|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1011/2024/DS-PT
Ngày 29 tháng 11 năm 2024
V/v “Tranh chấp quyền sử
dụng, đất hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, công nhận
quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành
Các Thẩm phán: Ông Hà Huy Cầu
Ông Nguyễn Văn Tửu
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 578/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3052/2024/QĐPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Hồng H, sinh năm: 1957.
Bà Phan Thị T, sinh năm: 1957.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Ông Phạm Hồng H, sinh năm: 1957 (Theo Văn bản uỷ quyền ngày 22/02/2016).
Cùng địa chỉ: Số A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, có mặt.
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm: 1951.
Địa chỉ: Số B, ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1:
- Ông Nguyễn Minh H1; Trú tại A,Khu phố C, H, B, Đồng Nai, có mặt.
- Ông Lâm Văn T2; Trú tại Thanh Hóa, H, T, Đồng Nai, có mặt.
- Bà Thân Thị Mỹ P; Trú tại Tổ B T, B, T, Đồng Nai, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm: 1961;có mặt.
- Ông Hà Quý P1, sinh năm: 1950; có mặt.
- Bà Đoàn Thị H2, sinh năm: 1956;
- Ông Lê Văn T3, sinh năm: 1961; có mặt.
- Bà Hà Thị L, sinh năm: 1961;
- Ông Nguyễn Ngọc D, sinh năm: 1965; có mặt.
- Bà Đỗ Thị Mỹ L1, sinh năm: 1954; Vắng mặt.
- Ông Mai Văn L2, sinh năm 1972 và bà Mai Thị Ngọc H3, sinh năm 1976.
- Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Thôn Tam Bình, xã Cư KLông, huyện Krông Năng, tỉnh Đắc Lắk
Cùng địa chỉ: Số A (số C) đường T, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H2: Ông Hà Quý P1, sinh năm 1950 (theo Văn bản ủy quyền 15/101/2016).
Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Lê Văn T3, sinh năm 1961 (theo Văn bản ủy quyền 12/01/2020).
Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số 1 đường H, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: 6, tổ I, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Giang C – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V (theo Văn bản ủy quyền số 5769/UBND-NC ngày 23/9/2020), vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn T1, ông Nguyễn Hữu M, ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L, ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2, ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Phan Thị T và ông Phạm Hồng H do ông H là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Năm 2002, do có nhu cầu mua đất đồi để khai thác phún sỏi bán nhưng không có tiền nên ông Huỳnh Văn T1 rủ ông bà cùng mua, ông bà đồng ý. Ông T1, ông H cùng đi xem đất tại tổ A, ấp C, T, V, Đồng Nai theo môi giới và chỉ địa điểm của ông Nguyễn Văn D1. Ông Nguyễn Ngọc D có 03ha đất được cha mẹ cho muốn bán nhưng chưa đủ diện tích cần mua nên nhờ ông D mua hộ đất của những người có ranh giới đất liền kề, cụ thể:
- Ông Nguyễn Văn D1 khoảng 3.400m2 với giá 6.300.000 đồng;
- Ông Kiều Văn K khoảng 9.000m2 với giá 19.000.000 đồng;
- Ông Quang Minh T4 khoảng 2.500m2 với giá 5.000.000 đồng;
- Ông Nguyễn Quang M1, khoảng 5.000m2 với giá 11.000.0000 đồng;
- Ông Kiều Văn T5 khoảng 12.000m2 với giá 24.000.000 đồng;
- Ông Nguyễn Ngọc D khoảng 34.000m2 với giá 166.700.000 đồng
Tổng cộng diện tích đất là 65.900m2 với giá là 232.000.000 đồng.
Ông bà đã giao đủ tiền cho ông Nguyễn Ngọc D để trả cho sáu người bán đất. Ngoài ra, còn giao ông Nguyễn Văn D1 10 triệu đồng công môi giới, giao ông T1 3 triệu đồng thuê đo vẽ bản đồ và 13 triệu đồng làm sổ đỏ. Ông bà có thỏa thuận với ông T1 trong vòng 10 ngày kể từ ngày ứng tiền mua đất, ông T1 phải trả ½ tiền mua đất và các khoản ứng khác, sau đó chia đôi, mỗi người một nửa đất. Do điều kiện ông T1 thuận lợi hơn nên ông bà giao giấy Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu bản sao để ông T1 làm sổ đỏ toàn bộ đất cho bà T đứng tên, khi chia đôi sẽ tách sổ. Trong thời hạn 10 ngày, ông bà liên tục yêu cầu ông T1 trả tiền nhưng ông T1 né tránh đến nay chưa trả. Nhiều lần yêu cầu ông T1 giao sổ đỏ nhưng ông T1 cho rằng chưa làm xong. Tháng 10 năm 2007, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu yêu cầu thì ông T1 mới giao sổ đỏ gốc của ông bà cho Tòa. Thủ tục chuyển nhượng viết tay với ông Ngọc D không xác nhận ở xã.
Sau khi mua đất, ông bà trồng tràm diện tích 1,2ha phần phía ngoài từ đường lộ vào, đến nay chưa khai thác.
Ông T1 tự cắt đất bán cho ông M, vợ chồng ông P1, ông T3, bà L1, số đất bán cho bà L1 nằm trong sổ đỏ của ông bà. Đất ông T1 bán đều nằm cặp ven đường đất đỏ của ông bà đều nằm phía trong, giá thấp. Diện tích đất ông bà trồng tràm nằm trong sổ đỏ của ông T1. Ông bà không nhớ thời gian đưa Chứng minh nhân dân và hộ khẩu để ông T1 làm sổ đỏ, ông T1 tự ký tên bà trong thủ tục làm sổ đỏ.
