Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1012/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu

cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Châu Thị Lệ .
  2. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Duy Bảo Chinh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06, 23 tháng 8, ngày 18, 23, 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số: 377/2022/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 383/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 336/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 550/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Thái Lệ V, sinh năm 1967; HKTT: 252/62/23 P, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; địa chỉ: 2 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

  1. Ông Châu Quý Q, sinh năm 1983; địa chỉ: 5 P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
  2. Ông Châu Đình T, sinh năm 1994; địa chỉ: 5 P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  1. Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1976; địa chỉ: 2 P, Phường 1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thái Kim C, sinh năm 1999; địa chỉ: 2 P, Phường 1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
  3. Bà Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1985; địa chỉ: E Đường số A, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
  4. Em Thái Nguyễn Minh A, sinh năm 2012; địa chỉ: E Đường số A, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật cho em T3 Nguyễn Minh A: Bà Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1985; địa chỉ: E Đường số A, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
  5. Em Thái Nguyễn Phương L1, sinh năm 2011 và em T3 Nguyễn Hải P1, sinh năm 2013; cùng địa chỉ: 2 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật cho em T3 Nguyễn Phương L1 và em T3 Nguyễn Hải P1: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; địa chỉ: 2 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền:

  • Ông Châu Quý Q, sinh năm 1983; địa chỉ: 5 P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
  • Ông Châu Đình T, sinh năm 1994; địa chỉ: 5 P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
  1. Ông Nguyễn Kim H, sinh năm 1975; địa chỉ: 2 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bà Trần Nguyễn Đan P, sinh năm 1976; địa chỉ: 2 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 1979; địa chỉ: 5 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện ủy quyền: Ông Lâm Thanh T4, sinh năm 1978; địa chỉ: Số C đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).

  1. Người làm chứng: Bà Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1993; HKTT: 183/32, tổ G khu phố L, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2022, đơn bổ sung khởi kiện đề ngày 18/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bản tự khai, nguyên đơn bà Thái Lệ V trình bày:

Cha bà là ông Thái Văn T5, sinh năm 1930 (chết ngày 21/6/2019), mẹ bà là bà Phan Yến C1, sinh năm 1943 (chết ngày 19/4/1999). Cha mẹ bà V sinh được 04 người con gồm: Ông Thái Hồng Q1, sinh năm 1965 (chết ngày 30/5/2018); bà Thái Lệ V, sinh năm 1967; ông Thái Hồng M, sinh năm 1970 (chết ngày 14/6/2021); ông Thái Hồng S, sinh năm 1973 (chết ngày 12/10/2021). Ngoài ra, ông bà nội và ông bà ngoại của bà V đã mất trước cha mẹ bà V và ông T5, bà C1 không có con nuôi, con riêng nào khác. Ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 không để lại di chúc.

Ông Q1 có vợ là bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1976 và có 01 người con là bà Thái Nguyễn Kim C2, sinh năm 1999. Ông M có vợ là bà Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1985 và có 01 người con là em Thái Nguyễn Minh A, sinh năm 2012. Ông S có vợ là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 và có 02 người con là em Thái Nguyễn Phương L1, sinh năm 2011; em Thái Nguyễn Hải P1, sinh năm 2013.

Ngày 06/01/1992, vợ chồng ông T5, bà C1 đã mua nhà của Hội đồng bán hóa giá nhà XNLH Z751, có ký kết Hợp đồng mua bán hóa giá nhà (thuộc sở hữu của nhà nước) số 40/HĐBHGN ngày 06/01/1992 tại địa chỉ số B N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nay số mới là 236/15 đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1994, ông T5 và bà C1 được Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29/9/1994 với diện tích khuôn viên 137,7m², diện tích xây dựng 72,6m², diện tích sàn sử dụng 54,7m². Năm 1999, ông T5 và bà C1 (chết năm 1999) có đăng ký kê khai nhà đất với diện tích khuôn viên 137,7m², diện tích xây dựng 72m².

Khi ông T5, bà C1 mất không để lại di chúc nên bà V làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật đối với Căn nhà và đất số 21A, Khu A, N, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay tài sản này đang do bà Nguyễn Thị L là vợ của ông Thái Hồng S đang quản lý, sử dụng. Bà L đang giữ toàn bộ các giấy tờ có liên quan đến căn nhà là di sản nhưng không đồng ý cung cấp cho bà V để thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế và chia di sản thành 04 phần.

Ngày 13/10/2022, bà Thái Lệ V có làm đơn kiến nghị gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A2, quận G để kiến nghị hoà giải liên quan việc khai nhận

di sản thừa kế nhưng chưa thống nhất được biện pháp phân chia nên làm đơn khởi kiện gửi đến Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 20/10/2022, bà Thái Lệ V khởi kiện ra Toà án quận G để yêu cầu phân chia tài sản thừa kế. Bà Thái Lệ V khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết việc phân chia di sản thừa kế đều cho 04 người gồm: Ông Thái Hồng Q1; bà Thái Lệ V; ông Thái Hồng M; ông Thái Hồng S mỗi người được ¼ giá trị căn nhà dự kiến mỗi phần tầm 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng) do bà V tự ước lượng giá trị tài sản khoảng 8.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Tám tỷ đồng).

Ngày 18/10/2023, bà V có đơn bổ sung khởi kiện với nội dung về việc bà V sửa chữa xây dựng lại căn phòng phía sau của căn nhà tại địa chỉ số B N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà V sửa chữa xây dựng lại căn phòng phía sau là để cho ông Thái Hồng M ra ở riêng. Nguyên nhân là vì ông M trước đây khi ở chung với ông T5 và vợ chồng ông Thái Hồng S, bà Nguyễn Thị L thì có xảy ra mâu thuẫn nên cả gia đình thống nhất cho ông M ra ở riêng tại căn phòng phía sau căn nhà. Bà V là người đứng ra chi trả chi phí xây dựng hơn 35.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi lăm triệu đồng). Sau khi ông M mất, vào tháng 9/2022, bà V đã tiến hành sửa chữa tu bổ lại căn phòng với chi phí 12.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười hai triệu đồng) để cho thuê và số tiền cho thuê được sử dụng cho con ông M là trẻ Thái Nguyễn Minh A làm chi phí ăn học. Vì vậy, bà Thái Lệ V đã bổ sung yêu cầu khởi kiện khi phân chia di sản thì hoàn trả lại phần đóng góp tôn tạo sửa chữa một phần nhà cho bà V. Bà V không có nhu cầu nhận hiện vật và đề nghị chia theo giá trị tài sản thừa kế.

Nguyên đơn khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác để cung cấp cho Tòa án.

Bị đơn bà Nguyễn Thị L có mặt để tự khai và tại phiên họp kiểm tra, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải ngày trình bày:

Bị đơn đồng ý, thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn xác định hàng thừa kế của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1. Ông T5, bà C1 có 4 người con là bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng Q1, ông Thái Hồng M và ông Thái Hồng S. Hàng thừa kế thứ nhất của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 chỉ có 4 người là bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng Q1, ông Thái Hồng M và ông Thái Hồng S. Thống nhất với nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật.

