Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 1010/2025/DS-ST

Ngày: 19/6/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Tình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Thị Diễm Kiều
  2. Bà Đặng Thị Thanh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh N – Kiểm sát viên.

Ngày 19/6/2025 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 570/TLDS-ST ngày 14/3/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3943/2025/QĐXXST-DS ngày 05/5/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 4976/2025/QĐST-DS ngày 28/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
  2. Địa chỉ: 2 N, P. V, Quận C, TP .

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1973

    Địa chỉ: 2 N, P. V, Quận C, TP .

    (Ông T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

  3. Bị đơn: Ông Lê Trung K, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: A K, P. L, TP ., TP ., TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/12/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Minh T trình bày:

Ngày 17/08/2022 ông K có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông K, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum Cashback với hạn mức sử dụng là 60.000.000 đồng. Đến ngày 04/10/2022 ông K thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 (viết tắt là S1) với số tiền giải ngân là 60.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

- Đối với thẻ tín dụng V – 2136. Sau khi được cấp tín dụng ông K đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 81.431.473 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ ông K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 64.667.819 đồng và ngưng không thực hiện từ ngày 09/6/2023 cho tới nay. Tính đến ngày 19/06/2025, thẻ tín dụng V - 2136 của ông K còn nợ tổng số

tiền 42.036.269 đồng (trong đó nợ gốc là 21.842.299 đồng; lãi quá hạn là 20.193.970 đồng)

- Đối với khoản vay tiêu dùng S1 giải ngân qua số tài khoản 3376687079. Từ ngày giải ngân số tiền 44.000.000 đồng đến nay ông K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 5.410.74 đồ ng và ngưng không thực hiện kể từ ngày 26/05/2023. Tính đến ngày 19/06/2025, khoản vay S1 Pay 3376687079 của ông K còn nợ tổng số tiền 68.658.638 đồng (trong đó nợ gốc là 3.293.326 đồng; lãi quá hạn là 25.365.312 đồng)

Ngân hàng đã yêu cầu ông K có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông K vẫn không thực hiện; vì vậy Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:

Buộc ông Lê Trung K phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/06/2025 là 110.694.907 đồng (trong đó nợ gốc là 65.135.625 đồng; lãi quá hạn là 45.559.282 đồng.

Kể từ ngày 20/06/2025 tiền lãi tiếp tục phát sinh đối với thẻ tín dụng V 436438 - 2136 và khoản vay S1 3376687079 cho đến khi ông K thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn ông Lê Trung K (vắng mặt không có lời khai).

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, TP . tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và diễn biến tại phiên tòa đã được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật; về thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự; tuy nhiên Tòa án có vi phạm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Lê Trung K có địa tại số A K, P. L, TP ., TP ., TP .; có cư trú tại địa chỉ trên từ năm 2021 đến năm 2023 đi đâu không thông báo nơi cư trú mới cho Ngân hàng và cơ quan Nhà nước biết, nên thuộc trường hợp ông K dấu địa chỉ nên Tòa án giải quyết theo thủ tục chung; nên thẩm quyền giải quyết vụ án này theo trình tự thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; được pháp luật quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 06/12/2024 và tài liệu, chứng cứ kèm theo của Ngân hàng TMCP S, thì vụ án có quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về hợp đồng dân sự về hợp đồng vay tài sản được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3]. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S ủy quyền cho ông Nguyễn Minh T tham gia tố tụng và được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là phù hợp với quy

định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận

[1.4]. Bị đơn ông Lê Trung K đã được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như. Thông báo thụ lý; giấy triệu tập đương sự; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng ông K không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do, coi như đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông K là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu của nguyên đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 110.694.907đồng (trong đó tiền gốc là 65.135.625 đồng và tiền lãi quá hạn là 45.559.282). Kể từ ngày 20/6/2025 tiền lãi tiếp tục phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi ông K thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.

[2.1]. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ lời khai của phía nguyên đơn và bản tóm tắt sao kê, căn cứ hồ sơ đề nghị cấp thẻ tín dụng của bị đơn do nguyên đơn cung cấp để xác định bị đơn đã nhận thẻ tín dụng và thực hiện giao dịch, bị đơn đã có giao dịch bằng thẻ tín dụng nhiều lần với tổng số tiền cụ thể như sau:

  • - Đối với thẻ tín dụng V – 2136; sau khi được cấp tín dụng ông K đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 81.431.473 đồng và thanh toán cho ngân hàng được số tiền 64.667.819 đồng trong thời gian từ ngày 17/8/2022 đến ngày 09/6/2023
  • - Đối với Khoản vay tiêu dùng S1 giải ngân qua số tài khoản 3376687079; sau khi giải ngân số tiền 44.000.000 đồng đến nay ông K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 5.410.674 đồng trong thời gian từ ngày 04/10/2022 đến ngày 26/5/2023

[2.2]. Căn cứ lời khai của phía nguyên đơn cùng giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/8/2022, do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định bị đơn có đề nghị nguyên đơn cấp thẻ tín dụng hạn mức 60.000.000 đồng. Sau khi xem xét nguyện vọng, điều kiện của bị đơn, Ngân hàng đã phê duyệt đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức tín dụng là 60.000.000 đồng cho bị đơn. Sau các lần giao dịch, từ ngày 17/8/2022 đến ngày 09/6/2023 bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 64.667.819 đồng; trong số tiền bị đơn thanh toán, nguyên đơn đã trừ vào các khoản phí và lãi suất phát sinh, số tiền dư nợ gốc của bị đơn còn lại là 21.842.299 đồng.

Căn cứ lời khai của phía nguyên đơn cùng bản điều khoản và điều kiện sử dụng úng dụng S1 pay giải ngân qua số tài khoản 3376687079 do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định bị đơn có đề nghị nguyên đơn giải ngân số tiền 44.000.000 đồng. Sau khi xem xét nguyện vọng, điều kiện của bị đơn, Ngân hàng đã giải ngân cho ông K số tiền 44.000.000 đồng cho bị đơn. Sau các lần giao dịch, từ ngày 04/10/2022 đến ngày 26/5/2023 bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 5.410.674 đồng; trong số tiền bị đơn thanh toán, nguyên đơn đã trừ vào các khoản phí và lãi suất phát sinh, số tiền dư nợ gốc của bị đơn còn lại là 43.293.326 đồng

[2.3]. Xét, do bị đơn đã giao dịch vượt quá hạn mức và vi phạm về thời gian thanh toán nên nguyên đơn đã chuyển số tiền gốc của thẻ tín dụng là 21.842.299 đồng thành nợ quá hạn và yêu cầu bị đơn phải thanh toán 20.193.970 đồng tiền lãi suất quá hạn từ ngày 17/8/2022 cho đến ngày 19/6/2025; tổng cộng số tiền 42.036.269 đồng đối với thẻ tín dụng là phù hợp với quy định tại mục 22, 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Đối với bản điều khoản và điều kiện sử dụng úng

dụng S1 pay giải ngân qua số tài khoản 3376687079 nguyên đơn đã chuyển số tiền gốc là 43.293.326 đồng thành nợ quá hạn và yêu cầu bị đơn thanh toán 25.365.321 đồng tiền lãi quá hạn từ ngày 04/10/2022 đến ngày 26/5/2023 là phù hợp với quy định tại Điều 5 của bản điều khoản và điều kiện sử dụng úng dụng S1 pay của Ngân hàng; như vậy việc vay nợ giữa Ngân hàng và ông K là có thật, sự thỏa thuận các nội dung của đương sự được ghi trong hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó lỗi vi phạp hợp đồng vay thuộc về ông K, kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Căn cứ vào Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc đòi nợ của Ngân hàng là có căn cứ, được chấp nhận.

[2.4]. Về ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu về việc giải quyết vụ án là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và đúng luật, nên được chấp nhận.

[3.] Về án phí dân sự sơ thẩm: 5.534.745 đồng ông Lê Trung K phải chịu; hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
  • Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng TMCP S tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể:

Buộc ông Lê Trung K phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền vay tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 110.694.907 đồng (trong đó số tiền gốc là 65.135.625 đồng và tiền lãi quá hạn là 45.559.282 đồng) cụ thể như sau:

  • - Đối với thẻ tín dụng V – 2136; số tiền vay tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 42.036.269 đồng (trong đó số tiền gốc là 21.842.299 đồng và tiền lãi quá hạn là 20.193.970 đồng)
  • - Đối với khoản vay tiêu dùng S1 giải ngân qua số tài khoản 3376687079; số tiền vay tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 68.658.638 đồng (trong đó số tiền gốc là 43.293.326 đồng và tiền lãi quá hạn là 25.365.312 đồng)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Lê Trung K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng xử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 5.534.745 đồng ông Lê Trung K phải chịu; hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 2.330.635 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0083729 ngày 12/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền

kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

4. Quyền yêu cầu Thi hành án: “Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Công Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1010/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 1010/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng: - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể: Buộc ông Lê Trung Kiên phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền vay tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 110.694.907 đồng (trong đó số tiền gốc là 65.135.625 đồng và tiền lãi quá hạn là 45.559.282 đồng) cụ thể như sau: - Đối với thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum Cashback 436438 – 2136; số tiền vay tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 42.036.269 đồng (trong đó số tiền gốc là 21.842.299 đồng và tiền lãi quá hạn là 20.193.970 đồng) - Đối với khoản vay tiêu dùng Sacombank Pay giải ngân qua số tài khoản 3376687079; số tiền vay tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 68.658.638 đồng (trong đó số tiền gốc là 43.293.326 đồng và tiền lãi quá hạn là 25.365.312 đồng) Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Lê Trung Kiên còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng xử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 5.534.745 đồng ông Lê Trung Kiên phải chịu; hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền 2.330.635 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0083729 ngày 12/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger