|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày: 30-9-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Thanh Hưng;
Ông Nguyễn Long Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST–HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Thị N, sinh năm 1987 tại Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ F, ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: kinh doanh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; con ông Võ Văn T và bà Hồ Thị P; chồng tên Đặng Bá D và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L, ông Lâm Ngọc Â, ông Võ Văn N1, ông Đặng Bá D, ông Đặng Thanh T1, ông Nguyễn Văn T2, ông Trịnh Văn H, ông Bồ Văn S, ông Trịnh Đình D1; bà Hoàng Thị Lan N2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 9, tháng 10/2018, ông Lâm Ngọc  cùng mẹ là bà Nguyễn Thị L nhận ủy quyền 11 thửa đất (thực tế là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất 11 thửa đất) từ 06 cá nhân gồm: Võ Thị Hồng N3, sinh năm 1982, Lê Thị Kim H1, sinh năm 1962, Nguyễn Văn C, sinh năm 1977, Phan Thị L1, sinh năm 1958, Hồ Ngọc D2, sinh năm 1983, Phạm Văn A, sinh năm 1972 với tổng diện tích: 15.717,3 m² tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, gồm:
- Thửa đất số 904, tờ bản đồ số 24, diện tích: 23.421 m² (Đất trồng cây lâu năm).
- Thửa đất số 905, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.296,1 m² (Đất trồng cây lâu năm).
- Thửa đất số 906, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.153,6 m² (Đất trồng cây lâu năm).
- Thửa đất số 907, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.715,3 m² (Đất trồng cây lâu năm).
- Thửa đất số 908, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.062,8 m² (Đất trồng cây lâu năm).
- Thửa đất số 909, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.125,2 m² (Đất trồng cây lâu năm).
- Thửa đất số 910, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.176,2 m² (Đất trồng cây lâu năm).
- Thửa đất số 911, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.227,1 m² (Đất trồng cây lâu năm).
- Thửa đất số 912, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.432 m² (Đất trồng cây lâu năm).
- Thửa đất số 913, tờ bản đồ số 24, diện tích: 1.468 m² (Đất trồng cây lâu năm).
- Thửa đất số 914, tờ bản đồ số 24, diện tích: 4.061 m² (Đất ở tại nông thôn 400 m², Đất trồng cây lâu năm 3.661 m²).
Ông Â, bà L1 mua 11 thửa đất nêu trên nhằm mục đích xin chủ trương UBND tỉnh phê duyệt cho thành lập dự án Khu dân cư T - B để kinh doanh. Tuy nhiên, khi không thực hiện được dự án, ông Â, bà L1 quyết định chuyển nhượng 11 thửa đất nêu trên để có tiền bồi thường cho người dân đã đồng ý thỏa thuận để nhằm mục đích huy động vốn vào dự án Khu dân cư T - B.
Đến tháng 11/2020, Vũ Thị N cùng chồng là ông Đặng Bá D (làm cán bộ địa chính tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương) biết bà Nguyễn Thị L đang có nhu cầu chuyển nhượng 11 thửa đất nêu trên nên bà Vũ Thị N nhờ ông Đặng Thanh T1, sinh năm 1969 (ông T1 là anh ruột của ông Đặng Bá D) đại diện ký “Giấy đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với bà Nguyễn Thị L để chuyển nhượng lại 11 thửa đất nêu trên của bà Nguyễn Thị L với giá 20.000.000.000 đồng. Mục đích bà N nhờ ông Đặng Thanh T1 đại diện ký Giấy đặt cọc là để thuận lợi trong việc trả giá chuyển nhượng 11 thửa đất nêu trên với bà L.
Theo nội dung thỏa thuận được thể hiện trong “Giấy đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa bà Nguyễn Thị L và ông Đặng Thanh T1, thì bên nhận chuyển nhượng là ông Đặng Thanh T1 sẽ chịu trách nhiệm làm hồ sơ sang tên đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền và nộp các khoản thuế, lệ phí liên quan đến việc chuyển nhượng Quyền sử dụng đất.
Căn cứ “Giấy đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” nêu trên, bà Vũ Thị N đã thanh toán cho bà Nguyễn Thị L số tiền 19.900.000.000 đồng gồm: 14.500.000.000 đồng tiền chuyển khoản và 5.400.000.000 đồng tiền mặt. Đối với số tiền 100.000.000 đồng còn lại, do việc bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L chậm trễ, kéo dài nên bà N không thanh toán. Quá trình thanh toán cụ thể như sau:
- + Ngày 02/11/2020, bà N chuyển khoản số tiền 6.000.000.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng H3 của bà L.
- + Ngày 01/12/2020, bà N tiếp tục chuyển khoản số tiền 5.000.000.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng H3 của bà L.
- + Ngày 05/02/2021, bà N nộp tiền mặt số tiền 3.500.000.000 đồng vào vào số tài khoản ngân hàng H3 của bà L.
- + Ngoài số tiền chuyển khoản nêu trên, bà N đã thanh toán cho bà L số tiền 5.400.000.000 đồng tiền mặt nhưng do thời gian đã lâu, bà N không còn lưu giữ các giấy tờ thể hiện việc thanh toán.
Ngày 13/01/2021, bà Vũ Thị N yêu cầu bà Nguyễn Thị L đến Văn phòng C1 tại khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương để ký Hợp đồng ủy quyền toàn quyền đối với 10 thửa đất gồm các thửa từ 905 đến 914, tờ bản đồ số 24 cho ông Võ Văn N1, sinh năm 1989 (ông N1 là em ruột của bà Vũ Thị N). Thù lao ủy quyền nêu trong Hợp đồng là 500.000 đồng.
Ngày 05/4/2021, bà Vũ Thị N tiếp tục yêu cầu bà Nguyễn Thị L đến Văn phòng C1 để ký Hợp đồng ủy quyền toàn quyền đối với thửa đất số 904 còn lại cho ông Võ Văn N1, thù lao ủy quyền nêu trong hợp đồng là 200.000 đồng. Đồng thời, ông Võ Văn N1 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 11 thửa đất nêu trên cho bà Vũ Thị N. Giá chuyển nhượng trên hợp đồng công chứng là 110.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến ngày 09/04/2021 khi N nhờ N1 nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C1 để trích lục bản vẽ và lập thủ tục sang tên cho N thì được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C1 thông báo toàn bộ 11 thửa đất nhận chuyển nhượng của bà L đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh B tạm ngừng giao dịch do liên quan đến vụ việc có dấu hiệu tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên ông N1 và N đã ký Hợp đồng hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 11 thửa đất nêu trên.
Khoảng tháng 6/2021, sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh B hủy bỏ việc tạm ngừng giao dịch các thửa đất, do cần tiền để đầu tư bất động sản nên N tìm người môi giới để bán một nửa thửa đất mua của bà L tại xã T. Thông qua Đ, L2 (không rõ họ tên, địa chỉ) biết được Bồ Sĩ H2, Nguyễn Văn T2, Trịnh Văn H đang có nhu cầu mua đất nên N đã thỏa thuận, chuyển nhượng đất cho 03 cá nhân nêu trên. Sau đó, N yêu cầu ông Võ Văn N1 liên hệ với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C1 để làm thủ tục tách thửa đối với 07 thửa đất gồm các thửa từ 904 đến 910, tờ bản đồ số 24 thành 26 thửa nhỏ (gồm các thửa mới từ 1343 đến 1368). Riêng 04 thửa từ 911 đến 914 tờ bản đồ số 24 được giữ nguyên.
Ngày 30/6/2021, dưới yêu cầu của N, ông Võ Văn N1 thỏa thuận chuyển nhượng 30 thửa đất sau khi đã tách thửa nêu trên cho 04 cá nhân gồm: Vũ Thị N; Bồ Văn S, sinh năm 1994; Trịnh Văn H, sinh năm 1991; Nguyễn Văn T2, sinh năm 1989.
Ngày 30/6/2021, ông Võ Văn N1 ký 16 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng tại Văn phòng C1 cho Vũ Thị N để chuyển nhượng 16 thửa đất (gồm các thửa: 1343, 1346, 1358, 1356, 1357, 1361, 1362, 1363, 1365, 1366, 1367, 1368, 911, 912, 913, 914). Giá chuyển nhượng ghi trên mỗi hợp đồng là 10.000.000 đồng.