Ngày 18/10/2023, bà L có đơn phản tố yêu cầu được nhận lại phần đóng góp sửa chữa nhà và phần thờ cúng của ông bà trước đây cũng như sau này. Cụ thể, đối với yêu cầu tiền đóng góp, xây dựng tôn tạo: 50.000.000 đồng mà phần tiền yêu cầu đối với phần sửa chữa vị trí số (5) Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 131263/TTDĐBĐ-VPTT (CSI) ngày 21 tháng 9 năm 2023; đối với quản lý, bảo quản bao gồm tiền nộp thuế sử dụng đất tạm tính từ ngày 21/6/2019 đến 18/10/2023 tổng 144.00.000 đồng; đối với việc thờ cúng bà Phan Yến C1 (từ năm 2008), ông Thái Văn T5 (từ năm 2019) đến khi con trai bị đơn đủ 18 tuổi, số tiền 230.000.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu là 424.000.000 đồng. Đối với

yêu cầu quản lý, bảo quản, bị đơn đã nộp tài liệu về thuế để chứng minh có việc thực tế quản lý, bảo quản tài sản của bị đơn chứ không yêu cầu đối với phần thuế sử dụng đất mà bị đơn đã nộp. Tuy nhiên bị đơn không có giữ biên lai thu tiền thuế năm 2021, bị đơn không yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ để chứng minh cho nội dung này. Do giá trị tài sản quá lớn bà L không có khả năng đưa tiền lại cho các đồng thừa kế, không có nhu cầu nhận hiện vật và đề nghị chia theo giá trị tài sản. Đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Đồng ý kết quả định giá tài sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T1 trình bày:

bà T1 đồng ý, thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn xác định hàng thừa kế của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1. Ông T5, bà C1 có 4 người con là bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng Q1, ông Thái Hồng M và ông Thái Hồng S. Hàng thừa kế thứ nhất của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 chỉ có 4 người là bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng Q1, ông Thái Hồng M và ông Thái Hồng S. Ông T5 và bà C1 khi chết không để lại di chúc. Bà T1 là vợ của ông Thái Hồng Q1, có 01 con chung là bà Thái Nguyễn Kim C2. Bà T1 xác nhận thống nhất với nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật. Bà V không có nhu cầu nhận hiện vật và đề nghị chia theo giá trị tài sản thừa kế.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thái Nguyễn Kim C2 trình bày:

bà C2 đồng ý, thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn xác định hàng thừa kế của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1. Ông T5, bà C1 có 4 người con là bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng Q1, ông Thái Hồng M và ông Thái Hồng S. Hàng thừa kế thứ nhất của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 chỉ có 4 người là bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng Q1, ông Thái Hồng M và ông Thái Hồng S. Ông T5 và bà C1 khi chết không để lại di chúc. Bà T1 là vợ của ông Thái Hồng Q1, có 01 con chung là bà Thái Nguyễn Kim C2. Bà C2 xác nhận thống nhất với nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật. Bà C2 không có nhu cầu nhận hiện vật và đề nghị chia theo giá trị tài sản thừa kế.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy T2 trình bày:

bà T2 đồng ý, thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn xác định hàng thừa kế của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1. Ông T5, bà C1 có 4 người con là bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng Q1, ông Thái Hồng M và ông Thái Hồng S. Hàng thừa kế thứ nhất của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 chỉ có 4 người là bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng Q1, ông Thái Hồng M và ông Thái Hồng S. Ông T5 và bà C1 khi chết không để lại di chúc. Bà T2 là vợ của ông Thái Hồng M, có 01 con chung là trẻ Tháu Nguyễn Minh A. Bà T2 xác nhận thống nhất với nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật. Bà T2 không có nhu cầu nhận hiện vật và đề nghị chia theo giá trị tài sản thừa kế.

Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh D thì bà T2 không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà D vì bà T2 không nghe ông M nói gì về số nợ trên đối với bà D và ông M cũng không làm ăn gì để phải nợ số tiền lớn như vậy. Đối với việc giám định chữ ký trên giấy vay nợ thì bà T2 không yêu cầu giám định, do

bà D khởi kiện thì bà D phải yêu cầu giám định chữ ký chứ bà T2 không yêu cầu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh D có mặt để tự khai và trong giải quyết vụ án đã có đơn yêu cầu độc lập, người đại diện uỷ quyền của bà D trình bày:

Ngày 03/10/2016, bà Nguyễn Thị Thanh D có cho ông Thái Hồng M vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) với mức lãi suất 3.000.000 đồng/tháng, thanh toán lãi vào ngày 03 tây hàng tháng và ông M hẹn đến ngày 03/10/2018 sẽ thanh toán số tiền gốc. Khi vay, bà D và ông M có làm giấy vay tiền và bà D giao tiền mặt cho ông M. Trong quá trình vay, ông M không có trả lãi cho bà D đến thời hạn thanh toán là ngày 03/10/2018, ông M vẫn không thanh toán tiền gốc cho bà D. Bà D đã nhiều lần gặp ông M để yêu cầu ông M thanh toán tiền gốc và trả lãi những tháng ông M chưa trả, ông M liên tục hứa hẹn sẽ thanh toán nhưng không thanh toán. Bà D cho rằng việc ông M không trả tiền cho bà là đã vi phạm hợp đồng. Hiện nay, ông M đã chết. Ngày 01/4/2024, để đảm bảo quyền lợi của bản thân, bà Nguyễn Thị Thanh D có làm đơn yêu cầu độc lập gửi đến Tòa án nhân dân quận Gò Vấp để yêu cầu bà Nguyễn Thị Thùy T2 và trẻ Thái Nguyễn Minh A là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thái Hồng M có nghĩa vụ trả lại cho bà D số tiền 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Kim H và bà Trần Nguyễn Đan P trình bày:

phần diện tích sử dụng của căn nhà 2 T, Phường A, quận G (phần nằm phía bên trên của căn nhà 2 T, Phường A, quận G) thuộc quyền sở hữu của ông H và bà P, được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tà sản khác gắn liền với đất số CS 06141 ngày 31/7/2019. Do nhà ông H và bà P không liên quan đến căn nhà tranh chấp 2 T, Phường A, quận G nên ông H và bà P không có ý kiến, không liên quan và xin vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử vụ án.

Người làm chứng bà Nguyễn Ngọc Đ trình bày:

Ngày 03/10/2016, bà Đ là bạn của ông Thái Hồng M và bà Nguyễn Thị Thanh D nên có mặt tại địa chỉ 2 đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm đó, ông M có vay tiền bà D số tiền 1.000.000.000 đồng. Hai người nhờ bà Đ viết hộ giấy vay tiền và ký với tư cách người làm chứng vào giấy vay tiền này. Bà Đ trình bày đối với giấy vay tiền ngày 03/10/2016 giữa bà Nguyễn Thị Thanh D và ông Thái Hồng M là có thật và bà Đ chính là người chứng kiến và viết giấy vay nợ ngày 03/10/2016. Bà Đ chứng kiến bà D đưa tiền mặt cho ông M và ông M lăn tay trên giấy vay nợ. Bà Đ xin vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và xét xử vụ án.

Kết quả xác minh tại Công an P2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh: Tại nhà địa chỉ 2 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có 03 nhân khẩu đăng ký thường trú: Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Thái Nguyễn Phương L1,

sinh năm 2011; Thái Nguyễn Hải P1, sinh năm 2013. Đăng ký tạm trú và cư trú tại: xóm C, H, Hưng Yên, Nghệ An. Hiện tại căn nhà 236/15 (số cũ B N) T, Phường A, quận G do bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 quản lý và sinh sống, thực tế cư trú nhưng thường xuyên đóng cửa.

Công văn số 879/CNGV ngày 24/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận G trả lời như sau:

Theo hồ sơ hiện đang lưu trữ, thể hiện: Nhà đất tại địa chỉ số B khu A thuộc đường N, Phường A quận G ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 mua theo Hợp đồng mua bán hóa giá nhà (thuộc sở hữu của nhà nước) số 40/HĐBHGN ngày 06 tháng 01 năm 1992 và được Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29 tháng 9 năm 1994. Năm 1999, Ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 (chết 1999) có đăng ký kê khai nhà đất. Qua kiểm tra cơ sở dữ liệu hiện có, không thấy thể hiện nhà đất nêu trên đăng ký đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận G không thể cung cấp thông tin về “hiện nay ai đang là người sử dụng đất, chủ sở hữu đối với nhà đất nêu trên”.

Công văn số 5106/UBND-TNMT ngày 12/10/2023 của Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời như sau:

Nhà đất số 236/15 T (số cũ 21A khu A N), Phường A, quận G do ông bà Thái Văn T5 - Phan Yến C1 mua của Hội đồng bán hóa giá nhà XNLH Z751 (theo Hợp đồng mua bán hóa giá nhà (thuộc sở hữu của Nhà nước) số 40/HĐBHGN ngày 06/01/1992). Năm 1994, ông bà Thái Văn T5 - Phan Yến C1 được Ủy ban nhân dân Thành phố cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29/9/1994 với diện tích khuôn viên 137,7m², diện tích xây dựng 72,6m², diện tích sàn sử dụng 54,7m². Năm 1999, ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 (chết năm 1999) có đăng ký kê khai nhà đất với diện tích khuôn viên 137,7m², diện tích xây dựng 72m². Nay theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T lập theo hợp đồng số 131263/TTĐĐBĐ-VPTT (CS1) ngày 21/9/2023 thì nhà đất trên có diện tích 140,4m². Như vậy, diện tích nhà đất hiện nay tăng 2,7m² so với Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29/9/1994. Do đó, phần diện tích đất 137,7m² (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29/9/1994) đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; phần diện tích đất tăng 2,7m² so với Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29/9/1994, không phù hợp quy hoạch nên không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận (gạch sọc không công nhận diện tích). Đối với nội dung 2: Các công trình sửa chữa tại ký hiệu số (1), (2), (5) nếu được Ủy ban nhân dân Phường A2 xác nhận thời điểm sửa chữa nhà trước ngày 01/7/2006 và phù hợp quy hoạch thì đủ điều kiện chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 31 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Quy hoạch xây dựng đô thị: Vị trí nhà, đất thuộc khu quy hoạch đất ở hiện hữu theo Đồ án Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỉ lệ 1/2000 Phường A, quận G

được Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt tại Quyết định số 4354/QĐ-UBND ngày 23/8/2012. Quy hoạch lộ giới: Hẻm hướng Nam lộ giới 10m, hẻm hướng Bắc lộ giới 6m theo Đồ án Điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng lộ giới đường hẻm (<12m) tỉ lệ 1/500 Phường A, quận G được Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt tại Quyết định số 1567/QĐ-UBND ngày 29/01/2013. Về kế hoạch sử dụng đất: Qua rà soát kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của quận G được Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt tại Quyết định số 3233/QĐ-UBND ngày 02/8/2023 thì nhà đất trên không nằm trong ranh các dự án thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất năm 2023.

Biên bản định giá tài sản ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá theo Quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá số 334/2023/QĐ-ĐG ngày 27/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp:

Giá trị phần xây dựng (1): giá trị mới là 210.251.408 đồng, giá trị đã qua sử dụng là 42.050.282 đồng. Giá trị xây dựng phần (2): giá trị mới là 66.975.442 đồng, giá trị đã qua sử dụng là 13.395.088 đồng. Giá trị xây dựng phần (5): giá trị mới là 103.785.304 đồng, giá trị đã qua sử dụng là 20.757.061 đồng. Tổng giá trị nhà và đất: 11.399.286.164 đồng.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn trình bày:

Bà Thái Lệ V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế nhà đất số 236/15 T (số cũ 21A khu A N), Phường A, quận G do ông bà Thái Văn T5 - Phan Yến C1 mua của Hội đồng bán hóa giá nhà XNLH Z751 (theo Hợp đồng mua bán hóa giá nhà (thuộc sở hữu của Nhà nước) số 40/HĐBHGN ngày 06/01/1992). Trước đây do mâu thuẫn vợ chồng mà bà L và hai cháu đã dọn ra ở riêng và không ở tại căn nhà 2 T (số cũ 21A khu A N), Phường A, quận G. Khi em trai bà là Thái Hồng S lâm bệnh nặng thì bà L cũng không hề quan tâm, việc chăm sóc chủ yếu do bà V và những người trong gia đình thực hiện. Sau khi em trai bà là ông Thái Hồng S chết ngày 12/10/2021 thì bà L đưa con quay về và có xin về ở nhà 2 T (số cũ 21A khu A N), Phường A, quận G để tiện làm ma chay, thờ cúng cho ông S. Vì lý do đó nên gia đình mới cho L quay về ở nhà này và giao chìa khóa chứ không phải là giao cho L quản lý tài sản này. Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn thì căn nhà trên đóng cửa do L thay chìa khóa khác. Bà V đã nhiều lần yêu cầu bà L mở cửa để mọi người làm giỗ cho ông T5 và ông S nhưng bà L khóa cửa, không cho vô nhà. Sau đó thì mọi người tự thờ cúng theo cái tâm của mình. Do đó, bà V không chấp nhận yêu cầu của bà L về tiền quản lý, bảo quản di sản. Đối với việc thờ cúng, cha mẹ bà V khi chết cũng không có di nguyện nói ai phải thực hiện việc thờ cúng, anh chị em không có thống nhất cử ai để thờ cúng Ông Bà, nhà nào tự lập bàn thờ và cúng ở nhà đó nên bà V không chấp nhận việc bà L yêu cầu tiền thờ, cúng. Đối với yêu cầu phần giá trị xây dựng 50.000.000 đồng thì bà V đồng ý với yêu cầu của bà L.

Đại diện ủy quyền cho bị đơn là ông Châu Đình T trình bày:

Di sản của cụ Thái Văn T5 và cụ Phan Yến C1 là căn nhà và quyền sử dụng đất có địa chỉ tại 2 T, Phường A, Quận G, có giá trị theo định giá là: 11 tỷ 399 triệu.

Cụ Thái Văn T5 mất ngày 21 tháng 6 năm 2019, không để lại di chúc.

Ngày 20 tháng 10 năm 2022, bà Thái Lệ V khởi kiện bà Nguyễn Thị L là người quản lý, sử dụng di sản nhằm yêu cầu chia di sản thừa kế.

Ngày 18 tháng 10 năm 2023, bà Nguyễn Thị L có Đơn phản tố yêu cầu:

  1. Tiền đóng góp, xây dựng, tôn tạo là 50.000.000 đồng.
  2. Tiền quản lý, bảo quản di sản (thể hiện bằng việc nộp thuế sử dụng đất) được xác định theo tháng (Từ ngày cụ T5 mất 21/6/2019 đến 18/10/2023) với tổng số tiền là 144.000.000 đồng.
  3. Tiền thờ cúng bà Phan Yến C1 (Từ năm 2008) và cụ Thái Văn T5 (từ 2019) đến khi con trai của bà Nguyễn Thị L là cháu T3 Nguyễn Hải P1 đủ 18 tuổi, được tính là 10 triệu đồng/năm; tổng số tiền là 230 triệu.

Tổng số tiền bà L yêu cầu trích ra từ di sản để trả cho bà L và phục vụ việc thờ cúng là 424.000.000 đồng.

Tôi cho rằng, các nội dung trong đơn phản tố của bà L là phù hợp và cần được chấp nhận

Thứ nhất, đối với tiền đóng góp, xây dựng, tôn tạo là 50.000.000 đồng: Trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm định tại chổ, xem xét hiện trạng tại phiên Tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Thái Lệ V cũng như các đồng thừa kế khác đều công nhận việc đóng góp xây dựng, tôn tạo của vợ chồng bà L và đồng ý đối với yêu cầu về này của bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.

Thứ hai, đối với yêu cầu tiền quản lý, bảo quản di sản (thể hiện bằng việc nộp thuế sử dụng đất, bằng việc quản lý căn nhà) được xác định theo tháng (Từ ngày cụ T5 mất 21/6/2019 đến 18/10/2023) với tổng số tiền là 144.000.000 đồng.

Bà L là người quản lý, bảo quản di sản do đó, yêu cầu của bà L về tiền quản lý, bảo quản di sản là đúng theo quy định Điều 618 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về tài liệu, chứng cứ chứng minh bà L là người quản lý, bảo quản di sản gồm: việc đóng thuế đất hàng năm, xác nhận của cơ quan Công an đang cư trú tại địa điểm 236/15 Thống nhất (tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu 1316/2023 của TAND quận Gò Vấp có xác nhận của Công an Phường). Bên cạnh đó, tại đơn khởi kiện của bà V và phiên tòa, các đồng thừa kế khác đều công nhận việc bà L đang quản lý di sản.

Về mức tiền là 144 triệu đồng, tương đương với 3 triệu 1 tháng cho việc quản lý, bảo quản là mức thù lao hợp lý. Xét trên khía cạnh mức lương tối thiểu vùng từ ngày 01/01/2019 tại TP HCM theo nghị định số 157/2018/NĐ – CP quy

định mức lương tối thiểu vùng là 4.180 nghìn. Bên cạnh đó trên tỷ lệ giá trị của tài sản thì mức 3 triệu 1 tháng mà bà L yêu cầu là phù hợp.

Cuối cùng, đối với tiền thờ cúng bà Phan Yến C1 (Từ năm 2008) và cụ Thái Văn T5 (từ 2019) đến khi con trai của bà Nguyễn Thị L là cháu T3 Nguyễn Hải P1 đủ 18 tuổi, được tính là 10 triệu đồng/năm; tổng số tiền là 230 triệu. Thờ cúng tổ tiên bắt nguồn sâu xa từ truyền thống phụ quyền của nền sản xuất nông nghiệp. Điều này, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, người con sẽ được cha, mẹ để lại đất đai, tiếp tục kế thừa hương hoả để sinh sống. Theo tập tục, ngôi nhà mà ông bà, cha mẹ thuở sanh tiền ở với người con trai út được xem là từ đường để giỗ quải mọi người tập trung. Theo truyền thống của vùng Nam bộ, con trai út là người giữ hương hỏa, lo việc thờ cúng tổ tiên. Giỗ chạp của ông bà thường được tổ chức ở Từ đường và do người con trai út đứng ra lo toan mọi sự. Nguyên quán của cụ Thái Văn T5 là ở C, Đồng Tháp. Trước khi mất, cụ T5 vẫn giữ nguyên vẹn truyền thống, ở cùng với con trai út của cụ là anh Thái Hồng S. Không may anh S mất, trách nhiệm giỗ chạp, khấn vái ông bà do con trai của anh S là cháu T3 Nguyễn Hải P1 đảm nhiệm, giữ vững hương khói gia đình. Với truyền thống và có thể là ý nguyện của cụ T5 lúc sinh thời, anh S và sau này là cháu Hải P1 là người thờ cúng trong gia đình, do vậy, yêu cầu về trích một phần di sản để phục vụ việc thờ cúng với số tiền 230 triệu là phù hợp (10 triệu/năm) căn cứ Điều 45 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tôi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tập quán để chấp thuận yêu cầu của bà L.

Đề nghị Hội đồng xét xử chia di sản theo quy định của pháp luật sau khi trừ đi các chi phí theo yêu cầu phản tố của bà L, cụ thể bà L sẽ được nhận: ¼ giá trị di sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T1 trình bày:

bà T1 đồng ý, thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn, thống nhất về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật. Bà T1 không có nhu cầu nhận hiện vật và đề nghị chia theo giá trị tài sản thừa kế. Đối với việc thờ cúng, cha mẹ tôi khi chết cũng không có di nguyện bắt ai phải thực hiện việc thờ cúng, anh chị em tôi không có thống nhất cử ai để thờ cúng Ông Bà hết, mọi người nhà nào tự lập bàn thờ và cúng ở nhà đó. Thống nhất với yêu cầu của bà L về phần xây dựng 50.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thái Nguyễn Kim C2 trình bày:

bà C2 đồng ý, thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn, thống nhất về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật. Bà C2 không có nhu cầu nhận hiện vật và đề nghị chia theo giá trị tài sản thừa kế. Thống nhất với yêu cầu của bà L về phần xây dựng 50.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy T2 trình bày:

bà T2 đồng ý, thống nhất với nội dung trình bày của nguyên đơn, thống nhất về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật. Bà T2 không có nhu cầu nhận hiện vật và đề nghị chia theo giá trị tài sản thừa kế. Thống nhất với yêu cầu của bà L về phần xây dựng 50.000.000 đồng. Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh D

thì bà T2 không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà D và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh D do ông Lâm Thanh T4 đại diện ủy quyền trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thanh D giữ nguyên yêu cầu độc lập yêu cầu bà Nguyễn Thị Thùy T2 và trẻ Thái Nguyễn Minh A là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thái Hồng M có nghĩa vụ trả lại cho bà D số tiền 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Nguyễn Đan P trình bày:

Bà P không đồng ý với bản vẽ hiện trạng căn nhà 2 T, Phường A, quận G. Bản vẽ này không chính xác so với với công trình xây dựng và bản vẽ ban đầu được chụp từ hồ sơ lưu trữ tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Quận G ngày 17/10/2022 cũng như không đúng với thỏa thuận của các bên trong Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/07/2023 và 29/05/2023. Chi tiết cụ thể như sau: Trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13 tháng 07 năm 2023 các đương sự thỏa thuận và đề nghị thay đổi nội dung ghi chú trong bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 131263/TTĐĐ BĐVPTT ngày 06/03/2023 như sau: Ký hiệu số (4) từ nội dung “Trệt lầu mái ngói” sửa thành “Trệt “. Lý do nhà phía dưới chỉ được quyền sử dụng phần diện tích ở tầng trệt còn phần lầu mái ngói phía trên thuộc quyền sử dụng của nhà bà P (nhà phía trên). Hiện tại nội dung này chưa được điều chỉnh trong bản vẽ. Ký hiệu số (3) từ nội dung “Trệt đúc” sửa thành “Trệt”. Lý do nhà phía dưới chỉ được quyền sử dụng phần diện tích ở tầng trệt. Còn phần phía trên là hệ thống thoát nước của mái ngói đổ xuống và có đường ống thông xuống tầng dưới để đi xuống hầm thoát nước, cũng như lấy ánh sáng và gió cho cả 2 nhà. Phần này cả nhà trên và nhà dưới đều không được phép xây dựng. Hiện trạng của phần này từ khi xây dựng ban đầu cho đến giờ là từ nhà phía trên (nhà bà P) có cửa mở ra, có bậc thang để bước xuống phần đúc, ban công phía trên nhỏ và bờ tường bên hông xây de ra ngoài nên nhà trên và nhà dưới chỉ tự thỏa thuận phân chia khoảng không rồi rào lại (không được phép xây dựng) để đảm bảo an toàn cho nhà mình mà vẫn đảm bảo không gian chung cho cả hai nhà và không ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước (đính kèm hình chụp thực tế số 1 + số 2). Hiện tại nội dung này chưa được điều chỉnh trong bản vẽ. Phần trên của nhà bà P là phần mái ngói và ban công de ra ngoài phía bên mặt tiền và phía sau của nhà 236/15. Toàn bộ phần xây dựng này đã được xây dựng từ ban đầu và được vẽ trong bản vẽ được sao chụp từ Hồ sơ lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai quận G ngày 17/10/2022. Phần ban công de ra này cũng là hệ thống thoát nước cho mái ngói và là không gian chung lấy ánh sáng và gió cho nhà trên và nhà dưới nên cả nhà trên và nhà dưới đều không được phép xây dựng trong khu vực này và khi nhà dưới xây dựng phải xây cách phần ban công này một khoảng cách nhất định để đảm bảo ánh sáng và gió cũng như hệ thống thoát nước chung của khu. (Đính kèm hình chụp thực tế số 3 + số 4). Nhưng bản vẽ bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 131263/TTĐĐBĐ-VPTT ngày 21 tháng 09 năm 2023; Bản vẽ hiện trạng nhà số B (số cũ 21A-Khu A) Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đã không thể hiện phần mái ngói +

ban công và bờ tường de ra của ba khu vực này cũng như không thể hiện đây là khu vực không được phép xây dựng trên bản vẽ, điều này sẽ dẫn đến xung đột, tranh chấp, thưa kiện khi nhà dưới xây nhà theo bản vẽ. Vì thế, bà P đề nghị Tòa án xem xét điều chỉnh bản vẽ thể hiện đầy đủ các mục xây dựng theo đúng hiện trạng xây dựng và bản vẽ ban đầu bao gồm:

  1. Thể hiện rõ ràng phần mái ngói, ban công và tường de ra ở 3 khu vực chung: mặt tiền, phía sau và phía hông nhà 236/15 (số cũ 21A-Khu A) Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh trong bản vẽ.
  2. Thể hiện rõ trên bản vẽ phần gạch chéo không được phép xây dựng ở 3 khu vực sử dụng chung này để đảm bảo không ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước đổ xuống từ mái ngói của toàn khu (Tất cả nhà trong khu vực này được xây dựng đồng loạt như nhau) cũng như đảm bảo không gian lấy ánh sáng và gió của cả nhà trên và nhà dưới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

* Về tố tụng:

Từ khi Tòa án nhân dân quận Gò Vấp thụ lý vụ án đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Cụ thể như sau: Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp; Tống đạt cho đương sự đúng quy định tại Điều 175 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Tiến hành phiên hòa giải đúng quy định tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Quyết định đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 220 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ việc.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; bị đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 72, Điều 73 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

Căn cứ khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2, 3 Điều 92, Điều 228, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Đề nghị hội đồng xét xử tuyên:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Chia di sản thừa kế do ông T5 và bà C1 để lại cho các đồng thừa kế.
  • Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về chi phí quản lý di sản, chi phí thờ cúng.
  • Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn về chi phí tu sửa xây dựng.
  • Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh D.
  • Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào và ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, T6 phồ Hồ Chí Minh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết: Khi thụ lý vụ án Tòa án xác định tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp đòi tài sản”. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ pháp luật về tranh chấp về chia di sản thừa kế và thực hiện nghĩa vụ trả nợ do người chết để lại phát sinh từ hợp đồng vay tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn bà Nguyễn Thị L hiện đang cư trú tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và tài sản tranh chấp là bất động sản tại quận G nên vụ kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Thời hiệu khởi kiện:

Đối với tranh chấp về thừa kế tài sản: Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản. Bà Phan Yến C1 chết ngày 19/4/1999 theo Giấy chứng tử số 39, Quyển số 1/99 ngày 20/5/1999 Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và ông Thái Văn T5 chết ngày 21/6/2019 theo Giấy chứng tử số 80 ngày 21/6/2019 của Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà C1 và ông T5 chết không để lại di chúc nên thời điểm mở thừa kế là năm 1999 và 2019. Ngày 20/10/2022, nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ án còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đối với tranh chấp thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại: Theo quy định khoản 3 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Bà Nguyễn Thị Thanh D yêu cầu bà Nguyễn Thị Thùy T2 và trẻ Thái Nguyễn Minh A là những người thừa kế của ông Thái Hồng M có nghĩa vụ trả lại cho bà D số tiền 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng). Ông Thái Hồng M chết ngày 14/6/2021 theo Giấy chứng tử số 70 ngày 15/6/2021 của Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10/4/2024, bà Nguyễn Thị Thanh D khởi kiện là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trình tự tố tụng: Đại diện ủy quyền của bị đơn ông Châu Quý Q vắng mặt không lý do, bị đơn bà Nguyễn Thị L có mặt tại phiên tòa và đồng ý xét xử vắng mặt ông Châu Quý Q. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Kim H; Người làm chứng bà Nguyễn Ngọc Đ có đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đại diện ủy quyền của bị đơn ông Châu Quý Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Kim H, người làm chứng bà Nguyễn Ngọc Đ theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Di sản thừa kế:

Xét di sản thừa kế là nhà đất số B T (số cũ 21A khu A N), Phường A, quận G do ông bà Thái Văn T5 - Phan Yến C1 mua của Hội đồng bán hóa giá nhà XNLH Z751 (theo Hợp đồng mua bán hóa giá nhà (thuộc sở hữu của Nhà nước) số 40/HĐBHGN ngày 06/01/1992). Năm 1994, ông bà Thái Văn T5 - Phan Yến C1 được Ủy ban nhân dân Thành phố cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29/9/1994 với diện tích khuôn viên 137,7m², diện tích xây dựng 72,6m², diện tích sàn sử dụng 54,7m². Năm 1999, ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 (chết năm 1999) có đăng ký kê khai nhà đất với diện tích khuôn viên 137,7m², diện tích xây dựng 72m². Theo kết quả thẩm định của Tòa án thửa đất trên có diện tích như trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và không có tranh chấp với các hộ liền kề.

Qua xem xét hiện trạng, diện tích nhà đất hiện nay tăng 2,7m² so với Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29/9/1994. Căn cứ vào kết

quả trả lời của Ủy ban nhân dân quận G thì phần diện tích đất 137,7m² (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29/9/1994) đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; phần diện tích đất tăng 2,7m² so với Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29/9/1994, không phù hợp quy hoạch nên không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận (gạch sọc không công nhận diện tích). Như vậy, phần diện tích đất 137,7m² (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 5377/CN-UB ngày 29/9/1994) do bà Thái Văn T5 - Phan Yến C1 sử dụng ổn định từ năm 1994, đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013.

Các công trình sửa chữa trên đất: các đương sự khai do xây dựng trước năm 2006. Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G xác nhận thống nhất với lời trình bày của các đương sự về thời điểm xây dựng các công trình vì Ủy ban nhân dân Phường A2 không có tài liệu thể hiện những lời trình bày là không đúng. Như vậy, các công trình xây dựng được sửa chữa được xác định xây dựng trước năm 2006, phù hợp quy hoạch nên đủ điều kiện chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 31 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Như vậy, nhà đất số 236/15 T (số cũ 21A khu A N), Phường A, quận G là di sản thừa kế chưa chia của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1.

[2.2] Giá trị di sản thừa kế:

[2.2.1] Biên bản định giá tài sản ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá theo Quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá số 334/2023/QĐ-ĐG ngày 27/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp:

Giá trị phần xây dựng (1): giá trị mới là 210.251.408 đồng, giá trị đã qua sử dụng là 42.050.282 đồng. Giá trị xây dựng phần (2): giá trị mới là 66.975.442 đồng, giá trị đã qua sử dụng là 13.395.088 đồng. Giá trị xây dựng phần (5): giá trị mới là 103.785.304 đồng, giá trị đã qua sử dụng là 20.757.061 đồng. Tổng giá trị nhà và đất: 11.399.286.164 đồng.

Nguyên đơn bà Thái Lệ V yêu cầu trả lại cho bà V phần chi phí xây dựng, sửa chữa tại phần xây dựng số (02): giá trị mới là 66.975.442 đồng, giá trị đã qua sử dụng là 13.395.088 đồng. Bà V khai bà xây dựng phần nhà này để cho ông Thái Hồng M ở do có mâu thuẫn trong gia đình nên không thể ở chung với ông bà. Như vậy đây là phần xây dựng mà bà V tự nguyện bỏ ra xây dựng cho ông M sử dụng. Hội đồng xét xử chấp nhận phần giá trị xây dựng theo giá trị đã qua sử dụng là 13.395.088 đồng.

Bị đơn Nguyễn Thị L yêu cầu trả lại cho bà L phần chi phí xây dựng, sửa chữa tại phần xây dựng số (05): giá trị mới là 103.785.304 đồng, giá trị đã qua sử dụng là 20.757.061 đồng. Bà L khai do cùng chung sống với cha, mẹ nên khi nhà có hư hỏng bà L đứng ra sửa chữa. Do bà L cùng chung sống với cha mẹ, cùng hưởng lợi từ việc sống chung với cha, mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận

phần giá trị xây dựng theo giá trị đã qua sử dụng là 20.757.061 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa thì bà V, bà T1, bà T2, bà C2 đồng ý trả phần chi phí xây dựng, sửa chữa tại phần xây dựng là 50.000.000 đồng. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các đương sự nên chấp nhận yêu cầu của bà L đối với chi phí xây dựng, sửa chữa tại phần xây dựng số (05) là 50.000.000 đồng.

