nghị bồi thường chi phí đầu tư trên đất các thửa số 455, 456, 500; tờ bản đồ số 20 với tổng giá trị 350 triệu đồng và được bồi thường về di chuyển mồ mã đối với 02 ngôi mộ nằm trong hành lang đường điện tại thửa 500, điều chỉnh giá bồi thường tại thửa đất số 455, tờ bản đồ 20 theo loại đất trồng cây hàng năm khác.
- Kiến nghị chừa đường đi vào 02 thửa đất 411, 448; tờ bản đồ số 20 do sau khi thu hồi đất không có lối đi vào.
Ngày 12/5/2023, Chủ tịch UBND huyện Đ có Công văn số 5517/UBND-TCD về việc trả lời đơn của ông Lê Thanh T, với nội dung không có cơ sở xem xét giải quyết (kèm văn bản).
Hiện nay, ông Lê Thanh T (đại diện cho các đồng thừa kế của ông Lê Văn Đ) đang khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân tỉnh Long An, với yêu cầu: hủy các quyết định hành chính của UBND huyện Đ đối với ông Lê Văn Đ theo Thông báo số 174/TA-HC ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân tỉnh Long An về việc thụ lý vụ án.
Đối thoại các nội dung khởi kiện của ông Lê Thanh T:
- Ông Lê Thanh T yêu cầu hủy một phần Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của UBND huyện Đ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án: Trạm biến áp E và các đường dây đấu nối, hạng mục: Đường dây đấu nối 500 kV số 1 và số 2. Yêu cầu UBND huyện Đ ban hành Quyết định khác để thay thế. Ông T cho rằng: UBND huyện Đ đã áp dụng không đúng quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo Luật Đất đai năm 2013 và các Quyết định của UBND tỉnh L quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh T (đại diện cho các đồng thừa kế của ông Lê Văn Đ) là trái các quy định pháp luật. Cụ thể:
Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 quy định về việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như sau: “Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày”.
Khoản 3 Điều 66 Luật Đất đai năm 2013 có quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành Quyết định chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong trường hợp: Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Khoản 4 Điều 24 Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An, có quy định: “Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho từng chủ sử dụng nhà đất cụ thể”
- Ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với ông (bà) Lê Văn Đ. Đất tọa lạc xã M, huyện Đ, tỉnh Long An và yêu cầu UBND huyện Đ ban hành Quyết định khác để thay thế. Ông T cho rằng: UBND huyện Đ đã áp dụng không đúng quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo Luật Đất đai năm 2013 và các Quyết định của UBND tỉnh L quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh T là trái các quy định pháp luật. Cụ thể:
* Căn cứ pháp lý Luật Đất đai năm 2013, cụ thể:
- Tại khoản 11 Điều 3 có quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.
- Tại điểm a khoản 1 Điều 16 có quy định: “Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp... Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”.
- Tại Điều 62 có quy định: “Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”.
- Tại điểm a khoản 2 Điều 66 có quy định: “Thẩm quyền thu hồi đất. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư”
- Tại khoản 4 Điều 67 có quy định: “Thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất”
- Ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Công văn số 5517/IBND-TCD ngày 12/5/2023 của Chủ tịch UBND huyện Đ V/v trả lời đơn của công dân đối với ông Lê Thanh T.
Việc giải quyết đơn kiến nghị của ông Lê Thanh T đảm bảo đúng thể thức văn bản và đúng thẩm quyền, đã thực hiện theo đúng quy định tại Thông tư 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định về trình tự xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh. Văn bản hành chính đang có hiệu lực pháp luật nên không có cơ sở để hủy bỏ.
- Ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 V/v bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông (bà): Lê Văn Đ, với số tiền: 43.516.173.135 đồng và yêu cầu UBND huyện Đ ban hành Quyết định khác để thay thế.
Ông T không đồng ý mức bồi thường 60% tại vị trí đất trong hành lang đường điện, đề nghị thu hồi và bồi thường 100% giá trị và các khoản hỗ trợ khác đúng quy định pháp luật là không đúng theo quy định của pháp luật. Bởi vì:
Tại khoản 2 Điều 10 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như sau: “Bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ.
Bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ quy định tại Điều 94 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:
Trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất thì việc xác định mức bồi thường thiệt hại do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định cụ thể”.
Từ các quy định trên, ngày 03/11/2020 UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 4063/QĐ-UBND về việc phê duyệt lại hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường và các chính sách bồi thường, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng thực hiện công trình Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (hạng mục: Đường dây 500kV số 1 và số 2) qua các xã: Đ, Mỹ Hạnh N, Đức Hòa T2, Hòa Khánh Đ1 và thị trấn Đ, huyện Đ.
Theo khoản 4 Điều 21 Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L quy định: “Đối với nhóm đất nông nghiệp khác ngoài đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ không làm thay đổi mục đích sử dụng đất nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất đối với đất nông nghiệp thì được xem xét hỗ trợ. Mức hỗ trợ không vượt quá 60% mức bồi thường của đất cùng loại, cùng vị trí đất và do Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét quyết định cụ thể. Riêng đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất đã được hỗ trợ tại khoản 1 Điều 11 Quy định này còn được hỗ trợ thêm 30% mức bồi thường của đất cùng loại và cùng vị trí đất”.
Từ quy định trên, UBND huyện phê duyệt Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối (Hạng mục: Đường dây đấu nối 500kV số 1 và số B) thì chỉ thu hồi đất đối với phần diện tích làm móng trụ điện, riêng phần diện tích bị ảnh hưởng bởi hành lang đường điện chỉ được hỗ trợ, không thu hồi.
Căn cứ pháp lý trên phù hợp với khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định như sau: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.
Do đó, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án trên đã áp giá và thẩm định để trình UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 V/v bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông (bà): Lê Văn Đ, với số tiền: 43.516.173.135 đồng là phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh T không có cơ sở pháp lý xem xét chấp nhận.
UBND huyện Đ nhận thấy:
- Việc khởi kiện vụ án hành chính xuất phát từ việc ông Lê Thanh T không đồng ý với mức bồi thường, hỗ trợ và nội dung khởi kiện đã được Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành văn bản giải quyết. Đề nghị Tòa án giải thích cho đương sự hiểu rõ các quy định của pháp luật.
- UBND huyện Đ đã ban hành các quyết định hành chính về việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Lê Văn Đ là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, nhận thấy Quyết định hành chính của UBND huyện Đ ban hành đối với ông Lê Văn Đ là có căn cứ, có đủ cơ sở pháp lý và thực hiện đúng trình tự quy định của pháp luật, đúng nội dung và đúng thẩm quyền, quyết định hành chính đang có hiệu lực pháp luật nên không có cơ sở để hủy bỏ. Nay ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Quyết định hành chính do UBND huyện Đ ban hành nhưng không có đủ cơ sở pháp lý để xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án bác các yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh T, giữ nguyên Quyết định hành chính của UBND huyện Đ.
Bởi những lẽ trên, UBND huyện Đ kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định và tuyên xử:
- Đình chỉ giải quyết vụ án và không chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh T trong vụ án hành chính trên.
Ngày 26/6/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án.
* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 157/2023/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, quyết định:
Căn cứ Điều 3, Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng Hành chính 2015;
Căn cứ Điều 18 Luật giải quyết khiếu nại năm 2011;
Áp dụng khoản 2 Điều 193, Điều 348 Luật tố tụng Hành chính năm 2015;
Áp dụng Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 51/2020/NĐ-CP ngày 21/4/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2014/NĐ-CP26/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Điện lực về an toàn điện.
Áp dụng Điều 66, Điều 71, Điều 74, Điều 75 Luật Đất đai năm 2013;
Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh T đối với Chủ tịch UBND huyện Đ và UBND huyện Đ về việc “yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”.
-
Bác yêu cầu của ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Công văn số 5517/UBND-TCD ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc: “trả lời đơn của công dân” của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An có nội dung quyết định giải quyết kiến nghị ngày 29/9/2022 của ông Lê Thanh T.
-
Bác yêu cầu của ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc thu hồi đất đối với ông Lê Văn Đ.
-
Bác yêu cầu của ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
-
Bác yêu cầu của ông Lê Thanh T yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định thay thế Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020; Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc thu hồi đất đối với ông Lê Văn Đ và Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 29/9/2023, 06/10/2023, người khởi kiện ông Lê Thanh T, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bạch Y, ông Lê Trung H3, bà Nguyễn Thị H4, ông Lê Minh H5, bà Lê Thị Thu H6 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa các đương sự thay đổi yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án cho thấy về việc đường lối giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy rằng cấp sơ thẩm có một số sai sót nhỏ, nhưng không ảnh hưởng đến bản chất của vụ án. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, quan điểm của luật sư, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, phía người khởi kiện ông Lê Thanh T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bạch Y, ông Lê Trung H3, bà Nguyễn Thị H4, ông Lê Minh H5, bà Lê Thị Thu H6 kháng cáo đề nghị sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1.1] Về nội dung giải quyết khiếu nại:
Ông Lê Thanh T khiếu nại cho rằng: Công văn số 5517/UBND-TCD ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện Đ đã bác các nội dung kiến nghị ngày 29/9/2022 của ông Lê Thanh T không căn cứ Nghị định số 51/2020/NĐ-CP ngày 21/4/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2014/NĐ-CP26 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Điện lực về an toàn điện, tại Điều 18a (khoản 12 Điều 1 Nghị định số 51/2020/NĐ-CP ngày 21/4/2020 của Chính phủ) quy định “Việc thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ đối với đất và tài sản gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp bị thiệt hại do phải giải tỏa được thực hiện theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.” Đồng thời Ủy ban nhân dân huyện Đ đã không áp dụng đúng pháp luật về thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013, nên vẫn bảo vệ việc áp dụng hỗ trợ 60% mà không bồi thường do thu hồi đất 100% giá trị quyền sử dụng đất theo giá đất cụ thể của dự án do Ủy ban nhân dân tỉnh L phê duyệt; bồi thường giá trị tài sản trên đất, bồi thường mồ mả và chính sách hỗ trợ không đúng quy định đối với hộ ông Lê Văn Đ trong Dự án Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối theo Quyết định 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ.
Đối với yêu cầu này của đương sự, thấy rằng: việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất đối với ông (bà) Lê Văn Đ đã được thực hiện đúng theo Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định về nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 điều kiện được bồi thường cũng như về Thông báo thu hồi đất, quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường được phê duyệt. Việc bồi thường được thực hiện theo đúng Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An.
[1.2.] Phía người khởi kiện và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho rằng việc tính mức hỗ trợ 60% mức bồi thường là không đảm bảo quyền lợi của người có đất bị thu hồi, không đúng luật. Quan điểm này là không phù hợp bởi vì: tại Khoản 4, Điều 21 Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi trên địa bàn tỉnh Long An quy định: “Đối với nhóm đất nông nghiệp khác ngoài trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ không làm thay đổi mục đích sử dụng đất nhưng làm hạn chế khả năng quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp thì được xem xét hỗ trợ. Mức hỗ trợ không vượt quá 60% mức bồi thường của đất cùng loại, cùng vị trí đất”.
[1.3] Ngoài ra, phía người khởi kiện còn cho rằng, đường điện 500Kv là điện cao áp phải áp dụng luật chuyên ngành là Luật điện lực năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2012, 2018, 2022, cụ thể: theo Điều 51 của Luật này là phải thu hồi không cho tồn tại nhà ở và công trình có người thường xuyên sinh sống, làm việc trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không có điện áp từ 500Kv trở lên. Tuy nhiên, chứng cứ đã thu thập thể hiện vị trí đất của ông Lê Văn Đ nằm trong diện bị thu hồi là đất lúa, không có nhà ở và công trình trên đất.
Vì lẽ đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định không có căn cứ hủy Văn bản số 5517/UBND-TCD ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc trả lời khiếu nại của ông Lê Thanh T là có căn cứ.
[2] Về nội dung khởi kiện đối với các quyết định hành chính có liên quan, gồm:
Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc thu hồi đất đối với ông Lê Văn Đ;
Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ. Thấy rằng:
[2.1] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định là đúng hình thức và thẩm quyền theo quy định tại Điều 66 và Điều 71 Luật đất đai 2013.
[2.2] Về nội dung:
Ông Lê Thanh T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho rằng: các quyết định trên áp dụng không đúng quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo Luật Đất đai năm 2013, các văn bản pháp luật quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai năm 2013 và các Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh L Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An.
Theo Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An thì trường hợp của ông T UBND huyện Đ đã áp giá và bồi thường, hỗ trợ đảm bảo quyền lợi đối với hộ ông Lê Văn Đ trong Dự án Trạm biến áp 500kV Đ và các đường dây đấu nối.
Đồng thời, Nghị định số 51/2020/NĐ-CP ngày 21/4/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2014/NĐ-CP26 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Điện lực về an toàn điện cũng đã quy định: Nhà nước không bồi thường 100% giá trị đất trong trường hợp thu hồi đất mà chỉ hỗ trợ 60% giá trị quyền sử dụng đất khi bị ảnh hưởng đường điện đi ngang. Vì vậy, quan điểm của phía người bị kiện về nội dung này là có cơ sở.
[3] Từ đó cho thấy, không có căn cứ hủy Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông Lê Văn Đ. Việc Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu của ông T về nội dung buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định thay thế Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020; Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc thu hồi đất đối với ông Lê Văn Đ và Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là có căn cứ và đúng pháp luật.
Yêu cầu kháng cáo của các đương sự là không có cơ sở để chấp nhận. Quan điểm của Luật sư là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận, vì vậy đương sự phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng Hành chính 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo ông Lê Thanh T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bạch Y, ông Lê Trung H3, bà Nguyễn Thị H4, ông Lê Minh H5, bà Lê Thị Thu H6.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 157/2023/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Căn cứ Điều 18 Luật giải quyết khiếu nại năm 2011;
Áp dụng Khoản 2 Điều 193, Điều 348 Luật tố tụng Hành chính năm 2015;
Áp dụng Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 51/2020/NĐ-CP ngày 21/4/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2014/NĐ-CP26 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Điện lực về an toàn điện.
Áp dụng Điều 66, Điều 71, Điều 74 và Điều 75 Luật Đất đai năm 2013;
Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh T đối với Chủ tịch UBND huyện Đ và UBND huyện Đ về việc “yêu cầu hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”.
-
Bác yêu cầu của ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Công văn số 5517/UBND-TCD ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc: “trả lời đơn của công dân” của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An có nội dung quyết định giải quyết kiến nghị ngày 29/9/2022 của ông Lê Thanh T.
-
Bác yêu cầu của ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc thu hồi đất đối với ông Lê Văn Đ.
-
Bác yêu cầu của ông Lê Thanh T yêu cầu hủy Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
-
Bác yêu cầu của ông Lê Thanh T yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định thay thế Quyết định số 5742/QĐ-UBND ngày 07/12/2020; Quyết định số 5393/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An về việc thu hồi đất đối với ông Lê Văn Đ và Quyết định số 5338/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
-
-
Về án phí Hành chính phúc thẩm:
Ông Lê Thanh T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bạch Y, ông Lê Trung H3, bà Nguyễn Thị H4, ông Lê Minh H5, bà Lê Thị Thu H6 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, được khấu trừ theo biên lai tạm ứng án phí số 0000078 ngày 02/10/2023, 0005616, 0005615, 0005617, 0005614, 0005613 ngày 18/10/2023 của Cục thi hành án tỉnh Long An.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 1012/2024/HC-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai
- Số bản án: 1012/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo ông Lê Thanh Tâm và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bạch Yến, ông Lê Trung Hiếu, bà Nguyễn Thị Hai, ông Lê Minh Hùng, bà Lê Thị Thu Hiền. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 157/2023/HC-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
