|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31/7/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc
Các hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài và ông Nguyễn Đình Quang
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Lương- Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 185/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1985.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ H, khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Đường C, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Hoàng H, sinh năm 1978.
Nơi đăng ký thường trú: khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Đường C, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu và lời khai trong hồ sơ, thì thấy nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ L trình bày: Bà và ông Lê Hoàng H tự nguyện thương yêu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 27/10/2009. Vợ chồng có 03 con chung là Lê Hoàng Quốc B, sinh ngày 19/01/2012, Lê Ngọc Bảo C, sinh ngày 05/7/2017 và Lê Ngọc Bảo Y, sinh ngày 01/3/2020.
Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do ông H không quan tâm, chăm lo cho gia đình, vợ con, một mình bà phải lo lắng, chăm lo cho gia đình, bà đã nhiều lần khuyên bảo nhưng ông H không thay đổi mà còn không tôn trọng bà. Mâu thuẫn này đã xảy ra từ lâu, bà và ông H sống cùng nhà nhưng ly thân 02 năm nay, việc ai người đó làm, tiền ai người đó tiêu, ăn uống sinh hoạt riêng. Bà không còn tình cảm, sự quan tâm, chia sẽ, chăm sóc cho ông H nữa. năm 2023 bà đã nộp đơn lên Tòa án giải quyết ly hôn, sau đó rút đơn cho ông H cơ hội nhưng mâu thuẫn không thể nào khắc phục được. nay bà kiên quyết yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng H. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con Lê Hoàng Quốc B, sinh ngày 19/01/2012, Lê Ngọc Bảo C, sinh ngày 05/7/2017 và Lê Ngọc Bảo Y, sinh ngày 01/3/2020, vì từ trước đến nay các con đều do bà chăm sóc, nuôi dưỡng là chính. Bà yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng cho một con là 1.000.000 đồng để cùng bà chăm lo cho các con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có.
Theo bản tự khai, lời trình bày của bị đơn ông Lê Hoàng H tại phiên Tòa cũng như trong quá trình chuẩn bị xét xử thì thấy: Về quá trình kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung ông thống nhất với lời trình bày của bà L trình là đúng sự thật.
Về mâu thuẫn vợ chồng, ông thừa nhận trước đây ông có ích kỷ, không quan tâm vợ con, nhưng sau nay ông đã nhân ra lỗi của mình và khắc phục rồi. Ông mong muốn bà L cho ông cơ hội để sửa chữa lỗi lầm của mình. Thực tế hiện nay ông và bà L sinh hoạt, nấu ăn riêng do ông đưa tiền nhưng bà L không chịu nhận để nấu cơm cho ông. Ông đã nhờ gia đình, hàng xóm và cha xứ đến hòa giải nhưng bà L không chịu, bà L tránh né, không nòi chuyện với ông. Nay, ông không đồng ý ly hôn với bà L vì vẫn còn thương vợ, nếu vợ chồng ly hôn sẽ ảnh hướng đến các con và bản thân ông là người có đạo nên không được phép ly hôn.
Trường hợp ông và bà L ly hôn, ông đồng ý để bà L được trực tiếp nuôi 03 con chung là Lê Hoàng Quốc B, sinh ngày 19/01/2012, Lê Ngọc Bảo C, sinh ngày 05/7/2017 và Lê Ngọc Bảo Y, sinh ngày 01/3/2020, ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi con cho bà L với mức cấp dưỡng hàng tháng cho một con là 1.000.000 đồng. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà Trần Thị Mỹ L được ly hôn với ông Lê Hoàng H; Về con chung giao 03 cháu là Lê Hoàng Quốc B, sinh ngày 19/01/2012, Lê Ngọc Bảo C, sinh ngày 05/7/2017 và Lê Ngọc Bảo Y, sinh ngày 01/3/2020 cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H phải cấp dưỡng nuôi con cho bà L với mức cấp dưỡng hàng tháng cho 01 con là 1.000.000 đồng. Tài sản chung các đương sự không yêu cầu, nợ chung không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu của bà L là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” với ông Lê Hoàng H, sinh năm 1978, nơi cư trú: Đường C, ấp T, xã B, huyện T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình làm việc tại Tòa án, ông Lê Hoàng H có mặt và trình bày đang sinh sống tại địa chỉ: Đường C, ấp T, xã B, huyện T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
[2] Về nội dung vụ án: Xét các yêu cầu của bà L:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn: Bà L và ông H tự nguyên kết hôn, có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã X, thị xã L (nay là phường X, Tp L), tỉnh Đồng Nai vào ngày 27/10/2009 theo đúng quy định tại điều 11, 12 Luật hôn nhân & gia đình năm 2000, không vi phạm điều kiện kết hôn và trường hợp cấm kết hôn quy định tại điều 9, 10 Luật hôn nhân & gia đình năm 2000, nên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét mâu thuẫn giữa bà L và ông H thì thấy: Thực tế quá trình chung sống giữa ông H và bà L đã phát sinh mâu thuẫn vì ông H và bà L đều thừa nhận giữa ông, bà có xãy ra mâu thuẫn, do ông H vô tâm, không quan tâm gia đình và hiện nay ông, bà ăn uống, sinh hoạt riêng.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên Tòa, Tòa án đã nhiều lần động viên bà L suy nghĩ thật kỹ cho ông H cơ hội để về đoàn tụ vợ chồng nhưng bà L không đồng ý đoàn tụ, kiên quyết xin ly hôn với ông H và trình bày mâu thẫn không thể khắc phục được bà không còn tình cảm, sự quan tâm, chăm sóc cho ông H nữa. Ông H trình bày còn thương vợ không đồng ý ly hôn vì sợ ảnh hưởng đến các con và là người có đạo nên không được phép ly hôn, nhưng ông đã tìm mọi cách để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng không được, tại phiên Tòa ông H không thể động viên bà L về đoàn tụ được.
Từ đó, khẳng định mâu thuẫn giữa bà L và ông H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn, căn cứ điều 56 Luật hôn nhân & gia đình 2014 cần chấp nhận yêu cầu của bà L, cho bà L được ly hôn với ông Lê Hoàng H.
[2.2] Về con chung: Theo trình bày của bà L và ông H cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện, bà L và ông H có 03 con chung là Lê Hoàng Quốc B, sinh ngày 19/01/2012, Lê Ngọc Bảo C, sinh ngày 05/7/2017 và Lê Ngọc Bảo Y, sinh ngày 01/3/2020. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con, ông H đồng ý. Quá trình làm việc cháu B và cháu C đều có nguyện vọng ở với bà L. Do đó, để đảm bảo ý kiến, quyền lợi cho cháu B, cháu C và cháu Y, cần chấp nhận giao cho bà L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 03 con chung.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà L yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi 03 con cho bà L với mức cấp dưỡng hàng tháng cho một con là 1.000.000 đồng. Tại phiên Tòa, ông H đồng ý cấp dưỡng theo yêu cầu của bà L. Nên cần chấp nhận, buộc ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 03 con cho bà L với mức cấp dưỡng hàng tháng cho một con là 1.000.000 đồng.
[2.3] Về tài sản chung: Bà L và ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung: Bà L và ông H bày không có. Do đó HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.4] Về án phí: Bà L phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Ông H phải phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.
[3] Ý kiến nhận định của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 5, 28, 91, 92, 147, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 9, 10,11,12 Luật hôn nhân và gia đình 2000; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 118, 119 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ L được ly hôn với ông Lê Hoàng H.
- Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Mỹ L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 (ba) con chung là Lê Hoàng Quốc B, sinh ngày 19/01/2012, Lê Ngọc Bảo C, sinh ngày 05/7/2017 và Lê Ngọc Bảo Y, sinh ngày 01/3/2020.
Ông Lê Hoàng H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Lê Hoàng Quốc B, Lê Ngọc Bảo C và Lê Ngọc Bảo Y cho bà Trần Thị Mỹ L với mức cấp dưỡng hàng tháng cho một con là 1.000.000 đồng (một triệu đồng), thời gian cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp đến khi cháu Lê Hoàng Quốc B, cháu Lê Ngọc Bảo C, cháu Lê Ngọc Bảo Y đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nuôi sống bản thân.
Không ai được cản trở quyền thăm nom con chung của ông Lê Hoàng H.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền trên, nếu người bị thi hành án chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về tài sản chung: Bà L và ông H không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà L và ông H trình bày không có nợ chung, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Trần Thị Mỹ L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên lai thu số 0006634 ngày 01/3/2024 qua nộp án phí.
Ông Lê Hoàng H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về quyền kháng cáo: Báo cho bà L và ông H biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Phúc |
Bản án số 101/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 101/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn về mâu thuẫn gia đình