Như vậy, giá trị nhà và đất còn lại là: 11.399.286.164 đồng – (13.395.088 đồng + 50.000.000 đồng ) = 11.399.286.164 đồng – 63.395.088 đồng = 11.335.891.076 đồng.

[2.2.2] Xét yêu cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu:

Tiền quản lý, bảo quản di sản (thể hiện bằng việc nộp thuế sử dụng đất) được xác định theo tháng (Từ ngày cụ T5 mất 21/6/2019 đến 18/10/2023) với tổng số tiền là 144.000.000 đồng.

Bà V khai bà L và ông Thái Hồng S mâu thuẫn từ lâu và bà L đã bỏ nhà đi trước đó bằng chứng là bà V có nộp bản photo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lý hôn giữa bà L và ông S do Tòa án nhân dân quận Gò Vấp thụ lý ngày 22/4/2021, địa chỉ cư trú của bà L là Phường A, quận G chứ không phải nhà ở Phường A. Khi ông S chết ngày 12/10/2021 thì bà L có quay về xin chịu tang và xin ở trong nhà để tiện nhang khói cho S, đây cũng là tình nghĩa vợ chồng nên bà V đã đồng ý giao chìa khóa cho bà L ở trong nhà nhang khói cho chồng, sau đó mâu thuẫn diễn ra và bà L đóng cửa không cho ai vào nhà kể cả ngày giỗ của ông T5, bà C1. Bà L khai vẫn ở trong nhà và quản lý từ khi ông T5 chết đến nay và lời khai của bà V là không có căn cứ.

Kết quả xác minh tại Công an P2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh: Hiện tại căn nhà 236/15 (số cũ B N) T, Phường A, quận G do bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 quản lý và sinh sống, thực tế cư trú nhưng thường xuyên đóng cửa.

Như vậy, có cơ sở xác định bà L quản lý di sản thừa kế từ thời điểm tháng 10/2021 là có cơ sở. Do bà L ở trong nhà 236/15 (số cũ B N) T, Phường A, quận G, không phải thuê nhà, được hưởng lợi từ việc quản lý di sản thừa kế. Tuy nhiên, cũng cần xem xét công sức quản lý, giữ gìn di sản của bà L nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu này của bà L từ tháng 10/2021 đến tháng 10/2023 là: 50.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu tiền thờ cúng bà Phan Yến C1 (Từ năm 2008) và cụ Thái Văn T5 (từ năm 2019) đến khi con trai của bà Nguyễn Thị L là cháu T3 Nguyễn Hải P1 đủ 18 tuổi, được tính là 10 triệu đồng/năm; tổng số tiền là 230.000.000 đồng. Qua lời khai của bà V, bà T1, bà T2 thì khi bà C1, ông T5 còn sống không có nguyện vọng gì về việc thờ cúng và các con cũng không có thống nhất được việc ai có nghĩa vụ thờ cúng, từ trước đến nay thì việc thờ cúng do con cái chung tay cùng làm, khi xảy ra mẫu thuẫn thì cũng không thống nhất được ai có nghĩa vụ thờ cúng. Như vậy, bà C1 và ông T5 khi chết không có di chúc hay để lại di nguyện gì đối với nghĩa vụ thờ cúng của con cái, việc thờ cúng cha mẹ là sự biết ơn, hiếu thuận của con cái đối với cha mẹ, là truyền thống lâu đời của người Việt

Nam. Do những người thừa kế của ông T5 và bà C1 không thỏa thuận được việc giao cho ai có trách nhiệm thờ cúng nên Hội đồng xét xử cho rằng việc thờ cúng ông bà tổ tiên phục thuộc vào sự hiếu thuận của con cái chứ không trao cho riêng bất kì người con nào. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của bà Nguyễn Thị L.

Như vậy, giá trị nhà và đất còn lại là: 11.399.286.164 đồng – (13.395.088 đồng + 50.000.000 đồng + 50.000.000 đồng) = 11.399.286.164 đồng – 113.395.088 đồng = 11.285.891.076 đồng.

[2.3] Chia di sản thừa kế:

Xét ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 sinh sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Ông, bà chung sống với nhau từ đó cho đến khi bà Phan Yến C1 chết vào năm 1999. Quá trình chung sống ông, bà chăm sóc, giúp đỡ nhau, xây dựng gia đình hạnh phúc và sinh được 4 người con chung nên quan hệ hôn hân giữa ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 là quan hệ hôn nhân thực tế theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH1009/6/2000 của Quốc Hội và hướng dẫn tại điểm c mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP03/01/2001.

Bà Phan Yến C1 chết ngày 19/4/1999 theo Giấy chứng tử số 39, Quyển số 1/99 ngày 20/5/1999 Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và ông Thái Văn T5 chết ngày 21/6/2019 theo Giấy chứng tử số 80 ngày 21/6/2019 của Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, cả hai không để lại di chúc, các đồng thừa kế của bà C1, ông T5 cũng chưa chia di sản thừa kế nên thuộc trường hợp chia thừa kế theo pháp luật quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 có 4 con chung gồm: Ông Thái Hồng Q1, sinh ngày 05/9/1965; bà Thái Lệ V, sinh ngày 29/12/1967; ông Thái Hồng M, sinh ngày 16/8/1970; ông Thái Hồng S, sinh ngày 01/10/1973. Theo quy định tại khoản 1 Điều 611, Điều 613, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ông Thái Hồng Q1, bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng M, ông Thái Hồng S là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 nên được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 để lại.

Bà Phan Yến C1 chết ngày 19/4/1999 không để lại di chúc. Đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1. Do đó, ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 mỗi người được 1/2 giá trị tài sản nêu trên. Ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 có 04 con chung gồm: Ông Thái Hồng Q1, bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng M, ông Thái Hồng S. Căn cứ quy định tại Điều 638, Điểu 678, Điều 679 của Bộ luật Dân sự 1995, 1/2 giá trị tài sản của bà Phan Yến C1 do những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng gồm: ông Thái Văn T5, ông Thái Hồng Q1, bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng M, ông Thái Hồng S. Như vậy, mỗi người được 1/10 giá trị tài sản.

Ông Thái Hồng Q1 chết ngày 30/5/2018 theo Giấy chứng tử số 64 ngày 31/5/2018 của Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Q1 có vợ là bà Nguyễn Thị Kim T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 45, Quyển số I/99 ngày 06/5/1999 của Ủy ban nhân dân Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) và 01 con là Thái Nguyễn Kim C2, sinh ngày 07/4/1999 (Giấy khai sinh số 83, Quyển số I/99 ngày 06/5/1999 của Ủy ban nhân dân Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh). Theo quy định tại khoản 1 Điều 611, Điều 613, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ông Thái Văn T5, bà Nguyễn Thị Kim T1 và bà Thái Nguyễn Kim C2 là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Thái Hồng Q1 nên được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Thái Hồng Q1. Như vậy, 1/10 giá trị tài sản của ông Thái Hồng Q1 được hưởng chia cho ông Thái Văn T5, bà Nguyễn Thị Kim T1 và bà Thái Nguyễn Kim C2, mỗi người được 1/30 giá trị tài sản.

Ông Thái Văn T5 chết ngày 21/6/2019 không để lại di chúc. Do đó, ông Thái Văn T5 được 1/2 giá trị tài sản tranh chấp nêu trên. Ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1 có 04 con chung gồm: Ông Thái Hồng Q1 (chết năm 2018 nên con ông Q1 là bà Thái Nguyễn Kim C2 được hưởng thừa kế thế vị theo Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015), bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng M, ông Thái Hồng S. Di sản của ông Thái Văn T5 để lại bao gồm: 1/2 giá trị tài sản (tài sản chung vợ chồng) + 1/10 giá trị tài sản (phần di sản được hưởng từ bà C1) + 1/30 giá trị tài sản (phần di sản được hưởng từ ông Q1) = 19/30 giá trị tài sản. Căn cứ quy định tại Điều 650, Điều 651, Điều 652 của Bộ luật Dân sự 2015, 19/30 giá trị tài sản của ông Thái Văn T5 do những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng gồm: ông Thái Hồng Q1 (bà Thái Nguyễn Kim C2 được hưởng thừa kế thế vị), bà Thái Lệ V, ông Thái Hồng M, ông Thái Hồng S, mỗi người được 19/120 giá trị tài sản.

Ông Thái Hồng M chết ngày 14/6/2021 theo Giấy chứng tử số 70 ngày 15/6/2021 của Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Thái Hồng M có vợ là bà Nguyễn Thị Thùy T2 (Giấy chứng nhận kết hôn số 141, Quyển số 01/2012 ngày 08/6/2012 của Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) và 01 con: Thái Nguyễn Nguyễn Minh A, sinh ngày 15/10/2012 (Giấy khai sinh số 293, Quyển số 02/2012 của Ủy ban nhân dân Phường D1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh). Theo quy định tại khoản 1 Điều 611, Điều 613, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bà Nguyễn Thị Thùy T2 và trẻ Thái Nguyễn Minh A là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Thái Hồng M nên được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Thái Hồng M.

Ông Thái Hồng S chết ngày 12/10/2021 theo Giấy chứng tử số 136 ngày 12/10/2021 của Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Thái Hồng S có vợ là bà Nguyễn Thị L (Giấy chứng nhận kết hôn số 127 ngày 15/5/2008 của Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) và 02 con: Thái Nguyễn Phương L1, sinh ngày 12/01/2011 (Giấy khai

sinh số 61 ngày 23/02/2011 của Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G Thành phố Hồ Chí Minh) và Thái Nguyễn Hải P1, sinh ngày 16/7/2013 (Giấy khai sinh số 345, Quyển số 02/2013 của Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G Thành phố Hồ Chí Minh). Theo quy định tại khoản 1 Điều 611, Điều 613, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bà Nguyễn Thị L, trẻ Thái Nguyễn Phương L1, trẻ Thái Nguyễn Hải P1 là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Thái Hồng S nên được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Thái Hồng S.

Như vậy, phần di sản mỗi người được hưởng như sau:

  • Bà Nguyễn Thị Kim T1 được hưởng 1/30 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng/30 = 376.196.369 đồng.
  • Bà Thái Nguyễn Kim C2 được hưởng 1/30 giá trị tài sản + 19/120 giá trị tài sản = 23/120 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 23/120 = 2.163.129.123 đồng.
  • Bà Thái Lệ V được hưởng: 1/10 giá trị tài sản (phần di sản được hưởng từ bà C1) + 19/120 giá trị tài sản (phần di sản được hưởng từ ông T5) = 31/120 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/120 = 2.915.521.861 đồng.
  • Ông Thái Hồng M được hưởng: 1/10 giá trị tài sản (phần di sản được hưởng từ bà C1) + 19/120 giá trị tài sản (phần di sản được hưởng từ ông T5) = 31/120 giá trị tài sản. Bà Nguyễn Thị Thùy T2 và trẻ Thái Nguyễn Minh A được hưởng mỗi người ½ giá trị tài sản mà ông M được hưởng. Như vậy, bà T2 được 31/240 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/240 = 1.457.760.931 đồng. Trẻ Minh A1 được 31/240 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/240 = 1.457.760.931 đồng.
  • Ông Thái Hồng S được hưởng: 1/10 giá trị tài sản (phần di sản được hưởng từ bà C1) + 19/120 giá trị tài sản (phần di sản được hưởng từ ông T5) = 31/120 giá trị tài sản. Bà Nguyễn Thị L, trẻ Thái Nguyễn Phương L1, trẻ Thái Nguyễn Hải P1 được hưởng mỗi người 1/3 giá trị tài sản mà ông M được hưởng. Như vậy: bà L được 31/360 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/360 = 971.840.620 đồng; trẻ Thái Nguyễn Phương L1 được 31/360 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/360 = 971.840.620 đồng, trẻ Thái Nguyễn Hải P1 được 31/360 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/360 = 971.840.620 đồng.

[2.5] Xét yêu cầu của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh D

Ngày 03/10/2016, bà Nguyễn Thị Thanh D có cho ông Thái Hồng M vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) với mức lãi suất 3.000.000 đồng/tháng, thanh toán lãi vào ngày 03 tây hàng tháng và ông M hẹn đến ngày 03/10/2018 sẽ thanh toán số tiền gốc. Khi vay, bà D và ông M có làm giấy vay tiền và bà D giao tiền mặt cho ông M. Trong quá trình vay, ông M không có trả lãi cho bà D đến thời hạn thanh toán là ngày 03/10/2018, ông M vẫn không thanh toán tiền gốc cho bà D. Bà D đã nhiều lần gặp ông M để yêu cầu ông M

thanh toán tiền gốc và trả lãi những tháng ông M chưa trả, ông M liên tục hứa hẹn sẽ thanh toán nhưng không thanh toán. Bà D cho rằng việc ông M không trả tiền cho bà là đã vi phạm hợp đồng. Hiện nay, ông M đã chết. Ngày 01/4/2024, để đảm bảo quyền lợi của bản thân, bà Nguyễn Thị Thanh D có làm đơn yêu cầu độc lập gửi đến Tòa án nhân dân quận Gò Vấp để yêu cầu bà Nguyễn Thị Thùy T2 và trẻ Thái Nguyễn Minh A là những người thừa kế của ông Thái Hồng M, thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông M cho bà D số tiền 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng) tương ứng với giá trị di sản thừa kế mà mỗi thừa kế được hưởng.

Người làm chứng bà Nguyễn Ngọc Đ trình bày:

Ngày 03/10/2016, bà Đ là bạn của ông Thái Hồng M và bà Nguyễn Thị Thanh D nên có mặt tại địa chỉ 2 đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm đó, ông M có vay tiền bà D số tiền 1.000.000.000 đồng. Hai người nhờ bà Đ viết hộ giấy vay tiền và ký với tư cách người làm chứng vào giấy vay tiền này. Bà Đ trình bày đối với giấy vay tiền ngày 03/10/2016 giữa bà Nguyễn Thị Thanh D và ông Thái Hồng M là có thật và bà Đ chính là người chứng kiến và viết giấy vay nợ ngày 03/10/2016. Bà Đ chứng kiến bà D đưa tiền mặt cho ông M và ông M lăn tay trên giấy vay nợ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà T2 không biết về việc vay nợ của chồng là ông Thái Hồng M, việc ông M vay nợ bà T2 không biết và không liên quan và bà T2 cho rằng việc vay nợ đó là không có căn cứ do ông M không làm gì để nợ bà D số tiền như vậy. Bà T2 có yêu cầu giám định chữ ký và dấu vân tay trên giấy vay nợ có phải của ông M hay không. Tuy nhiên, bà T2 sau đó rút lại yêu cầu giám định vì cho rằng bà không có nghĩa vụ phải chứng minh việc vay nợ.

Căn cứ Giấy cho vay tiền ngày 03/10/2016 để xác định đã tồn tại quan hệ vay tiền và phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa ông Thái Hồng M và bà Nguyễn Thị Thanh D đối với số tiền vay 1.000.000.000 đồng, là khoản nợ riêng của ông Thái Hồng M là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 469 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định bà T2 không có nghĩa vụ cùng ông M trả nợ cho bà D nhưng bà T2 phải có trách nhiệm cùng các đồng thừa kế khác của ông M thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông M cho bà D tương ứng với giá trị di sản thừa kế mà mỗi thừa kế được hưởng.

Căn cứ khoản 1 Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Bà Nguyễn Thị Thùy T2 và trẻ Thái Nguyễn Minh A được hưởng mỗi người ½ giá trị tài sản mà ông M được hưởng. Như vậy, bà T2 được 31/240 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/240 = 1.457.760.931 đồng. Trẻ Minh A1 được 31/240 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/240 = 1.457.760.931 đồng.

Như vậy, buộc bà Nguyễn Thị Thùy T2 và trẻ Thái Nguyễn Minh A có trách nhiệm trả cho bà D số tiền 1.000.000.000 đồng là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà Nguyễn Thị Thùy T2 và trẻ Thái Nguyễn Minh A mỗi người có trách nhiệm trả cho bà D số tiền 500.000.000 đồng.

