TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1010/2024/DS-PT
Ngày: 11-12-2024
V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hương
Các Thẩm phán:
- Bà Võ Thị Kim Thương
- Ông Lê Ngọc Tường
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xử án dân sự Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 766/TLPT-DS ngày 10/10/2024, về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 263/2024/DS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5616/2024/QĐ-PT ngày 23/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 16936/2024/QĐ-PT ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Hồng V, sinh năm 1975; địa chỉ thường trú: Số I đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Số A đường Á, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim Q, sinh năm 1990; địa chỉ liên hệ: Số A đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy ủy quyền ngày 12/10/2022) - (có mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Hồng D, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 1 đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Tăng Quốc T, sinh năm 1980; địa chỉ thường trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: 2.15 đường số A, khu dân cư M, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 16/8/2023) - (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1970; địa chỉ: Số F đường số C, khu phố C, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Ông Phạm Hồng T1, sinh năm 1969; địa chỉ thường trú: Số I đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Số C đường A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Ông Phạm Công T2, sinh năm 1971; địa chỉ: Số C đường A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Phạm Thị Thu T3, sinh năm 1973; địa chỉ: Số B đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
- Ông Phạm Công Q1, sinh năm 1997 (có mặt);
- Bà Phạm Thị Ngọc T4, sinh năm 2000 (có mặt);
- Bà Phạm Thị Ngọc D1, sinh năm 2003 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
- Trẻ Phạm Hồng P, sinh năm 2022 – do mẹ là bà Phạm Thị Ngọc D1 đại diện theo pháp luật;
Cùng địa chỉ: Số I đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Ông Lương Cẩm T5, sinh năm 1983; địa chỉ thường trú: Số B đường B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Số B đường A, khu phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Phạm Hồng D - bị đơn.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Phạm Công D2 - chết năm 2021 và bà Trần Thị G - chết năm 2021, không để lại di chúc, có 06 người con gồm: Ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu T3, ông Phạm Hồng V, và ông Phạm Hồng D. Cha mẹ của ông D2 và cha mẹ của bà G chết trước ông D2, bà G. Khi còn sống, ông D2 và bà G có tạo lập tài sản chung gồm: Nhà đất tại địa chỉ số I đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là nhà đất số I Hậu Giang); nhà đất tại địa chỉ số B đường A, khu phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là nhà đất số B A); 01 xe ô tô biển số 51H-864.61, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu sơn đồng, số máy 2GD0979606, số khung RL4JB3GS7M2531912 (sau đây viết tắt là xe ô tô biển số 51H-864.61).
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/8/2022 cùng lời khai của ông Phạm Hồng V là nguyên đơn và chị Phan Thị Kim Q đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Hồng V trình bày:
Hiện ông Phạm Hồng D đang giữ bản chính giấy tờ đối với 03 tài sản nêu trên. Nhà đất số I Hậu Giang đang do ông Phạm Hồng D quản lý sử dụng sinh sống cùng các con là anh Phạm Công Q1, chị Phạm Thị Ngọc T4, chị Phạm Thị Ngọc D1, trẻ Phạm Hồng P. Đối với chiếc xe ô tô biển số 51H-864.61 hiện ông Phạm Hồng D đang quản lý và sử dụng.
Để việc giải quyết vụ án được nhanh chóng nên ông V xác định không yêu cầu Công ty T7 thẩm định giá đối với 02 nhà đất nêu trên, đồng ý áp dụng giá do Hội đồng định giá đã đưa ra để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Ông V xác định ông D không có bỏ tiền ra để sửa chữa nhà 931 Hậu Giang và cũng không có công sức chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ khi còn sống. Vì cha mẹ khi còn sống rất khỏe mạnh, có thể tự chăm sóc bản thân và cũng có tiền tiết kiệm gửi Ngân hàng để chi phí sinh hoạt hàng ngày, đến khi cha mẹ chết thì anh chị em làm thủ tục rút tiền tiết kiệm của cha mẹ gửi Ngân hàng để lo ma chay và làm mồ mả, nên ông D không phải bỏ chi phí hay công sức gì để lo cho cha mẹ.
Nay ông Phạm Hồng V yêu cầu Tòa án xác định 03 tài sản trên là di sản thừa kế do ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G để lại. Ông V yêu cầu chia 2 di sản là nhà đất số B A và xe ô tô biển số 51H-864.61 đều cho 6 đồng thừa kế, bằng cách bán để chia và ông V yêu cầu hưởng 1/6 giá trị hai di sản này. Ông V đồng ý ông D được nhận 700.000.000 đồng tiền xây mồ mả cho cha mẹ từ giá trị nhà đất 931 Hậu Giang, đồng ý giao ông D được toàn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đất này và phải thanh toán cho ông V 1/6 giá trị nhà đất 931 Hậu Giang tại thời điểm thi hành án sau khi đã trừ 700.000.000 đồng tiền xây mồ mả thanh toán cho ông D, trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hết thời hạn này mà ông D không thanh toán đủ thì ông V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản này để chia cho các đồng thừa kế.
Bị đơn là ông Phạm Hồng D và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Tăng Quốc T trình bày:
Bản chính giấy tờ đối với 03 tài sản nêu trên do cha mẹ lúc còn sống để trong tủ khóa lại ở nhà I Hậu Giang, hiện ông D giữ bản chính giấy tờ đối với 3 tài sản tranh chấp. Chiếc xe ô tô biển số 51H-864.61 hiện nay đang để ở nhà 261 A, ông D và ông T2 mỗi người giữ một chìa khóa; tuy nhiên, ai biết chạy xe thì sử dụng chứ không thuộc quyền chiếm hữu của bất kỳ ai.
Đối với nhà 261 A thì anh em trong nhà ai cũng có chìa khóa nhà này. Hiện tại ông V có để máy móc cơ khí trong kho, ông T1 đang sử dụng mặt bằng ở đây để rửa xe, ông T2 và bà T3 có để xe ô tô, ông D có để xe ô tô do cha mẹ để lại và có người tên là T5 đang thuê để sửa xe từ mười mấy năm nay. Trước đây cha mẹ còn sống có làm hợp đồng thuê với ông T5, sau này cha mẹ mất không làm hợp đồng. Tiền thuê sẽ gửi vào tài khoản của chị T4 để các con của ông D sử dụng làm chi phí đi học theo nguyện vọng của cha mẹ ông D.
Hiện nay tại nhà 931 Hậu Giang có 05 người đang sinh sống, cư trú gồm ông Phạm Hồng D và con trai là anh Phạm Công Q1, con gái là chị Phạm Thị Ngọc T4, con dâu chị Phạm Thị Ngọc D1 (vợ của Phạm Công Q1), cháu nội là trẻ Phạm Hồng P (con của Q1 và D1).
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông D đồng ý chia đều thành 06 phần đối với di sản thừa kế của cha mẹ để lại là nhà và đất số 261 An Dương V1 và 01 xe ô tô biển số 51H-864.61, bằng cách bán để chia.
Tại phiên tòa, ông D xác định Nhà nước lo chi phí mai táng cho cha mẹ nên không yêu cầu hoàn trả tiền mai táng là 150.000.000 đồng. Đối với chi phí xây mồ mả cho cha mẹ, ông D xác định là 1,7 tỷ đồng (chỉ có tài liệu thể hiện chi phí mua vật liệu tổng cộng là 550.000.000 đồng theo hóa đơn của cửa hàng G3 và hóa đơn của cửa hàng V2). Tuy nhiên, ông D đồng ý chỉ yêu cầu được nhận lại tiền xây mồ mả là 700.000.000 đồng từ giá trị nhà đất 931 Hậu Giang.
Do đó, ông D yêu cầu được nhận toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà số I Hậu Giang và thanh toán lại cho 5 đồng thừa kế còn lại 50% giá trị nhà đất này theo giá đã được Hội đồng định giá định giá ngày 26/7/2023, sau khi trừ số tiền 700.000.000 đồng vừa nêu, trong thời hạn là 1 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Ông D yêu cầu được hưởng 50% nhà đất 931 Hậu Giang vì ông D là con út sống tại căn nhà này từ nhỏ đến nay, nên có nhiều công sức gìn giữ tôn tạo làm tăng giá trị tài sản và ông D muốn giữ lại căn nhà làm nơi thờ cúng cha mẹ, cũng là tài sản kỷ niệm của cha mẹ để lại, đồng thời khi còn sống ông D2 bà G có di nguyện cho ông D nhưng do chết vì dịch covid 19 không kịp làm thủ tục sang tên, nên không lập văn bản chuyển quyền sở hữu đối với nhà đất này cho ông D.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hồng T1 trình bày:
Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông T1 đồng ý xác định 03 tài sản trên là di sản thừa kế do ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G để lại. Ông T1 đồng ý chia 2 di sản là nhà đất số B A và xe ô tô biển số 51H-864.61 đều cho 6 đồng thừa kế, bằng cách bán để chia và ông T1 yêu cầu hưởng 1/6 giá trị hai di sản này. Ông T1 đồng ý ông D được nhận 700.000.000 đồng tiền xây mồ mả cho cha mẹ, từ giá trị nhà đất 931 Hậu Giang, đồng ý giao ông D được toàn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đất này và phải thanh toán cho ông T1 1/6 giá trị nhà đất 931 Hậu Giang tại thời điểm thi hành án sau khi đã trừ 700.000.000 đồng tiền xây mồ mả thanh toán cho ông D, trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn này mà ông D không thanh toán đủ thì ông T1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản này để chia cho các đồng thừa kế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thu H trình bày:
Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà H đồng ý xác định 03 tài sản trên là di sản thừa kế do ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G để lại. Bà H đồng ý chia 2 di sản là nhà đất tại địa chỉ số B A, khu phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và xe ô tô biển số 51H-864.61 đều cho 6 đồng thừa kế, bằng cách bán để chia và bà H yêu cầu hưởng 1/6 giá trị hai di sản này. Bà H đồng ý ông D được nhận 700.000.000 đồng tiền xây mồ mả cho cha mẹ, từ giá trị nhà đất 931 Hậu Giang, đồng ý giao ông D được toàn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đất này và phải thanh toán cho bà H 1/6 giá trị nhà đất 931 Hậu Giang tại thời điểm thi hành án sau khi đã trừ 700.000.000 đồng tiền xây mồ mả thanh toán cho ông D, trong thời hạn 1 năm
kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn này mà ông D không thanh toán đủ thì bà H có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản này để chia cho các đồng thừa kế.
Tại bản tự khai ngày 17/5/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Công T2 trình bày:
Ông T2 đồng ý bán nhà đất 261 A để chia cho 6 anh chị em, xe ô tô để ông D sử dụng. Ông T2 không đồng ý bán nhà đất 931 Hậu Giang 6 để chia, mà muốn nhà đất này là sở hữu chung của 6 anh chị em để thờ cúng cha mẹ và để các con ông D tiếp tục sống tại đây. Khi còn sống cha mẹ đã mua cho các anh chị em nhà cửa, tiền làm ăn, còn ông D thì cứ nghĩ nhà 931 Hậu Giang để lại cho ông D, nhưng cha mẹ chết đột ngột nên không kịp làm thủ tục sang tên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thu T3 trình bày:
Bà T3 đồng ý xác định 03 tài sản trên là di sản thừa kế do ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G để lại và chia di sản thừa kế do ông Phạm Công D2 và bà Nguyễn Thị G1 để lại. Bà T3 đồng ý chia 2 di sản là nhà đất tại địa chỉ số B A và xe ô tô biển số 51H-864.61 đều cho 6 đồng thừa kế, bằng cách bán để chia và bà T3 yêu cầu hưởng 1/6 giá trị hai di sản này. Bà T3 đồng ý ông D được nhận 700.000.000 đồng tiền xây mồ mả cho cha mẹ, từ giá trị nhà đất 931 Hậu Giang, đồng ý giao ông D được toàn quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà đất này và phải thanh toán cho bà T3 1/6 giá trị nhà đất 931 Hậu Giang tại thời điểm thi hành án sau khi đã trừ 700.000.000 đồng tiền xây mồ mả thanh toán cho ông D, trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn này mà ông D không thanh toán đủ thì bà T3 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản này để chia cho các đồng thừa kế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Công Q1 và chị Phạm Thị Ngọc T4 cùng trình bày:
Hiện nay, anh Q1 và chị T4 trực tiếp sinh sống, cư trú tại nhà Đ Hậu Giang. Khi ông bà nội còn sống thì anh Q1 và chị T4 là người trực tiếp phụng dưỡng ông bà. Ông V có qua chở bà nội đi tập thể dục nhưng cũng được trả tiền công. Khi ông bà nội sửa nhà này, ông T1 đã kê tiền chi phí sửa nhà để lấy thêm tiền của ông bà nội. Đề nghị giao ông D toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà số I Hậu Giang và ông D sẽ thanh toán lại cho 5 đồng thừa kế 50% giá trị nhà đất này. Trong trường hợp phải bán nhà đất này để chia cho các đồng thừa kế thì anh Q1 và chị T4 không ý kiến.
Tại bản tự khai đề ngày 17/5/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Ngọc D1 đồng thời đại diện trẻ Phạm Hồng P trình bày:
chị D1 và con tên là Phạm Hồng P đang sinh sống cư trú tại nhà số I Hậu Giang. Quá trình ở tại đây, chị D1 không có đóng góp xây dựng, nên không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai đề ngày 07/9/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Cẩm T5 trình bày:
Từ năm 2007 ông T5 có thuê một phần mặt bằng nhà số B A để kinh doanh sửa chữa xe máy cho đến nay. Trong quá trình sử dụng mặt bằng này ông T5 có sửa chữa lặt vặt, nhưng ông T5 không có yêu cầu gì đối với việc sửa này. Khi tài sản này được bán để chia, ông T5 đồng ý di dời các tài sản của mình để tại đây đến nơi khác.
Nguyên đơn, ông T1, bà H và bà T3 không đồng ý với việc bị đơn yêu cầu hưởng 50% giá trị nhà đất 931 Hậu Giang do có công sức tôn tạo, sửa chữa nhà và có công sức chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ khi còn sống. Bà T3 mới là người túc trực chăm sóc cha mẹ khi nằm viện, ốm đau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 263/2024/DS-ST ngày 20/8/2024, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Xác định di sản thừa kế của ông Phạm Công D2 (chết năm 2021 – không có di chúc) và bà Trần Thị G (chết năm 2021– không có di chúc) để lại gồm:
- Nhà đất tại địa chỉ số I Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc thửa đất số 2 tờ bản đồ số 15 BĐĐC P.11 Q.6, có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 2927/2008/GCN do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 25/8/2008).
- Nhà đất tại địa chỉ số B A, khu phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc thửa đất số 10 tờ bản đồ số 37-TL2005, có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số H00050/2008/An Lạc do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 15/01/2008)
Xe ô tô biển số 51H-864.61, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu sơn đồng, số máy 2GD0979606, số khung RL4JB3GS7M2531912 (có Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 020648 do Phòng C1 – Công an Thành phố H cấp ngày 07/4/2021).
- Người thừa kế theo pháp luật của ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G, gồm: Ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu T3, ông Phạm Hồng V, và ông Phạm Hồng D.
- Phân chia di sản thừa kế của ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G để lại, như sau:
- Ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu T3, ông Phạm Hồng V, và ông Phạm Hồng D, mỗi người được hưởng 1/6 giá trị Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số B A, khu phố D, phường A, quận B; và 1/6 giá trị xe ô tô biển số 51H-864.61, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu sơn đồng, số máy 2GD0979606, số khung RL4JB3GS7M2531912, tại thời điểm bán hoặc thời điểm thi hành án.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu nhà đất số B A, khu phố D, phường A, quận B, và xe ô tô biển số 51H-864.61 chưa được bán thì ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu T3, ông Phạm Hồng V, và ông Phạm Hồng D có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mãi quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở số B A, khu phố D, phường A, quận B, và xe ô tô biển số 51H-864.61, để phân chia theo mục 3.1 sau khi đã trừ đi các chi phí cho việc phát mãi hai tài sản này.
Khi nhà đất số B A, khu phố D, phường A, quận B, và xe ô tô biển số 51H-864.61 được phát mãi thì ông Lương Cẩm T5, ông Phạm Hồng V, ông Phạm Hồng T1, anh Phạm Công Q1, bà Phạm Thị Thu T3 và những người cư trú tại nhà đất này có nghĩa vụ di dời cùng tài sản của mình đi nơi khác; ông Phạm Hồng D có nghĩa vụ giao bản chính giấy chứng nhận đối với nhà đất 261 A và xe ô tô biển số 51H-864.61 cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền; ông Phạm Hồng D hoặc người đang giữ xe có nghĩa vụ giao xe ô tô biển số 51H-864.61 cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Ông Phạm Hồng D được nhận lại chi phí xây mồ mả cho ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G, với số tiền là 700.000.000 đồng từ giá trị nhà đất I Hậu Giang, Phường A, Quận F.
Ông Phạm Hồng T1, ông Phạm Hồng V, ông Phạm Công T2, ông Phạm Hồng D, bà Phạm Thị Thu H, bà Phạm Thị Thu T3, mỗi người được hưởng 1/6 giá trị nhà đất I Hậu Giang, Phường A, Quận F sau khi trừ 700.000.000 đồng nêu trên.
- Ông Phạm Hồng D được toàn quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở tại số I Hậu Giang, Phường A, Quận F (thuộc thửa đất số 2 tờ bản đồ số 15 P.11 Q.6, có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 2927/2008/GCN do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 25/8/2008) và có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hồng T1, ông Phạm Hồng V, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu H, bà Phạm Thị Thu T3, mỗi người 1/6 giá trị nhà đất I Hậu Giang, Phường A, Quận F tại thời điểm thi hành án, sau khi đã trừ 700.000.000 đồng tiền thanh toán cho ông D chi phí xây mồ mả như nêu ở mục 3.3, trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Khi ông D đã thanh toán cho ông T1, ông V, ông T2, bà H, bà T3, mỗi người đủ số tiền vừa nêu, thì ông D có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở đối với nhà đất này.
- Trường hợp ông D không thanh toán hoặc thanh toán không đủ trong thời hạn nêu tại mục 3.4 thì ông T1, ông V, ông T2, bà H, bà T3, ông D có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất ở và sở hữu nhà ở tại số I Hậu Giang, Phường A, Quận F để phân chia cho ông T1, ông V, ông T2, bà H, bà T3, ông D theo mục 3.3 sau khi đã trừ đi các chi phí cho việc phát mãi tài sản này.
Khi nhà đất số I Hậu Giang, Phường A, Quận F được phát mãi thì ông Phạm Hồng D, anh Phạm Công Q1, chị Phạm Thị Ngọc T4, chị Phạm Thị Ngọc D1 cùng trẻ Phạm Hồng P và những người đang cư trú tại nhà I Hậu Giang, Phường A, Quận F có nghĩa vụ di dời cùng tài sản của mình đi nơi khác; ông Phạm Hồng D có nghĩa vụ giao bản chính giấy chứng nhận đối với nhà đất 931 đường H cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự và quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Ngày 04/9/2024, bị đơn – Phạm Hồng D kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Ngày 18/9/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 6886/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị một phần bản án của Tòa án nhân dân Quận 6 về án phí.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo, Viện kiểm sát không rút kháng nghị. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tất cả các đương sự đồng ý với kháng nghị của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về án phí theo Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Tăng Quốc T - đại diện bị đơn đồng thời là người kháng cáo trình bày:
Ông D thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo, không yêu cầu hưởng 50% giá trị nhà đất 931 Hậu Giang. Ông yêu cầu được nhận toàn bộ di sản thừa kế là nhà đất 261 A, nhà đất 931 Hậu Giang và xe ô tô mang biển số 51H-864.61, ông sẽ có trách nhiệm hoàn lại cho các đồng thừa kế kỷ phần mà họ được hưởng theo quy định pháp luật, ông yêu cầu được hưởng công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, công sức tôn tạo, sửa chữa nhà, công sức giữ gìn quản lý di sản tương đương một suất thừa kế đối với nhà đất 931 Hậu Giang; bởi lẽ: Cha mẹ khi còn sống đã cho các anh em mỗi người căn nhà, chỉ còn ông D ở cùng cha mẹ đã có công sức tôn tạo, sửa chữa nhà, có công sức giữ gìn, quản lý di sản, tâm nguyện của cha mẹ là để lại căn nhà 931 Hậu Giang cho ông D sở hữu và làm nơi thờ cúng gia tiên, ông bà.
Nguyên đơn có bà Phan Thị Kim Q là đại diện theo ủy quyền và những người thừa kế khác trình bày: Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân Quận 6 thì bị đơn đã thừa nhận nhà đất không có tôn tạo, sửa chữa. Do cha mẹ có điều kiện kinh tế nên tự lo được, bị đơn không có công sức nuôi dưỡng cha mẹ. Về việc quản lý di sản, bị đơn là người được hưởng tiền cho thuê nhà I Hậu Giang và một phần nhà 261 A trong một thời gian dài. Do vậy, không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Hồng T1 và bà Phạm Thị Thu T3 không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật. Kháng cáo của bị đơn thực hiện trong thời hạn luật định, hợp lệ nên chấp nhận.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 263/2024/DS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh về phần án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Phạm Công T2 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vắng mặt tại phiên tòa, ông Lương Cẩm T5 và chị Phạm Thị Ngọc D1 đồng thời đại diện trẻ Phạm Hồng P đề nghị xét xử vắng mặt; do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo so với yêu cầu kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đối với nhà đất 931 Hậu Giang tại đơn kháng cáo ngày 04/9/2024, bị đơn không yêu cầu hưởng 50% giá trị nhà đất 931 Hậu Giang. Ông yêu cầu được nhận toàn bộ di sản thừa kế là nhà đất 261 A, nhà đất 931 Hậu Giang và xe ô tô mang biển số 51H-864.61, ông sẽ có trách nhiệm hoàn lại cho các đồng thừa kế kỷ phần mà họ được hưởng theo quy định pháp luật, ông yêu cầu được hưởng công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ và quản lý di sản tương đương một suất thừa kế theo pháp luật đối với nhà đất 931 Hậu Giang. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo của bị đơn là vượt quá yêu cầu kháng cáo ban đầu theo quy định tại khoản 3 Điều 298 Bộ luật Tố tụng dân sự; do đó, xét không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
[2] Nội dung:
[2.1] Xác định di sản thừa kế: Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các đương sự thừa nhận và căn cứ vào chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G chết năm 2021 không có lập di chúc, có để lại di sản gồm:
- Nhà đất tại địa chỉ số I đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc thửa đất số 2 tờ bản đồ số 15 P.11 Q.6, có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 2927/2008/GCN do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 25/8/2008).
- Nhà đất tại địa chỉ số B đường A, khu phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc thửa đất số 10 tờ bản đồ số 37-TL2005, có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số H00050/2008/An Lạc do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 15/01/2008)
- Xe ô tô biển số 51H-864.61, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu sơn đồng, số máy 2GD0979606, số khung RL4JB3GS7M2531912 (có Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 020648 do Phòng C1 – Công an Thành phố H cấp ngày 07/4/2021).
[2.2] Người thừa kế theo pháp luật:
Căn cứ lời trình bày của các đương sự, cùng chứng cứ là giấy khai sinh của các đương sự và văn bản khai nhận di sản ngày 16/11/2021, đã có đủ cơ sở để
xác định: Ông Phạm Công D2 có cha là ông Phạm Văn Đ và mẹ là bà Dương Thị N cùng chết trước ông D2. Bà Trần Thị G có cha là ông Trần Văn C và mẹ là bà Nguyễn Thị T6 cùng chết trước bà G. Ông D2 và bà G có 06 người con gồm: Ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu T3, ông Phạm Hồng V, và ông Phạm Hồng D, là những người thừa kế theo pháp luật của ông D2 và bà G theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn yêu cầu hưởng 50% giá trị nhà đất I đường H, Phường A, Quận F và phần còn lại chia cho 5 đồng thừa kế.
Xét: Ông V, ông T1, bà T3 và bà H xác định ông D không đóng góp công sức xây dựng, sửa chữa đối với nhà đất 931 Hậu Giang, cũng như không có công sức chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ khi còn sống. Ông Trần Văn D3 và bà Phạm Thị G2 sống tại nhà I Hậu Giang đến lúc chết và có đủ điều kiện kinh tế để sinh sống. Ông D không có chứng cứ chứng minh về việc được giao bảo quản di sản này, không có chứng cứ chứng minh việc xây dựng, tôn tạo nhà, cũng như không có yêu cầu đối với phần xây dựng, sửa chữa nhà, nên ông D yêu cầu được hưởng 50% giá trị nhà đất I Hậu Giang là không có cơ sở. Ngoài ra, ông D còn được hưởng tiền thuê nhà trong một thời gian dài từ khi cha mẹ còn sống cho đến nay. Cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau” để quyết định ông V, ông D, ông T1, ông T2, bà H và bà T3 mỗi người được hưởng 1/6 giá trị nhà đất này, sau khi đã thanh toán lại số tiền 700.000.000 đồng cho ông D là có cơ sở và phù hợp quy định pháp luật.
Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc Tòa án sơ thẩm tính án phí có giá ngạch trên kỷ phần thừa kế mà ông D, ông V, ông T1, ông T2, bà H và bà T3 chưa chính xác nên cần sửa lại là có cơ sở. Ngoài ra, cấp sơ thẩm chưa tính án phí đối với số tiền 700.000.000 đồng mà các ông D, ông T1, ông T2, bà H và bà T3 phải thực hiện nghĩa vụ đối với ông D, căn cứ quy định tại điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần quyết định về án phí là phù hợp quy định pháp luật.
Từ các phân tích nói trên, Hội đồng xét xử xét không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc sửa bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên giữ nguyên.
[3] Về án phí:
Sửa một phần bản án về án phí, ông Phạm Hồng V, ông Phạm Hồng D, ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2 và bà Phạm Thị Thu T3 mỗi người phải chịu án phí có giá ngạch trên kỷ phần thừa kế mà họ được hưởng là 114.277.725 đồng; ông Phạm Hồng V, ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2 và bà Phạm Thị Thu T3, mỗi người phải chịu án
phí có giá ngạch trên số tiền chi phí xây mồ mả phải trả cho ông V là 700.000.000 đồng.
Do sửa bản án sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Luật thi hành án dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc sửa một phần bản án sơ thẩm.
- Xác định di sản thừa kế của ông Phạm Công D2 (chết năm 2021) và bà Trần Thị G (chết năm 2021) không có di chúc để lại, gồm:
- - Nhà đất tại địa chỉ số I đường H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc thửa đất số 2 tờ bản đồ số 15 BĐĐC P.11 Q.6, có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 2927/2008/GCN do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 25/8/2008);
- - Nhà đất tại địa chỉ số B đường A, khu phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc thửa đất số 10 tờ bản đồ số 37-TL2005, có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số H00050/2008/An Lạc do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 15/01/2008);
- - Xe ô tô biển số 51H-864.61, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu sơn đồng, số máy 2GD0979606, số khung RL4JB3GS7M2531912 (có Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 020648 do Phòng C1 – Công an Thành phố H cấp ngày 07/4/2021).
- Người thừa kế theo pháp luật của ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G, gồm: Ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu T3, ông Phạm Hồng V, và ông Phạm Hồng D.
- Phân chia di sản thừa kế của ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G để lại, như sau:
- Ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu T3, ông Phạm Hồng V, và ông Phạm Hồng D, mỗi người được hưởng 1/6 giá trị Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số B đường A, khu phố D, phường A, quận B; và 1/6 giá trị xe ô tô biển số 51H-864.61, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu sơn đồng, số máy 2GD0979606, số khung RL4JB3GS7M2531912, tại thời điểm bán hoặc thời điểm thi hành án.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu nhà đất số B đường A, khu phố D, phường A, quận B và xe ô tô biển số 51H-864.61 chưa được bán thì ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu T3, ông Phạm Hồng V, và ông Phạm Hồng D có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mãi quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở số B đường A, khu phố D, phường A, quận B, và xe ô tô biển số 51H-864.61, để phân chia theo mục 3.1 sau khi đã trừ đi các chi phí cho việc phát mãi hai tài sản này.
Khi nhà đất số B đường A, khu phố D, phường A, quận B và xe ô tô biển số 51H-864.61 được phát mãi thì ông Lương Cẩm T5, ông Phạm Hồng V, ông Phạm Hồng T1, anh Phạm Công Q1, bà Phạm Thị Thu T3 và những người cư trú tại nhà đất này có nghĩa vụ di dời cùng tài sản của mình đi nơi khác; ông Phạm Hồng D có nghĩa vụ giao bản chính giấy chứng nhận đối với nhà đất 261 đường A và xe ô tô biển số 51H-864.61 cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền; ông Phạm Hồng D hoặc người đang giữ xe có nghĩa vụ giao xe ô tô biển số 51H-864.61 cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Ông Phạm Hồng D được nhận lại chi phí xây mồ mả cho ông Phạm Công D2 và bà Trần Thị G, với số tiền là 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng từ giá trị nhà đất 931 đường H, Phường A, Quận F.
Ông Phạm Hồng T1, ông Phạm Hồng V, ông Phạm Công T2, ông Phạm Hồng D, bà Phạm Thị Thu H, bà Phạm Thị Thu T3, mỗi người được hưởng 1/6 giá trị nhà đất I đường H, Phường A, Quận F sau khi trừ 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng nêu trên.
- Ông Phạm Hồng D được toàn quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở tại số I đường H, Phường A, Quận F (thuộc thửa đất số 2 tờ bản đồ số 15 P.11 Q.6, có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 2927/2008/GCN do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 25/8/2008) và có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hồng T1, ông Phạm Hồng V, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu H, bà Phạm Thị Thu T3, mỗi người 1/6 giá trị nhà đất I đường H, Phường A, Quận F tại thời điểm thi hành án, sau khi đã trừ 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng tiền thanh toán cho ông D chi phí xây mồ mả như nêu ở mục 3.3, trong thời hạn 6 (sáu) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi ông D đã thanh toán cho ông T1, ông V, ông T2, bà H và bà T3, mỗi người đủ số tiền vừa nêu, ông D có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở đối với nhà đất nêu trên.
- Trường hợp ông D không thanh toán hoặc thanh toán không đủ trong thời hạn nêu tại mục 3.4 thì ông T1, ông V, ông T2, bà H, bà T3, ông D có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất ở và sở hữu nhà ở tại số I đường H, Phường A, Quận F để phân chia cho ông T1, ông V, ông T2, bà H, bà T3 và ông D theo mục 3.3 sau khi đã trừ đi các chi phí cho việc phát mãi tài sản này.
Khi nhà đất số I đường H, Phường A, Quận F được phát mãi thì ông Phạm Hồng D, anh Phạm Công Q1, chị Phạm Thị Ngọc T4, chị Phạm Thị Ngọc D1 cùng trẻ Phạm Hồng P và những người đang cư trú tại nhà I đường H, Phường A, Quận F có nghĩa vụ di dời cùng tài sản của mình đi nơi khác; ông Phạm Hồng D có nghĩa vụ giao bản chính giấy chứng nhận đối với nhà đất 931 đường H cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2, bà Phạm Thị Thu T3 và ông Phạm Hồng D, mỗi người trả lại cho ông Phạm Hồng V chi phí tố tụng là 1.000.000 (một triệu) đồng.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Phạm Hồng V phải chịu số tiền án phí là 114.277.725 (một trăm mười bốn triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm hai mươi lăm) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 31.000.005 (ba mươi mốt triệu lẻ năm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/00012685 ngày 10/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6. Ông Phạm Hồng V còn phải nộp số tiền án phí là 83.277.720 (tám mươi ba triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm hai mươi) đồng.
- - Ông Phạm Hồng D, ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2 và bà Phạm Thị Thu T3, mỗi người phải chịu án phí là 114.277.725 (một trăm mười bốn triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm hai mươi lăm) đồng.
- - Ông Phạm Hồng D, ông Phạm Hồng T1, bà Phạm Thị Thu H, ông Phạm Công T2 và bà Phạm Thị Thu T3, mỗi người phải chịu án phí là 7.000.000 (bảy triệu) đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Hồng V không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn trả cho ông V 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0010171 ngày 04/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Các đương sự thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hương |
Bản án số 1010/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản.
- Số bản án: 1010/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận đề nghị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc sửa một phần bản án sơ thẩm
