|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1011/2025/DS-ST.
Ngày: 19/6/2025.
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Võ Văn Lợi
- 2. Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 3034/2024/TLST-DS ngày 24/12/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4172/2025/QĐXXST-DS ngày 08/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5044/2025/QĐST -DS ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam)
Địa chỉ: Số I Đường P, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Công ty L1.
Công ty L1 Niềm Tin uỷ quyền cho bà Nguyễn Phước Quỳnh G
(Văn bản uỷ quyền 02/4/2024 và văn bản uỷ quyền ngày 03/4/2024)
Bị đơn: Bà Võ Thị L, sinh ngày 01/10/1965
Địa chỉ: Số B Quốc lộ A, Khu phố C (Khu phố 1 cũ), phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
(Tại phiên toà: Bà Nguyễn Phước Q Giao xin vắng mặt; Bà Võ Thị L vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 31/5/2024, các bản tự khai, biên bản không tiến hành hoà giải được, nguyên đơn – Công ty T (Việt Nam) có bà Nguyễn Phước Q Giao đại diện trình bày:
Ngày 05/7/2022, Công ty T (Việt Nam) ký Hợp đồng tín dụng số: 3340603 về việc cấp tín dụng cho bà Võ Thị L với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (Trong đó khoản vay 30.000.000 đồng và bảo hiểm 1.980.000 đồng). Sau khi ký kết, Công ty T (Việt Nam) đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cho bà Võ Thị L. Theo hợp đồng, bà Võ Thị L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.616.080 đồng (đã trừ đi 12.000 đồng tiền phí thu hộ do bà Võ Thị L ngừng thanh toán nên phía công ty không thu tiền phí thu hộ theo điểm b khoản 8.1 Điều 8 của Hợp đồng) trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 05/12/2022 đến ngày 05/11/2024.
Sau khi được giải ngân, bà Võ Thị L đã thanh toán được 14 kỳ, với số tiền là 24.266.408 đồng (trong đó tổng gốc là 8.296.047 đồng; tổng lãi đã trả 15.870.753 đồng, phí thu hộ 99.608 đồng). Tuy nhiên, từ ngày 13/01/2024 bà Võ Thị L đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T (Việt Nam) đã giải ngân.
Công ty T (Việt Nam) đã tiến hành liên hệ qua điện thoại để nghị bà Võ Thị L thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T (Việt Nam) cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán thông báo trực tiếp cho L biết. Tuy nhiên, bà Võ Thị L vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T (Việt Nam).
Do vậy, Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Võ Thị L thanh toán cho Công ty T1 số tiền tạm tính đến ngày 19/6/2025 là: 45.874.060 đồng. Trong đó:
- - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 23.683.953 đồng.
- - Số tiền lãi trong hạn: 10.928.099 đồng.
- - Số tiền lãi quá hạn: 10.149.716 đồng.
- - Số tiền lãi chậm trả: 1.112.292 đồng.
* Diễn giải công thức tính lãi:
Số tiền lãi trong hạn: Bằng tổng số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ
Số tiền lãi quá hạn: Bằng 150% x Lãi suất x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày
Số tiền lãi chậm trả: Bằng 10% x Số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn/ 365 ngày.
Cách tính lãi trên được căn cứ tại Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Ngoài ra Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc bà Võ Thị L phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 20/6/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
Quá trình tiến hành tố tụng: Bà Võ Thị L không đến làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án. Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà vắng mặt, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Toà án không thu thập được lời trình bày của bà L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu: Các trình tự, thủ tục đều tuân thủ quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn - Công ty T (Việt Nam) khởi kiện bị đơn – Bà Võ Thị L tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại thành phố T. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn - Công ty T (Việt Nam) có bà Nguyễn Phước Q Giao là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn – Bà Võ Thị L vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn và bị đơn đều không có yêu cầu áp dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về yêu cầu của đương sự: Công ty T (Việt Nam) yêu cầu bà L trả một lần toàn bộ số tiền tổng cộng tạm tính đến ngày 29/5/2025 bao gồm nợ gốc và tiền lãi là: 45.874.060 đồng. (Trong đó: Số dư nợ gốc: 23.683.953 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 10.928.099 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 10.149.716 đồng và số tiền lãi chậm trả: 1.112.292 đồng).
Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có cơ sở xác định, ngày 05/7/2022 Công ty T (Việt Nam) ký Hợp đồng tín dụng số: 3340603 về việc cấp tín dụng cho bà Võ Thị L với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (Trong đó khoản vay 30.000.000 và bảo hiểm 1.980.000 đồng). Sau khi ký kết, Công ty T (Việt Nam) đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cho bà Võ Thị L. Bà Võ Thị L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.616.080 đồng (đã trừ đi 12.000 đồng tiền phí thu hộ do bà Võ Thị L ngừng thanh toán nên phía công ty không thu tiền phí thu hộ theo điểm b khoản 8.1 Điều 8 của Hợp đồng) trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 05/12/2022 đến ngày 05/11/2024. Xét thấy, các thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch.
Căn cứ vào lịch sử thanh toán, bà Võ Thị L đã thanh toán được tổng số tiền là 24.266.408 đồng (trong đó tổng gốc là 8.296.047 đồng; tổng lãi đã trả 15.870.753 đồng, phí thu hộ 99.608 đồng). Ngày 13/01/2024 đến nay bà Võ Thị L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả tiền theo hợp đồng đã ký. Hiện còn nợ tổng cộng số tiền tạm tính ngày 19/5/2025 bao gồm gốc và lãi là 45.874.060 đồng. Về tiền lãi và cách tính đã được quy định rõ tại mục 8.3 của Hợp đồng tín dụng nên khi bà L trả nợ trễ hạn thì sẽ được áp dụng là đúng theo thoả thuận của hợp đồng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 để xác định lãi, lãi suất”.
Xét thấy, bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký nên Công ty T (Việt Nam) yêu cầu bà L trả 01 lần toàn bộ số tiền còn nợ là có căn cứ.
Quá trình tố tụng: Bị đơn – Bà Võ Thị L vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án nên không thu thập được lời trình bày của bà L. Hội đồng xét xử căn các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho Nguyên đơn.
[6] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phân tích và đề nghị phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
- - Điều 100 và Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
- - Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Luật phí và lệ phí năm 2015.
- - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Luật thi hành án dân sự.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty T (Việt Nam): Buộc bà Võ Thị L có trách nhiệm trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền gồm: Số tiền dư nợ gốc: 23.683.953 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 10.928.099 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 10.149.716 đồng và Số tiền lãi chậm trả: 1.112.292 đồng. Tổng cộng 45.874.060 đồng (Bốn mươi lăm triệu tám trăm bảy mươi bốn nghìn không trăm sáu mươi đồng), thực hiện ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 20/6/2025 cho đến khi bà Võ Thị L trả hết nợ cho Công ty T (Việt Nam) theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 3340603 ngày 05/7/2022.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 2.293.703 đồng (Hai triệu hai trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm lẻ ba đồng) bà Võ Thị L phải chịu, bà L chưa nộp tiền án phí.
- Công ty T (Việt Nam) được nhận lại tiền tạm ứng án phí 670.990 đồng (Sáu trăm bảy mươi nghìn chín trăm chín mươi đồng) theo Biên lai thu số 0068184 ngày 20/12/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức lập.
- Về quyền kháng cáo: Công ty T (Việt Nam) và bà Võ Thị L được quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản sao bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Huỳnh Quốc Thịnh |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Quốc Thịnh |
Bản án số 1011/2025/DS-ST. ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1011/2025/DS-ST.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam), Võ Thị Lan - Tranh chấp hợp đồng tín dụng