Ngày 30/6/2021, ông Võ Văn N1 ký 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng tại Văn phòng C1 cho Vũ Thị N để chuyển nhượng thửa đất số 1353. Giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 2.000.000 đồng.
Ngày 30/6/2021, ông Võ Văn N1 ký 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng tại Văn phòng C1 cho ông Nguyễn Văn T2 để chuyển nhượng thửa đất số 1350, tờ bản đố số 24. Giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 2.000.000 đồng. Cùng ngày, ông Võ Văn N1 ký 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng tại Văn phòng C1 cho ông Nguyễn Văn T2 để chuyển nhượng 02 thửa đất (gồm các thửa: 1344, 1347). Giá chuyển nhượng ghi trên mỗi hợp đồng là 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, thực tế ông Nguyễn Văn T2 nhận chuyển nhượng thửa đất số 1370, tờ bản đồ số 24 từ bà Vũ Thị N với giá trị chuyển nhượng là 2.500.000.000 đồng, hình thức thanh toán bằng tiền mặt, theo thỏa thuận thì trách nhiệm thực hiện các thủ tục đăng ký biến động đất đai và kê khai nộp thuế, lệ phí do bà Vũ Thị N thực hiện. Hiện nay thửa đất nêu trên đã được ông T2 chuyển nhượng lại với giá 3.100.000.000 đồng.
Ngày 30/6/2021, ông Võ Văn N1 ký 04 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng tại Văn phòng C1 cho ông Trịnh Văn H để chuyển nhượng 04 thửa đất (gồm các thửa: 1348, 1351, 1354, 1359). Giá chuyển nhượng ghi trên mỗi hợp đồng là 10.000.000 đồng. Cùng ngày, ông Võ Văn N1 ký 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng tại Văn phòng C1 cho ông Trịnh Văn H để chuyển nhượng thửa đất số 1345, tờ bản đồ số 24. Giá chuyển nhượng ghi trên mỗi hợp đồng là 2.000.000 đồng. Tuy nhiên, thực tế ông Trịnh Văn H nhận chuyển nhượng thửa đất số 1371, tờ bản đồ số 24 từ bà Vũ Thị N với giá trị chuyển nhượng là 2.500.000.000 đồng, hình thức thanh toán bằng tiền mặt và chuyển khoản, theo thỏa thuận thì trách nhiệm thực hiện các thủ tục đăng ký biến động đất đai và kê khai nộp thuế, lệ phí do bà Vũ Thị N thực hiện. Hiện nay thửa đất nêu trên đã được ông H bán lại với giá 3.260.000.000 đồng. Qua làm việc, H và T2 khai nhận: do có nhu cầu mua đất để đầu tư kiếm lời nên nhờ ông Trịnh Đình D1 (là cậu của H, T2) tìm đất để mua. Qua mối quan hệ xã hội, D1 biết Hoàng Thị Lan N2 có đất bán nên liên hệ với N2, qua trao đổi và đi xem vị trí đất bà N2 cho biết đất trên là của Vũ Thị N. Sau khi giao dịch mua bán kết thúc, do T2, H là cháu nên D1 không nhận thù lao từ việc môi giới đất. Việc chuẩn bị hợp đồng chuyển nhượng để H, T2 ký tên do bên bán là người chuẩn bị.
Ngày 30/6/2021, ông Võ Văn N1 ký 04 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng tại Văn phòng C1 cho ông Bồ Văn S để chuyển nhượng 04 thửa đất (gồm các thửa: 1352, 1355, 1360, 1364). Giá chuyển nhượng ghi trên mỗi hợp đồng là 10.000.000 đồng. Cùng ngày, ông Võ Văn N1 ký 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng tại Văn phòng C1 cho ông Bồ Văn S để chuyển nhượng thửa đất số 1349, tờ bản đồ số 24. Giá chuyển nhượng ghi trên mỗi hợp đồng là 2.000.000 đồng. Thực tế, Bồ Văn S nhận chuyển nhượng thửa đất số 1372, tờ bản đồ số 24 từ bà Vũ Thị N với giá trị chuyển nhượng là 2.350.000.000 đồng, hình thức thanh toán bằng tiền mặt, theo thỏa thuận thì trách nhiệm thực hiện các thủ tục đăng ký biến động đất đai và kê khai nộp thuế, lệ phí do bà Vũ Thị N thực hiện. Hiện nay thửa đất nêu trên đang được ông S quản lý, sử dụng. Qua làm việc, S khai nhận do có nhu cầu mua đất để đầu tư kinh doanh nên liên hệ với Hoàng Thị Lan N2 để tìm kiếm mua đất. Sĩ đặt cọc và thanh toán việc mua bán thửa đất trên cho N2, ngày 30/6/2021 S trực tiếp ký 05 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng với ông Võ Văn N1, việc soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng S không rõ ai là người chuẩn bị.
Qua làm việc, Hoàng Thị Lan N2 khai nhận: bà N2 làm nghề môi giới bất động sản, do có khách tìm mua đất ở T, qua tìm kiếm N2 biết N có đất tại T đang phân lô, tách thửa nên N2 liên hệ với N thì được N cho biết các thửa đất phân lô, tách thửa N đã bán hết cho khách với hình thức đặt cọc. Thấy vậy, bà N2 nhờ N liên hệ với khách đã đặt cọc mua đất về việc có người cần mua lại nên N giới thiệu N2 cho Nguyễn Văn Đ (không rõ họ tên, địa chỉ) là người đã đặt cọc mua lại của N 03 thửa đất với diện tích mỗi thửa khoảng hơn 1.000 m². Sau đó, N2 liên hệ với Đ, Đ đồng ý bán lại 03 thửa đất nêu trên. Quá trình đặt cọc các thửa đất trên, do ông Đ không có mặt, nên N2 đứng ra nhận tiền cọc thay cho Đ sau đó chuyển lại cho N để N trao đổi, giải quyết với Đ. Số tiền còn lại người mua sẽ thanh toán trực tiếp cho N tại Văn phòng C2 ký hợp đồng chuyển nhượng có công chứng. Theo thỏa thuận, sau khi giao dịch xong, Đ sẽ trả cho N2 phí môi giới đất. Tuy nhiên, do Đ giới thiệu cho N2 bán một thửa đất khác nên Đ không trả tiền môi giới đất cho N2 nữa.
Như vậy, ông Võ Văn N1 với tư cách là người nhận ủy quyền đã chuyển nhượng 30 thửa đất tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương cho 04 cá nhân nêu trên với giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng tổng cộng là 268.000.000 đồng.
Đầu tháng 7/2021, ông Võ Văn N1 liên hệ với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C1 để làm thủ tục hợp thửa đối với các thửa đất đã chuyển nhượng nêu trên thành các thửa đất như sau:
- + Bà Vũ Thị N nhận chuyển nhượng thửa đất số 1369 (được hợp thửa từ 12 thửa đất 1343, 1346, 1358, 1357, 1362, 1363, 1366, 1368, 911, 912, 913, 914) và thửa đất số 1373 (được hợp thửa từ 05 thửa đất 1353, 1356, 1361, 1365, 1367).
- + Ông Nguyễn Văn T2 nhận chuyển nhượng thửa đất số 1370 (được hợp thửa từ 03 thửa đất 1344, 1347, 1350).
- + Ông Trịnh Văn H nhận chuyển nhượng thửa đất số 1371 (được hợp thửa từ 05 thửa đất 1345, 1348, 1351, 1354, 1359).
- + Ông Bồ Văn S nhận chuyển nhượng thửa đất số 1372 (được hợp thửa từ 05 thửa đất 1349, 1352, 1355, 1360, 1364).
Bà Nguyễn Thị L xác định đã nhận đủ số tiền 19.900.000.000 đồng từ bà Vũ Thị N và thực hiện việc ký kết Hợp đồng ủy quyền toàn quyền cho ông Võ Văn N1 theo yêu cầu của bà Vũ Thị N. Theo thỏa thuận, việc đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền và nộp các khoản thuế, lệ phí liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất do bà N chịu trách nhiệm thực hiện, bà L không nộp bất kỳ khoản thuế, lệ phí nào.