Năm 2004 và năm 2005, bà và ông T1 có ký các hợp đồng kinh tế, cụ thể: Hợp đồng số 01/2004 và ngày 01/01/2004; Hợp đồng không số ngày 01/7/2004; Hợp đồng số 01/2005 ngày 01/01/2005 về việc “cho khai thác đất gò để cải tại mặt bằng”, ông T1 với tư cách là đại diện Bên B xác định: “Ông T1 tự khai thác đất bề mặt trên diện tích đất 7,6ha của bà Phan Thị T theo sự hướng dẫn của bà T".
Do ông T1 không trả ½ tiền ứng mua đất và làm sổ đỏ theo quy trình đứng tên 3,9ha đất của vợ chồng ông bà nên bà có làm đơn tố cáo ngày 01/12/2005 yêu cầu Công an huyện V giải quyết. Do Công an xác định là án dân sự nên ông bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu giải quyết ông T1 phải trả 7,6ha đất cho ông bà. Tuy bà có được sổ đỏ 3,4ha nhưng vì sổ đỏ cấp sai quy định (ông T1 tự ký giả tên bà trong Tờ khai, đất của vợ chồng bà lại cấp phần lớn hơn cho ông T1) và ông T1 giữ sổ đỏ, không giao cho bà. Ngày 05/6/2006, Tòa án đối chất, ông T1 vẫn công nhận 7,6ha đất là của bà vì lý do “chưa trả tiền hùn mua đất cho bà T” và xác định ra pháp luật ông T1 sẽ thua. Ngày 09/10/2008, vợ chồng bà có đơn đề nghị bổ sung việc khởi kiện và người bị kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy việc mua bán đất giữa ông T1 với các ông bà M, P1, T3, L1 để trả đất cho ông bà.
Hồ sơ đã được Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm đưa ra xét xử và được xem xét lại theo thủ tục Giám đốc thẩm. Tại phiên tòa, ông bà rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu hủy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 145475 với diện tích 39.867m2 ngày 11/4/2003 do ông T1 đứng tên và số V 293157 diện tích 34.494m2 cấp ngày 11/9/2002 bà T đứng tên do cấp không đúng quy trình và phần đất mua của ông Nguyễn Ngọc D còn trong sổ đỏ ông L3 đứng tên và ông yêu cầu ông T1 lại cho ông trả lại 39.867m2 tại các thửa 324, tờ bản đồ số 28 (nay là các thửa 40, 41, 52, 53, 57, 58, 59 tờ bản đồ số 41) thửa 327, tờ bản đồ số 28 (nay là các thửa 46 tờ bản đồ số 41) và thửa 329 tờ bản đồ số 28 (nay là các thửa 19, 30, 32, 44, 45 tờ bản đồ số 41) xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Huỳnh Văn T1 ngày 11/4/2003, đồng thời yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 72,517m2 đất tại các thửa 19, 30, 32, 40, 41, 43, 44, 45, 46, 52, 53, 54, 57,58, 59, tờ bản đồ 41, tọa lạc tại tổ A, ấp C, xã V, huyện V theo diện tích đo đạc ngày 22/3/2016. Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với bà L1, ông P1 bà H, ông T3, bà L, ông M, ông L2
Bị đơn ông Huỳnh Văn T1 trình bày:
Ông đồng ý các ý kiến của nguyên đơn về thời gian, địa điểm, diện tích đất, việc nguyên đơn ứng các khoản tiền mua đất, môi giới, đo vẽ bản đồ và tiền làm sổ đỏ. Tuy nhiên, không đồng ý tiền mua đất 232 triệu đồng mà chỉ là 225 triệu đồng. Bà T, ông H không yêu cầu trong 10 ngày phải trả 2 tiền ứng mua đất mà nói cho mượn khi nào có thì trả, đồng thời không yêu cầu làm sổ đỏ toàn bộ đất cho bà T đứng tên. Ông không nhớ thời gian bà T đưa Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu để ông làm sổ đỏ. Ông tự ý ký tên trong thủ tục đề nghị cấp sổ đỏ 3,4ha cho bà T. Theo ông đây là quan hệ vay mượn tài sản để mua đất, chứ không phải là tranh chấp quyền sử dụng đất. Do thời gian đầu có khó khăn nên ông chưa trả được tiền, khi ông bán đất cho 4 người có tiền trả thì bà T, ông H không nhận mà đòi đất. Ông bán đất nằm trong sổ đỏ của ông và trước khi xảy ra tranh chấp. Đất nguyên đơn trồng tràm nằm trong sổ đỏ của ông, phần cây tràm là của ông một nửa.
Năm 2004 và đầu năm 2005, ông có ký 03 hợp đồng kinh tế khai thác đất phún sỏi với bà T. Năm 2006, Tòa án Vĩnh Cửu giải quyết vụ án có tổ chức đối chất. Trong 03 hợp đồng kinh tế và đối chất ông đều công nhận 7,6ha đất là của bà T vì ông chưa trả tiền hùn mua đất cho bà T. Tuy nhiên, đến nay ông vẫn xác định đất đã mua là của chung giữa ông và ông H, bà T vì có hợp đồng (miệng) mua đất chung.
Đây là quan hệ vay tiền (ông H, bà T cho ông mượn tiền) để ông hùn vốn mua chung đất chứ không phải là quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất. Ông đã gửi đơn phản tố đến Tòa án huyện V không đồng ý trả đất mà trả tiền gốc mua đất và lãi suất theo quy định của Ngân hàng từ năm 2002 đến nay và các khoản mà bà T đã ứng khác: tiền môi giới, đo vẽ bản đồ, làm sổ đỏ, thẩm định giá. Chia đôi đất ông được quyền sử dụng một nửa. Do bà T, ông H ứng tiền mua nên được nhận nửa bên ngoài trừ đất ông đã bán cho các ông bà M, P1, T3. Đất ông bán cho bà L1 trong sổ đỏ do bà T đứng tên.