[3] Xét ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Nguyễn Đan P:

Bản vẽ hiện trạng căn nhà 2 T, Phường A, quận G là bản vẽ để giải quyết tranh chấp trong vụ án, không phải bản vẽ để cấp giấy chứng nhận, bà P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở, bản vẽ này không ảnh hưởng đến quyền sở hữu mà bà P đã được cấp, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà P. Khi nào có tranh chấp về xây dựng, bà P có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện bằng một vụ án khác.

[4] Xét quan điểm về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

[5] Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Nguyên đơn bà Thái Lệ V tự nguyện chịu các chi phí này và không yêu cầu những người thừa kế còn lại trả lại cho bà V. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện, không trái pháp luật nên ghi nhận, buộc bà Thái Lệ V chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Bà V đã đóng đủ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia, được hưởng trong trong khối di sản thừa kế, cụ thể như sau:

[6.1] Trẻ Thái Nguyễn Minh A, T3 Nguyễn Phương L1 và T3 Nguyễn Hải P1 là trẻ em, có đơn yêu cầu được miễn nộp án phí, nên được miễn toàn bộ án phí phải nộp theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội và Điều 1 Luật Trẻ em.

[6.2] Bà Nguyễn Thị Kim T1 được hưởng 1/30 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng/30 = 376.196.369 đồng. Bà Nguyễn Thị Kim T1 phải đóng án phí dân sự sơ thẩm là: 18.809.819 đồng.

[6.3] Bà Thái Nguyễn Kim C2 được hưởng 1/30 giá trị tài sản + 19/120 giá trị tài sản = 23/120 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 23/120 = 2.163.129.123 đồng. Bà Thái Nguyễn Kim C2 phải đóng án phí dân sự sơ thẩm là: 75.262.583 đồng.

[6.4] Bà Thái Lệ V được hưởng: 1/10 giá trị tài sản (phần di sản được hưởng từ bà C1) + 19/120 giá trị tài sản (phần di sản được hưởng từ ông T5) = 31/120 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/120 = 2.915.521.861 đồng. Bà Thái Lệ V phải đóng án phí dân sự sơ thẩm là: 90.310.437 đồng.

[6.5] Bà Nguyễn Thị Thùy T2 được nhận 31/240 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/240 = 1.457.760.931 đồng trừ đi giá trị tài sản bà Nguyễn Thị Thùy T2 có trách nhiệm trả cho bà D là 500.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Thùy T2 phải đóng án phí dân sự sơ thẩm là: 40.732.828 đồng.

Bà Nguyễn Thị Thùy T2 phải chịu án phí đối với phần tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba là bà D với số tiền 500.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Thùy T2 phải đóng án phí dân sự sơ thẩm là: 24.000.000 đồng.

Như vậy, bà Nguyễn Thị Thùy T2 phải đóng tổng cộng án phí dân sự sơ thẩm là: 64.732.828 đồng.

[6.6] Bà Nguyễn Thị L được nhận 31/360 giá trị tài sản = 11.285.891.076 đồng x 31/360 = 971.840.620 đồng; bà Nguyễn Thị L phải đóng án phí dân sự sơ thẩm là: 41.155.219 đồng.

Bà Nguyễn Thị L được nhận phần giá trị xây dựng là 50.000.000 đồng và phần công sức quản lý, giữ gìn di sản là: 50.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị L phải đóng án phí dân sự sơ thẩm là: 5.000.000 đồng.

Như vậy, bà Nguyễn Thị L phải đóng tổng cộng án phí dân sự sơ thẩm là: 46.155.219 đồng nhưng được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 10.480.000 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0012686 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm còn lại là: 35.675.219 đồng.

[6.7] Do yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thanh D được chấp nhận nên bà D không phải chịu án phí. Bà D được trả lại tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 21.000.000 đồng theo biên lai thu số 0013079 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.

[7] Quyền kháng cáo:

Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2, 3 Điều 92, Điều 228, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 638, Điều 678, Điều 679 của Bộ luật Dân sự 1995;

Căn cứ các Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 16 Điều 3, Điều 100, Điều 101, Điều 167, Điều 168, Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013;

Điều 17 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986;

Căn cứ Điều 1 của Luật Trẻ em;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xác định nhà đất số 236/15 T (số cũ 21A khu A N), Phường A, quận G là di sản thừa kế chưa chia của ông Thái Văn T5 và bà Phan Yến C1.

Trích công sức quản lý, trông coi di sản thừa kế cho bà Nguyễn Thị L số tiền 50.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng) và chi phí xây dựng, sửa chữa là 50.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng).

Trích chi phí xây dựng, sửa chữa cho bà Thái Lệ V là 13.395.088 đồng (Bằng chữ: Mười ba triệu ba trăm chín mươi lăm nghìn không trăm tám mươi tám đồng).

Giá trị di sản còn lại sau khi trừ công sức quản lý, trông coi di sản thừa kế và chi phí xây dựng, sửa chữa cho bà Nguyễn Thị L và bà Thái Lệ V thì được chia như sau:

  • Bà Nguyễn Thị Kim T1 được hưởng 1/30 giá trị tài sản.
  • Bà Thái Nguyễn Kim C2 được hưởng 23/120 giá trị tài sản.
  • Bà Thái Lệ V được hưởng 31/120 giá trị tài sản.
  • Bà Nguyễn Thị Thùy T2 31/240 giá trị tài sản
  • Trẻ Thái Nguyễn Minh A được 31/240 giá trị tài sản.
  • Bà Nguyễn Thị L được hưởng 31/360 giá trị tài sản.
  • Trẻ Thái Nguyễn Phương L1 được hưởng 31/360 giá trị tài sản.
  • Trẻ Thái Nguyễn Hải P1 được hưởng 31/360 giá trị tài sản.
  1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thanh D:

Buộc bà Nguyễn Thị Thùy T2 có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thanh D số tiền 500.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng).

Buộc trẻ Thái Nguyễn Minh A có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Thanh D số tiền 500.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng).

  1. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Bà Thái Lệ V tự nguyện chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Bà V đã đóng đủ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

  1. Về án phí:
  1. Trẻ Thái Nguyễn Minh A, T3 Nguyễn Phương L1 và T3 Nguyễn Hải P1 là trẻ em, có đơn yêu cầu được miễn nộp án phí, nên được miễn toàn bộ án phí phải nộp theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội và Điều 1 Luật Trẻ em.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 18.809.819 đồng (Bằng chữ: Mười tám triệu tám trăm lẻ chín nghìn tám trăm mười chín đồng).
  3. Bà Thái Nguyễn Kim C2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 75.262.583 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm tám mươi ba đồng).
  4. Bà Thái Lệ V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 90.980.192 đồng (Bằng chữ: Chín mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn một trăm chín mươi hai đồng) nhưng được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 36.000.000 đồng và 1.175.000 đồng theo biên lai thu số AA/2022/0011795 ngày 20/10/2022 và AA/2023/0012650 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà Thái Lệ V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm còn lại là: 53.805.192 đồng (Bằng chữ: Năm mươi ba triệu tám trăm lẻ năm nghìn một trăm chín mươi hai đồng).
  5. Bà Nguyễn Thị Thùy T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 64.732.828 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn tám trăm hai mươi tám đồng).
  6. Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 46.155.219 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi sáu triệu một trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm mười tám đồng) nhưng được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 10.480.000 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0012686 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm còn lại là: 35.675.219 đồng (Bằng chữ: Ba mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm mười chín đồng).
  7. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh D tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 21.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi mốt triệu đồng) theo biên lai thu số 0013079 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.
  1. Nghĩa vụ thi hành án:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

  1. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp;
  • - Chi cục Thi hành án Q. Gò Vấp;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Châu Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1012/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

  • Số bản án: 1012/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Thái L ệ V và Bà Nguyễn Thị L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger