| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1010/2024/HS-PT
Ngày: 30/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Tô Ngọc |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Thanh Dũng |
| Ông Vũ Ngọc Huynh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 735/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 do có kháng kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Kim L, (tên gọi khác: Linh X), sinh ngày 02 tháng 11 năm 1999, tại tỉnh Tiền Giang. Thẻ CCCD: [...]; Nơi ĐKHKTT: SỐ E L, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: không rõ thông tin và bà Nguyễn Thị Đ; Chồng: Lê Đăng K; Con: 01 người con; Tiền án, tiền sự : Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/10/2023. Đến ngày 13/10/2023 được trả tự do và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Kim L: Ông Đỗ Xuân T thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị cáo Nguyễn Minh T1, Lê Đăng K không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 35 phút ngày 06/10/2023, tại Bến đỗ xe khách T thuộc Tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phát hiện Nguyễn Kim L và Nguyễn Minh T1 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra túi xách màu hồng do L đang mang phía trước, phát hiện bên trong túi xách có một hộp giấy màu đỏ ghi chữ bánh trung thu Hân Phát, bên trong hộp giấy màu đỏ này có 02 găng tay y tế màu trắng bên trong có các gói nylon chứa 03 viên nén màu xanh và nhiều tinh thể màu trắng nên Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Kim L, Nguyễn Minh T1 và thu giữ vật chứng theo quy định.
Tổng khối lượng ma túy cơ quan điều tra đã thu giữ khi bắt quả tang và khám xét trong vụ án là 201,8654 gam ma túy, loại Methamphetamin và 0,3311 gam MDMA.
Trên cơ sở lời khai của các Bị cáo Nguyễn Kim L, Nguyễn Minh T1 và những người có liên quan, Cơ quan điều tra xác định như sau:
Lê Đăng K và Nguyễn Kim L thực hiện mua bán trái phép chất ma túy từ khoảng tháng 3/2023. Ban đầu K trực tiếp bán ma túy cho đối tượng nghiện, đến khoảng tháng 8/2023 K giao việc điều hành mua bán ma túy lại cho L nên L trực tiếp liên hệ mua ma túy, phân chia và bán cho đối tượng nghiện. Do quen biết từ trước với Nguyễn Minh T1 nên L kêu T1 phụ giúp L bán ma túy, L thuê nhà trọ N1 tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang để T1 ở và làm địa điểm cất giấu, mua bán ma túy.
- Về nguồn ma túy: L khai mua ma túy tại thành phố Hồ Chí Minh của một người nữ tên T2 (Nguyễn Thị Cẩm T2) nhiều lần, mỗi lần từ 01 - 02 lạng (khoảng 100-200 gam) ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá) với giá tiền 28 triệu đồng/lạng và thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản cho T2. Đến khoảng giữa tháng 8/2023, L không liên lạc được với T2 để mua ma túy nên L nói K liên hệ với một người tên Q (Nguyễn Vinh Q) tại thành phố M, tỉnh Tiền Giang để mua ma túy đá tổng cộng 02 lần, mỗi lần 01 lạng (100 gam) ma túy đá với giá 30 triệu đồng/lạng, hình thức mua ma túy là chuyển tiền vào tài khoản của Q và Q mang ma túy đến nhà trọ để giao cho K.
Đến cuối tháng 9 và đến đầu tháng 10/2023, L quen biết và cùng T1 đến thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy đá của đối tượng tên T3, P (không biết họ tên và địa chỉ cụ thể) 02 lần, với tổng số tiền 27.000.000 đồng. Cụ thể:
Lần 1: khoảng cuối tháng 9/2023, L mua 01 lạng ma túy (100gam) với giá với giá 24.000.000 đồng, L và T1 đến thành phố Hồ Chí Minh nhận ma túy và trả tiền cho T3, P. Sau đó, L về phân chia và bán lại cho người khác.
Lần 2: Sau khi ma túy mua lần 1 gần hết, ngày 05/10/2023 L gọi Z cho T3 (nick zalo B1) hỏi mua 01 lạng ma túy và thỏa thuận tiền bán cho L với giá 12.500.000 đồng và xin vài viên thuốc lắc để bán chào hàng thì T3 đồng ý. Sau đó, Liên thông B cho T1 cùng L đến thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy, T1 có nhiệm vụ thử ma túy (sử dụng ma túy) nếu đạt chất lượng thì mua. Sáng ngày 06/10/2023, T1 sử dụng xe Sirius biển số 63B3- 440.19 chở L đến bến xe khách Tân Lập Thành thuộc xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang để gửi xe mô tô và đi xe khách đến hẻm tại đường B, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh gặp T3, P để mua ma túy. Sau khi nhận ma túy, T1 sử dụng thử ma túy thấy đạt theo yêu cầu nên L đưa tiền 5.000.000 đồng (còn nợ lại 7.500.000 đồng) cho P rồi nhận gói ma túy đá cùng 03 viên nén đưa lại cho T1 dùng găng tay y tế màu trắng gói lại cho vào hộp giấy bánh trung thu Hân P1 giấu vào ba lô màu hồng của L. Sau khi mua ma túy xong, L và T1 đón xe về lại tỉnh Tiền Giang thì bị bắt quả tang như đã nêu trên.
- Về cách thức phân chia, bán ma túy: Sau khi mua ma túy, L trực tiếp phân chia thành các gói nhỏ để tại phòng trọ Anh N giao cho T1 quản lý, L chỉ cất giấu một ít để L, K sử dụng và bán lại cho người khác mua khi có yêu cầu. Liễn trả tiền thuê phòng trọ Anh N, lo ăn uống và trả tiền công cho T1 mỗi ngày từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng.
Qua điều tra, những đối tượng nghiệp khai khi có nhu cầu mua ma túy thì điện thoại vào số điện thoại của L hoặc Khoa để thỏa thuận số lượng, giá tiền ma túy và hình thức trả tiền, địa điểm giao ma túy. Sau khi thỏa thuận xong, K trực tiếp đi bán ma túy hoặc kêu T1 đi giao ma túy do L, K thỏa thuận trước đó và nhận tiền về giao lại cho Liên hoặc người mua đã chuyển khoản trước đó vào tài khoản, ví điện tử momo của Lê Đăng K hoặc L.
Bằng thủ đoạn như đã nêu trên, Nguyễn Kim L đã 85 lần bán ma túy Lê Đăng K đã 50 lần bán ma túy và Nguyễn Minh T1 đã 23 lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HSST ngày 2-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim L (Linh X) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 39; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Liên T4 chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt và tội danh đối với các bị cáo Nguyễn Minh T1, Lê Đăng K; về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Kim L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Kim L trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết và xin giảm hình phạt với các lý do: bị cáo có con còn nhỏ, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để phát hiện tội phạm;
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: luật sư thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh. Trong quá trình điều tra, bị cáo hợp tác tích cực với cơ quan điều tra khai ra hai người là T3 và P là người bán ma túy cho bị cáo. Tuy nhiên, cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ, chưa bắt được nghi phạm. Bị cáo nuôi con nhỏ, sức khỏe yếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tù có thời hạn đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim L làm trong hạn luật định đề nghị xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội.
Bị cáo đủ cơ sở xác định bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi phạm tội nhưng vì tư lợi bị cáo vẫn bất chấp pháp luật mua bán khối lượng ma túy với khối lượng lớn.
Trong vụ án này, bị cáo L là người giữ vai trò chính, nhiều lần thực hiện hành vi mua bán ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước, xâm phạm an ninh trật tự, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Khi áp dụng hình phạt cho bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa hôm nay, bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết nào mới cho yêu cầu kháng cáo của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của Bị cáo Nguyễn Kim L làm trong hạn luật định, được Hội đồng phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và tại diễn biến của phiên tòa sơ thẩm.
Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Về tội danh: Khoảng tháng 3/2023 đến khi bị bắt quả tang ngày 06/10/2023 tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Nguyễn Kim L đã mua ma túy mang về huyện C, tỉnh Tiền Giang để phân chia và cùng với Nguyễn Minh T1, Lê Đăng K trực tiếp bán lại cho nhiều đối tượng nghiện, ngày 06/10/2023 bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ 202,1965 gam ma túy (gồm: 201,8654 Methamphetamine và 0,3311 gam MDMA).
Đây là vụ án đồng phạm, vai trò của các bị cáo như sau: bị cáo Nguyễn Kim L là người giữ vai trò chính. Cụ thể: L 02 lần cùng Nguyễn Minh T1 đến thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy mang về huyện C, tỉnh Tiền Giang; trực tiếp phân chia thành các gói nhỏ bán lại cho nhiều đối tượng nghiện; thuê phòng trọ làm địa điểm bán ma túy; quản lý, sử dụng nguồn tiền có được từ thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, tổng số ma túy Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ của Nguyễn Kim L là 202,1965 gam ma túy (gồm: 201,8654 Methamphetamine và 0,3311 gam MDMA).
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo L là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước và gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác, vì vậy cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Số lượng ma túy bị cáo L mua bán lên đến 202,1965 gam (gồm: 201,8654 Methamphetamine và 0,3311 gam MDMA).
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để áp dụng hình phạt cho bị cáo, do đó, mức án tù Chung thân là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Kim L cũng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết nào mới cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 28-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3]. Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim L (X), giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 28-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim L (Linh X) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 39; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim L (Linh X) Tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Kim L phải chịu 200.000 đồng.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tô Ngọc |
| Các thẩm phán | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa | |
| Hoàng Thanh Dũng | Vũ Ngọc Huynh | Phan Tô Ngọc |
Bản án số 1010/2024/HS-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 1010/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