Ông đề nghị tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc D trình bày:
Năm 2002, ông có diện tích đất khoảng hơn 30.000m2 đất nông nghiệp. Do ông Phạm Hồng H và bà Phan Thị T có nhu cầu mua đất với diện tích khoảng hơn 70.000m2 nên ông đã mua lại đất của những người dân xung quanh đất của ông để chuyển nhượng lại cho ông H, bà T. Ông chuyển nhượng đất cho ông H, bà T với giá 232.000.000đ có làm giấy tờ tay. Quá trình chuyển nhượng đất cho ông H, bà T thì ông chỉ thỏa thuận, mua bán và nhận tiền từ ông H, bà T, không thỏa thuận mua bán gì với ông T1.
Đối với diện tích đất hơn 30.000m2 đất mà ông đã chuyển nhượng cho ông H, bà T, ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn mang tên ông và ông đang giữ. Tổng diện tích hơn 70.000m2 hiện nay ông vẫn đang trông coi cho ông H, bà T. Ông T1 không quản lý, sử dụng.
Nay, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hồng H và bà Phan Thị T ông đề nghị Tòa án giải quyết: Công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa tôi và vợ chồng ông H, bà T; đất ai bỏ tiền ra mua thì công nhận cho người đó. Ngoài ra, tôi không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2 trình bày:
Tháng 11/2004, vợ chồng ông có mua diện tích đất 3.279m2 của ông T1 thửa 43, tờ 41 giá 75.000.000 đồng đã trả xong tiền. Viết giấy tay chưa qua xác nhận của chính quyền địa phương, có T6 ấp ký. Đề nghị Tòa công nhận việc mua bán đất của ông T1 và quyết định giải biên để ông sử dụng đất. Nếu Tòa án không chấp nhận thì ông mất đất và khởi kiện ông T1. Nếu Tòa án tạm ngừng phiên tòa để đi xem xét thẩm định tại chỗ tôi không tham gia. Ông xin vắng mặt trong các buổi làm việc, hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử của Tòa án
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu M trình bày:
Ngày 20/11/2005, ông có nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn T1 diện tích đất 1.063m2 tại thửa 52, tờ bản đồ số 41 có lập giấy tờ mua bán sang nhượng và tờ trình của Ủy ban xã V, đăng ký biến động đất đai. Khi ông mua không có tranh chấp quyền sử dụng đất, ông T1 đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bản thân ông H2 và bà T không có yêu cầu khởi kiện đối với ông, ông là mua bán hợp pháp, nếu ông T1 và ông H2, bà T tranh chấp bên nào thắng kiện thì ông đề nghị Tòa công nhận cho ông diện tích đất nói trên. Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L trình bày:
Vào ngày 20/11/2005, vợ chồng ông có mua diện tích đất 1.074m2 của ông T1 tại thửa đất số 53 tờ bản đồ 41, khi ông và bà L mua ông, bà biết ông T1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi ông, bà đang tiến hành làm thủ tục cấp giấy thì xảy ra tranh giữa ông T1 với ông H2, bà T. Nay ông bà đề nghị Tòa xem xét việc ông bà mua diện tích đất nói trên là hợp pháp. Nếu Tòa công nhận diện tích đất nói trên cho ông H2, bà T thì giữa vợ chồng ông với ông T1 sẽ thỏa thuận sau. Ông bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Mỹ L1 trình bày:
Tháng 9/2004 bà nhận chuyển nhượng diện tích 2.563m2 của ông Huỳnh Văn T1 tại thửa đất số 32 tờ bản đồ số 41, với giá 60.000.000đ, bà mới trả 57.000.000đ còn 3.000.000đ khi nào ông T1 bàn giao giấy tờ thì bà sẽ thanh toán hết. Việc chuyển nhượng các bên chỉ làm giấy viết tay, bà không biết diện tích bà nhận chuyển nhượng của ông T7 năm trong sổ đỏ của ông T1 hay của bà T. Nay bà đề nghị Tòa công nhận phần diện tích đất trên cho bà
N có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mai Văn L2 bà Mai Thị Ngọc H3 trình bày:
Năm 2006, vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn T1 2.000m2 đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 57, tờ bản đồ số 41 xã V, huyện V, Đồng Nai. Việc chuyển nhượng được lập thành hợp đồng do ông là người đại diện ký với ông T1, sau đó ông đã xin đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp biên nhận số 3552/VPĐK- QSDĐ ngày 29/6/2006, sau đó ông thấy việc đăng ký xin cấp giấy của ông lâu chưa được cấp giấy, ông liên hệ Ủy ban nhân dân xã V thì mới biết thửa đất ông nhận chuyển nhượng có tranh chấp giữa bà T với ông T1, việc ông nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn T1 là hợp pháp, đã đăng ký quyền sử dụng với cơ quan Nhà nước theo quy định và sử dụng liên tục từ đó đến nay đúng mục đích. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh xét xử theo quy định, công nhận quyền sử dụng đất của ông để vợ chồng ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông không yêu cầu ông T1 trả lại tiền và không tranh chấp với ông T1, bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 62 /2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai,
Căn cứ vào Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 203, Điều 220, điểm g khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 122, Điều 124; 127, Điều 128, Điều 137, và Điều 688; 697, 698 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 133, 688 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 106; 136 Luật Đất đai năm 2003;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T đối với ông Huỳnh Văn T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Công nhận toàn bộ quyền sử dụng đất có diện tích 72,517m2 tại các 19, 30, 32, 40, 41, 43, 44, 45, 46, 52, 53, 54, 57,58, 59, tờ bản đồ 41, tọa lạc tại tổ A, ấp C, xã V, huyện V theo diện tích đo đạc ngày 22/3/2016, tọa lạc tại tổ A, ấp C, xã V, huyện V theo Trích lục và đo hiện trạng khu đất, bản đồ địa chính số 497-1 đến 497-5/2016 của Văn phòng Đ – Chi nhánh V ngày 22/3/2016 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phạm Hồng H và bà Phan Thị T.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Phạm Hồng H và bà Phan Thị T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 145475 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 11/4/2003 cho ông Huỳnh Văn T1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 293157 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 11/9/2002 cho bà Phan Thị T
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với bà Đỗ Thị Mỹ L1 vào tháng 9/2004, với diện tích đất 2.560m2 tại thửa đất số 32 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Buộc ông Huỳnh Văn T1 và bà Đỗ Thị Mỹ L1 phải giao trả cho ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T diện tích đất 2,560m2 tại thửa đất số 32 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với ông Nguyễn Hữu M vào ngày 21/11/2005, với diện tích đất 1.063m2 tại thửa đất số 52 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Buộc ông Nguyễn Hữu M, ông Huỳnh Văn T1 phải giao trả cho ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T diện tích đất 1.063m2 tại thửa đất số 52 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L vào ngày 20/11/2005, với diện tích đất 1.074m2 tại thửa đất số 53 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Buộc ông Huỳnh Văn T1 và ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L phải giao trả cho ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T diện tích đất đất 1.074m2 tại thửa đất số 53 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2 vào ngày 22/11/2005, với diện tích đất 3.729m2 tại thửa đất số 43 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Buộc ông Huỳnh Văn T1 và ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2 phải giao trả cho ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T diện tích đất 3.729m2 tại thửa đất số 43 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 vào ngày 07/6/2006 với diện tích đất 2.000m2 tại thửa đất số 57 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Buộc ông Huỳnh Văn T1, ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 phải giao trả cho ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T diện tích đất 2.000m2 tại thửa đất số 57 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng đất, đồng thời phải chấp hành kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động đất đai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Đỗ Thị Mỹ L1 về việc “Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Huỳnh Văn T1.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 vào ngày 07/6/2006 với diện tích đất 2.000m2 tại thửa đất số 47 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Dành quyền khởi kiện cho bà Đỗ Thị Mỹ L1, ông Nguyễn Hữu M, ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L, ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2, ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 đối với ông Huỳnh Văn T1 bằng một vụ kiện dân sự khác nếu các bên có yêu cầu.
Buộc ông Huỳnh Văn T1 phải trả lại cho ông Phạm Hồng H và bà Phan Thị T các diện tích sau:
Một phần diện tích đất 8.379m2 tại thửa 40 tờ bản đồ số 41 xã V, huyện V, Đồng Nai, diện tích 3.820m2 tại thửa 19 diện tích đất 6.577m2 tại thửa 45, tờ bản đồ 41(thửa cũ là thửa 329 tờ bản đồ 28). Diện tích đất 6.526m2 tại thửa 41, diện tích đất 2.000m2 tại thửa 58, diện tích đất 1.473m2 tại thửa số 59, tờ bản đồ 41 (thửa cũ là thửa 324 tờ bản đồ số 28) xã V, huyện V, Đồng Nai. Diện tích đất 5.487m2 tại thửa 46 tờ bản đồ 41 (thửa cũ 327 tờ bản đồ số 28) xã V, huyện V, Đồng Nai).
(Trích lục và đo hiện trạng khu đất, Bản đồ địa chính số 497-1 đến 497-5/2016 của Văn phòng Đ – Chi nhánh V ngày 22/3/2016)
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Trong hạn luật định ông Huỳnh Văn T1 ông Nguyễn Hữu M, ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L, ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2, ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 kháng cáo bản án.
Ngày 12 tháng 10 năm 2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có quyết định kháng nghị số 326/ QĐ – VKS - DS với nội dung đề nghị toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông H2 bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện, các đương sự không hoà giải với nhau về việc giải quyết vụ án, người kháng cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo. Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên kháng nghị.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của ông T1 không chấp nhận đơn kháng cáo của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Năm 2002, ông Phạm Hồng H và bà Phan Thị T có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Ngọc D 03ha đất được cha mẹ cho muốn bán nhưng chưa đủ diện tích cần mua nên ông H nhờ ông D mua hộ đất của những người có ranh giới đất liền kề, cụ thể:
- Ông Nguyễn Văn D1 khoảng 3.400m2 với giá 6.300.000 đồng;
- Ông Kiều Văn K khoảng 9.000m2 với giá 19.000.000 đồng;
- Ông Quang Minh T4 khoảng 2.500m2 với giá 5.000.000 đồng;
- Ông Nguyễn Quang M1, khoảng 5.000m2 với giá 11.000.0000 đồng;
- Ông Kiều Văn T5 khoảng 12.000m2 với giá 24.000.000 đồng;
- Ông Nguyễn Ngọc D khoảng 34.000m2 với giá 166.700.000 đồng
Tổng cộng diện tích đất là 65.900m2 với giá là 232.000.000 đồng.
Ngày 11/9/2002 Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho bà Phan Thị T 34.494m2 đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng quyền sử dụng đất số V293157 ngày 11/9/2002 Tổ 18, ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 11/4/2003 Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Huỳnh Văn T1 39.867m2 đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W145475 ngày 11/4/2003 do tọa lạc Tổ 18, ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
[2] Xét đơn kháng cáo của ông Huỳnh Văn T1, và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; Hội đồng xét xử xét thấy;
2.1. Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ vụ án do các bên đương sự cung cấp và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập thể hiện: tháng 2 năm 2002, ông Huỳnh Văn T1 và ông H, bà T có thỏa thuận miệng mua hơn 7,6ha đất đồi để khai thác phún sỏi bán. Do ông T1 không có tiền nên ông H và bà T đã bỏ tiền ra mua đất trả công tiền môi giới, đồng thời hai bên thỏa thuận trong vòng 10 ngày kể từ ngày ông H và bà Thân ứng đủ tiền mua đất, thì ông T1 phải trả ½ tiền mua đất và các khoản ứng khác, sau đó chia đôi mỗi người ½ diện tích đất đã mua. Sau khi thỏa thuận bà Phan Thị T đã giao 250.000.000đ triệu đồng cho ông Nguyễn Ngọc D đại diện cho 06 hộ dân có đất bán cho ông H, bà T và ký giấy sang nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/2/2002 với bà Phan Thị T (ông T1 thừa nhận điều này tại biên bản lời khai, Biên bản hoà giải, đối chất tại các phiên tòa sơ thẩm).
Sau khi đã giao đủ tiền chuyển nhượng đất cho ông D, ông H bà T tiếp tục đưa cho ông T1 10.000.000 đồng để làm thủ tục cấp GCNQSD đất đứng tên ông H bà T.
Như vậy sự kiện vợ chồng ông H bà T là người trực tiếp bỏ tiền ra mua đất và tiền làm thủ tục cấp GCNQSD đất đã được các bên thừa nhận và là sự kiện không phải chứng minh.
Xét kháng cáo của ông T1 và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai cho rằng; giữa các bên có thoả thuận mua đất chung do vậy diện tích đất nêu trên được chia mỗi người một nửa và ông T1 có trách nhiệm thanh toán giá trị đất cho ông H bà T, Hội đồng xét xử xét thấy xét thấy;
Đã xác định được ông H bà T là người bỏ tiền ra mua toàn bộ diện tích đất. Như vậy xác định được ông H bà T là người được quyền sử dụng và định đoạt đối với tài sản là toàn bộ diện tích đất mua được. Ông H bà T cũng thừa nhận ban đầu giữa 02 bên có thoả thuận về việc mỗi người bỏ ra ½ tiền và do ông T1 chưa có tiền ngay nên thống nhất trong hạn khoảng 10 ngày kể từ ngày ông H bà T bỏ tiền ra mua đất thì ông T1 phải có nghĩa vụ thanh toán lại tiền cho H thì ông T1 mới được quyền sử dụng ½ diện tích đất nêu trên. Trong quá trình giải quyết vụ án và đơn kháng cáo của ông T1 và kháng nghị cho rằng giữa ông H bà T và ông có thoả thuận với nhau nội dung; Ông H bà T cho ông mượn tiền để mua đất và thời hạn mượn tiền là không xác định do vậy ông T1 cho rằng diện tích ½ đất đã mua là của ông và ông có nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông H. Xét thấy ý kiến của ông T1 và Kháng nghị là không có căn cứ được chấp nhận bởi những chứng cứ như sau:
Thứ nhất: Ông H bà T là người bỏ tiền ra mua đất, do vậy ông H bà T là người có quyền định đoạt tài sản của mình đã mua, giữa ông T1 với vợ chồng ông H chỉ thoả thuận miệng với nhau về việc ông H cho ông T1 mượn tiền trả tiền mua đất trong hạn 10 ngày phải trả cho ông H, ông T1 cho rằng mượn tiền không thời hạn là không có căn cứ bởi lẽ phía bên ông H chỉ thừa nhận trong khoảng 10 ngày ông T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền mới được chia đất, ý kiến của ông H phù hợp với ý kiến của người làm chứng là ông Nguyễn Văn D1 là người nhận tiền của ông H bà T tại BL số 155 ngày 02/6/2006 ông D1 khai “ Khi đặt cọc có nghe ông T1 và vợ chồng bà T ông H thoả thuận 1 tháng sau sẽ trả lại ½ tiền – bà T nói đưa tiền mới làm bìa đỏ, ông T1 nói qua tuần em đưa cho”, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay ông D1 vẫn giữ nguyên lời trình bày của mình trước đây. Ngoài ra giữa hai bên cũng không có cam kết hay giấy vay mượn tiền rõ ràng cụ thể.
Thứ hai: Kháng nghị của Viện kiểm sát viện dẫn vào các hợp đồng ký kết giữa bà T với ông T1 để nhận định rằng “ ông T1 là người ký hợp đồng khai thác đất đá san ủi mặt bằng và làm đường đi vào khu vực trên.” để nhận định và chứng minh việc hai người cùng có quyền lợi như nhau đối với diện tích đất đã mua thấy rằng; việc nhận định nêu trên là không có căn cứ bởi lẽ:
Tại hợp đồng kinh tế sau hơn 02 năm ông H bà T mua đất (ngày 01/01/2004, ngày 01/7/2004 và ngày 01/01/2005) thể hiện nội dung ( Bút lục 34, 35, C), ông T1 mua lại lớp đất phún sỏi (đất gò) trên diện tích 7,6ha đất của bà T, ông H, mỗi tháng ông T1 trả cho bà T 12.000.000đ tiền khai thác phún sỏi hợp đồng được ông T1 và bà T ký kết. Như vậy bản thân ông T1 đã xác định toàn bộ diện tích đất nói trên là của bà T do vậy ký kết hợp đồng với bà T và trả tiền khai thác cho bà T trên toàn bộ diện tích 7,6 ha. Việc ông T1 san ủi mặt bằng lấy đường đi là để phục vụ việc khai thác phún sỏi mua trên đất của bà T. Như vậy có căn cứ để xác định ông T1 đã không thực hiện cam kết mua chung đất với ông H bà T và từ bỏ việc mua chung đất với ông H bà T. Các Hợp đồng mua phún sỏi trên đất của bà T đều được ký kết sau khi ông T1 đã làm các GCNQSD đất trong đó có GCNQSD đất do chính ông T1 đứng tên. Tại biên bản đối chất (Bút lục 122), ông T1 cũng thừa nhận 7,6ha đất là của bà T.
Thứ ba: Trong quá trình giải quyết vụ án ông T1 đưa ra chứng cứ để chứng minh rằng giữa các bên có thoả thuận bằng văn bản về việc mua đất chung. Tuy nhiên chứng cứ này không đúng sự thật cụ thể là: Ông T1 đưa ra Tờ thỏa thuận và cam kết mua đất chung với nhau ngày 10/02/2002; Lập hợp đồng làm ăn không thành ngày 15/9/2023. Tuy nhiên, bà T không thừa nhận giữa bà và ông T1 có lập các thỏa thuận trên và bà cũng không thừa nhận chữ ký trong các văn bản trên là chữ ký của bà điều đó được khẳng định tại Kết luận giám định số 3110/C09B ngày 27/07/2021 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C1 kết luận chữ ký đứng tên Phan Thị T và chữ viết họ tên Phan Thị T trên các tài liệu cùng giám định so với chữ ký, chữ viết Phan Thị T trên các mẫu so sánh không phải do cùng một người ký (không phải chữ ký của bà T).
Từ nhận định nêu trên xét thấy; Toàn bộ diện tích đất là của ông H bà T bỏ tiền ra mua do vậy ông, bà có quyền định đoạt tài sản mà mình mua được, và cũng có quyền chấp nhận hay không chấp nhận việc cho ông T1 cùng góp tiền mua chung tài sản trên; Ông T1 cho rằng thỏa thuận mua chung nhưng chỉ là thoả thuận miệng không thoả thuận rõ rằng, đồng thời không thực hiện nghĩa vụ thanh toán liên đới theo yêu cầu của bên có quyền là ông H bà T, sau đó đã từ bỏ việc mua chung bằng việc ký hợp đồng khai thác phún sỏi trên toàn bộ đất của bà T, do vậy ông T1 và Kháng nghị của Viện kiểm sát cho rằng đó là tài sản chung do vậy ông T1 được chia ½ và có nghĩa vụ trả tiền cho ông H bà T là không có căn cứ. Bản án sơ thẩm xem xét đánh giá chứng cứ áp dụng các quy định của BLDS để chấp nhận yêu cầu khời kiện của ông H bà T là có căn cứ đúng pháp luật đảm bảo quyền lợi cho người bỏ tiền ra mua đất từ năm 2002. Về phía ông T1 cũng không thiệt hại gì vì ông T1 cho đến thời điểm này không bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng QSD đất. Ngược lại ông T1 đã nhận tiền để bán một số diện tích đất của ông H bà T cho một số người nhưng cũng không thực hiện nghĩa vụ như ông T1 cam kết. Do vậy đơn kháng cáo và kháng nghị của VKS về nội dung nêu trên là không có căn cứ được chấp nhận.
2.2. Về việc ông T1 làm GCNQSD đất .
Kháng nghị của Viện kiểm sát nhận định; ông T1 đi làm GCNQSD đất do vậy ông T1 cũng được chia ½ diện tích đất mà bà T ông H đã bỏ tiền ra mua là không chính xác bởi lẽ; Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng, ông T1 tự ý ký tên các giấy tờ mang tên bà T và tên của ông để đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Huỳnh Văn T1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 145475 với diện tích 39.867m2 ngày 11/4/2003 và cấp cho bà Phan Thị T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 293157 diện tích 34.494m2 cấp ngày 11/9/2002, ông T1 không giao lại giấy CNQSD đất cho bà T, ông H do đó bà T, ông H hoàn toàn không biết được diện tích đất mua chung đã được cấp thành hai giấy chứng nhận.Bà T ông H đưa chứng minh nhân dân cho ông T1 mục đích là để làm toàn bộ diện tích đất đã bỏ tiền ra mua đứng tên ông H bà T.
Ông T1 không thừa nhận chữ ký trong Đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phan Thị T là của ông tự ý ký và viết. Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 3202/GĐ ngày 19/6/2006 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận “Chữ ký tại hồ sơ xin cấp giấy CNQSD đất của bà T đều do ông Huỳnh Văn T1 ký ra”.
Như vậy, việc ông T1 tự ý kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi chưa có sự đồng ý của vợ chồng bà T ông H là người đã bỏ tiền ra mua đất, đồng thời diện tích đất ông T1 đứng ra kê khai vẫn đang đứng tên ông L3 và đang được thế chấp tại Ngân hàng là trái với quy định của Luật Đất đai và Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ngày 20/10/2009, Ủy ban nhân dân huyện V đã ban hành Quyết định số 2679/QĐ.UBND và Quyết định số 2680/QĐ.UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 145475 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 11/4/2003 cho ông Huỳnh Văn T1 và thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 293157 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 11/9/2002 cho bà Phan Thị T là đúng quy định.
[2.3] Xét kháng cáo của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, và kháng cáo của ông T1, với nội dung yêu cầu được thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSD đất; Hội đồng xét xử xét thấy;
Ngay sau khi ông T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 145475 với diện tích 39.867m2 ngày 11/4/2003, vào tháng 9/2004, ông T1 chuyển nhượng cho bà Đỗ Thị Mỹ L1 2.563m2 tại thửa đất số 32 tờ bản đồ 41 (phần đất này nằm trong Giấy chứng nhận của bà T). Ngày 21/11/2005, ông T1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hữu M 1.063m2 tại thửa đất 52 tờ bản đồ số 41. Ngày 20/11/2005, ông chuyển nhượng cho vợ chồng ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L diện tích 1.074m2 tại thửa đất 53 tờ bản đồ số 41. Ngày 22/11/2005, ông T1 chuyển nhượng cho ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2 diện tích 3.279m2 tại thửa đất số 43, tờ bản đồ số 41 (thửa đất này cũng nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T), đến ngày 07/6/2006, ông T1 lập hợp đồng chuyển nhượng diện tích 2.000m2 tại thửa đất số 57, tờ bản đồ số 41 cho vợ chồng ông L2 bà H3.
Xét thấy, toàn bộ các hợp đồng chuyển nhượng (Giấy sang nhượng đất) nói trên (trừ hợp đồng bán cho ông M) đều không được công chứng, chứng thực nên đã vi phạm khoản 2 Điều 689 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 127, Điều 136 Luật Đất đai năm 2003; Điều 146 Nghị định 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (gọi tắt là Nghị định 181) quy định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có công chứng Nhà nước, hơn nữa diện tích đất tại thửa 43 tờ bản đồ 41 thửa cũ là 326, 328 tờ bản đồ 28, thửa đất bán cho bà L1 thời điểm ông T1 chuyển nhượng cho ông P1, bà L1 thì diện tích đất nói trên được cấp cho bà T không phải nằm trong diện tích đất mà ông T1 được cấp theo Giấy chứng nhận số W 145475 ngày 11/4/2003. Ngày 29/3/2006 Toá án huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai thụ đơn khởi kiện của ông H2 bà T tranh chấp với ông T1. Đồng thời xác định được ông T1 là người không có quyền định đoạt tài sản nêu trên, và việc làm GCNQSD đất cũng không đúng pháp luật như viện dẫn nêu trên do vậy; Bản án sơ thẩm tuyên bố các giao dịch giữa ông T1 với người nhận chuyển nhượng đất vô hiệu là có căn cứ đúng pháp luật những người nhận chuyển nhượng QSD đất không thuộc trường hợp người thứ 3 ngay tình theo quy định của BLDS. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho rằng các hợp đồng trên bị vô hiệu và đề nghị không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Từ những nhận định và viện dẫn nêu trên thấy rằng: Việc Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiên của nguyên đơn, tuyên vô hiệu các giao dịch giữa ông T1 với một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ. Việc các đương sự cho rằng họ mua đất của ông T1 sau đó quản lý sử dụng là không có căn cứ bởi lẽ: Các bên không có biên bản giao đất khi mua bán. Tại thời điểm năm 2004 và 2005 cho đến sau này quyền quản lý đất vẫn thuộc vợ chồng ông H2 bà T thể hiện tại hợp đồng kinh tế ngày 01/01/2004, ngày 01/7/2004 và ngày 01/01/2005 thể hiện nội dung ( Bút lục 34, 35, C), ông T1 mua lớp đất phún sỏi (đất gò) trên diện tích 7,6ha đất của bà T, ông H2, mỗi tháng ông T1 trả cho bà T 12.000.000đ tiền khai thác phún sỏi và được ông T1 và bà T ký kết.
Tại quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2006 /QĐKCTT ngày 20 tháng 6 năm 2006 (B1106) và Quyết định số 03/2007/QĐKCTT ngày 16/11/2007 (Bl 300 ) của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai thể hiện: “ Cấm ông Huỳnh Văn T1 và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chuyển nhượng, tặng cho cho thuê cho mượn...trồng cây trên diện tích đất tranh chấp (trừ diện tích khoảng hơn 1ha chị T anh H2 đã trồng cây năm 2003)” Như vậy nội dung quyết định trên thể hiện tại thời điểm 2007 trên đất chỉ có cây trồng của ông H2 bà T. Tại cấp phúc thẩm ông H2 bà T chứng minh được toàn bộ diện tích đất tranh chấp ông, bà đang quản lý, sử dụng, khai thác đất nông nghiệp từ năm 2002 tới nay, thể hiện tại đơn xin xác nhận được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V xác nhận ngày 21 tháng 10 năm 2024.
Sau khi xét xử phúc thẩm có một số đương sự như ông Nguyễn Đình N1 và bà Đặng Thị T8 có đơn cho rằng ông bà cũng là người mua đất của ông T1 từ ngày 10/01/2006 tuy nhiên đến nay ông bà mới biết việc tranh chấp đất và xin được công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông, bà với ông T1. Xét thấy; Trong quá trình giải quyết vụ án từ năm 2006 ông T1 nhiều lần khẳng định chỉ sang nhượng đất cho 05 người và Toà án cấp sơ thẩm đã đưa họ vào tham gia tố tụng. Tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2006 /QĐKCTT ngày 20 tháng 6 năm 2006 (BL106) và Quyết định số 03/2007/QĐKCTT ngày 16/11/2007 (BL 300 ) cũng thể hiện có 05 người liên quan ông T1 sang nhượng đất cho họ. Xét thấy việc sang nhượng đất giữa ông T1 với ông N1 bà T8 nếu có cũng vô hiệu. Sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật xác định tài sản trên thuộc quyền sử dụng của ônng H2 bà T, các bên có thể khởi kiện tranh chấp bằng một vụ án khác, vì thực tế hiện nay phía ông N1 bà T8 cũng không trực tiếp quản lý sử dụng đất như nhận định nêu trên.
[3] Từ nhận định nêu trên xét thấy đơn kháng cáo của ông T1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là không có căn cứ được chấp nhận.
[4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nêu nội dung về cách tuyên trong bản án sơ thẩm chưa đầy đủ, cụ thể là: Tuyên thiếu quyền yêu cầu thi hành án và nghĩa vụ phải thi hành án của các đương sự là thiếu sót. Do vậy, toà án cấp phúc thẩm sẽ tuyên bổ sung nội dung trên cho đầy đủ. Cấp sơ thẩm cần rút kính nghiệm.
[5] Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Huỳnh Văn T1 và ông Nguyễn Hữu M, ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L, ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2.
Ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Huỳnh Văn T1, ông Nguyễn Hữu M, ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L, ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2, ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3.
Không chấp nhận kháng nghị số số 326/ QĐ – VKS – DS, ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 62 /2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ vào Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 203, Điều 220, điểm g khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 122, Điều 124; 127, Điều 128, Điều 137, và Điều 688; 697, 698 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 133, 688 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 106; 136 Luật Đất đai năm 2003;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T đối với ông Huỳnh Văn T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Công nhận toàn bộ quyền sử dụng đất có diện tích 72,517m2 tại các 19, 30, 32, 40, 41, 43, 44, 45, 46, 52, 53, 54, 57,58, 59, tờ bản đồ 41, tọa lạc tại tổ A, ấp C, xã V, huyện V theo diện tích đo đạc ngày 22/3/2016, tọa lạc tại tổ A, ấp C, xã V, huyện V theo Trích lục và đo hiện trạng khu đất, bản đồ địa chính số 497-1 đến 497-5/2016 của Văn phòng Đ – Chi nhánh V ngày 22/3/2016 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phạm Hồng H và bà Phan Thị T.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Phạm Hồng H và bà Phan Thị T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 145475 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 11/4/2003 cho ông Huỳnh Văn T1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 293157 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 11/9/2002 cho bà Phan Thị T
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với bà Đỗ Thị Mỹ L1 vào tháng 9/2004, với diện tích đất 2.560m2 tại thửa đất số 32 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Buộc ông Huỳnh Văn T1 và bà Đỗ Thị Mỹ L1 phải giao trả cho ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T diện tích đất 2,560m2 tại thửa đất số 32 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với ông Nguyễn Hữu M vào ngày 21/11/2005, với diện tích đất 1.063m2 tại thửa đất số 52 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Buộc ông Nguyễn Hữu M, ông Huỳnh Văn T1 phải giao trả cho ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T diện tích đất 1.063m2 tại thửa đất số 52 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L vào ngày 20/11/2005, với diện tích đất 1.074m2 tại thửa đất số 53 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Buộc ông Huỳnh Văn T1 và ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L phải giao trả cho ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T diện tích đất đất 1.074m2 tại thửa đất số 53 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2 vào ngày 22/11/2005, với diện tích đất 3.729m2 tại thửa đất số 43 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Buộc ông Huỳnh Văn T1 và ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2 phải giao trả cho ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T diện tích đất 3.729m2 tại thửa đất số 43 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 vào ngày 07/6/2006 với diện tích đất 2.000m2 tại thửa đất số 57 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Buộc ông Huỳnh Văn T1, ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 phải giao trả cho ông Phạm Hồng H, bà Phan Thị T diện tích đất 2.000m2 tại thửa đất số 57 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng đất, đồng thời phải chấp hành kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động đất đai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Đỗ Thị Mỹ L1 về việc “Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Huỳnh Văn T1.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Huỳnh Văn T1 với ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 vào ngày 07/6/2006 với diện tích đất 2.000m2 tại thửa đất số 47 tờ bản đồ 41 xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Dành quyền khởi kiện cho bà Đỗ Thị Mỹ L1, ông Nguyễn Hữu M, ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L, ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2, ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 đối với ông Huỳnh Văn T1 bằng một vụ kiện dân sự khác nếu các bên có yêu cầu.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc ông Huỳnh Văn T1 phải trả lại cho ông Phạm Hồng H và bà Phan Thị T các diện tích sau:
Một phần diện tích đất 8.379m2 tại thửa 40 tờ bản đồ số 41 xã V, huyện V, Đồng Nai, diện tích 3.820m2 tại thửa 19 diện tích đất 6.577m2 tại thửa 45, tờ bản đồ 41(thửa cũ là thửa 329 tờ bản đồ 28). Diện tích đất 6.526m2 tại thửa 41, diện tích đất 2.000m2 tại thửa 58, diện tích đất 1.473m2 tại thửa số 59, tờ bản đồ 41 (thửa cũ là thửa 324 tờ bản đồ số 28) xã V, huyện V, Đồng Nai. Diện tích đất 5.487m2 tại thửa 46 tờ bản đồ 41 (thửa cũ 327 tờ bản đồ số 28) xã V, huyện V, Đồng Nai).
(Trích lục và đo hiện trạng khu đất, Bản đồ địa chính số 497-1 đến 497-5/2016 của Văn phòng Đ – Chi nhánh V ngày 22/3/2016)
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Huỳnh Văn T1 và ông Nguyễn Hữu M, ông Lê Văn T3, bà Hà Thị L, ông Hà Quý P1, bà Đoàn Thị H2.
Ông Mai Văn L2 và bà Mai Thị Ngọc H3 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền 300.000 đồng ông L2 đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu tiền số 0002971 ngày 27 tháng 11 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai nay được chuyển thành tiền án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Xuân Thành |
Bản án số 1011/2024/DS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng, đất hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 1011/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng, đất hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ông Phạm Hồng H, sinh năm: 1957. Bà Phan Thị T, sinh năm: 1957. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm: 1951.