Quá trình điều tra Vũ Thị N thừa nhận: N là người trực tiếp trao đổi, thỏa thuận việc nhận chuyển nhượng của bà L 11 thửa đất với giá thanh toán thực tế là 19.900.000.000 đồng thông qua việc ký Hợp đồng ủy quyền cho ông Võ Văn N1. Mục đích của việc ký Hợp đồng ủy quyền nhằm thay thế cho Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Vũ Thị N và bà Nguyễn Thị L. Việc đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền và nộp các khoản thuế, lệ phí liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất do bên nhận chuyển nhượng là bà N chịu trách nhiệm thực hiện. Tuy nhiên, bà N không thực hiện việc kê khai nộp thuế, lệ phí có liên quan nội dung thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng 11 thửa đất tại xã T với bà Nguyễn Thị L mà chỉ thực hiện việc kê khai nộp thuế, lệ phí liên quan giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Võ Văn N1 sang 04 cá nhân (N, T2, H, S) nêu trên.
Sao kê tài khoản ngân hàng của bà Nguyễn Thị L tại Ngân hàng TMCP P1 – Phòng G xác định:
- + Ngày 02/11/2020, bà Vũ Thị N chuyển khoản vào số tài khoản H4 của bà L số tiền 6.000.000.000 đồng.
- + Ngày 01/12/2020, bà Vũ Thị N chuyển khoản vào số tài khoản H4 của bà L số tiền 5.000.000.000 đồng trong 03 lần.
- + Ngày 05/02/2021, bà Vũ Thị N nộp tiền mặt tại Ngân hàng H5 vào số tài khoản H4 của bà L số tiền 3.500.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền ghi nhận đã thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản cá nhân của bà Nguyễn Thị L là 14.500.000.000 đồng.
Tiến hành xác minh tại Chi cục thuế khu vực B, xác định: ngày 09/11/2021, Chi cục thuế có các Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ nhà, đất cho các cá nhân liên quan, cụ thể:
- + Đối với thửa đất số 1370, tờ bản đồ số 24, số tiền thuế TNCN phải nộp là: 3.193.770 đồng; số tiền lệ phí trước bạ phải nộp là 798.443 đồng.
- + Đối với thửa đất số 1371, tờ bản đồ số 24, số tiền thuế TNCN phải nộp là: 3.277.220 đồng; số tiền lệ phí trước bạ phải nộp là 819.305 đồng.
- + Đối với thửa đất số 1372, tờ bản đồ số 24, số tiền thuế TNCN phải nộp là: 3.325.630 đồng; số tiền lệ phí trước bạ phải nộp là 831.408 đồng.
- + Đối với thửa đất số 1373, tờ bản đồ số 24, số tiền thuế TNCN phải nộp là: 5.120.290 đồng; số tiền lệ phí trước bạ phải nộp là 1.280.073 đồng.
- + Đối với thửa đất số 1369, tờ bản đồ số 24, số tiền thuế TNCN phải nộp là: 80.767.220 đồng; số tiền lệ phí trước bạ phải nộp là 20.191.805 đồng.
Như vậy, tổng số tiền thuế TNCN phải nộp thông qua việc chuyển nhượng đất tại xã T là 95.684.130 đồng, tổng số tiền lệ phí trước bạ phải nộp là 23.921.034 đồng.
Chi cục thuế khu vực B xác định: ngày 15/11/2021, các cá nhân có liên quan nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất số 1369; 1370; 1371; 1372; 1373 nêu trên đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo thông báo.
Ngày 03/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh B có Quyết định trưng cầu giám định số 506/QĐ-CSKT(Đ3) về việc trưng cầu Cục thuế tỉnh B giám định về thuế.
Ngày 25/9/2023, Chi cục T khu vực B thuộc Cục thuế tỉnh B có Tờ trình số 9990/TTr – CCTKV ngày 25/9/2023 và Kết luận giám định kèm theo xác định: Giao dịch chuyển nhượng bất động sản giữa bà Nguyễn Thị L và bà Vũ Thị N đã hoàn thành nhưng bà Vũ Thị N không tiến hành đến các cơ quan quản lý nhà nước để đăng ký biến động đất đai và hoàn thành nghĩa vụ tài chính của mình. Số thuế TNCN bà Vũ Thị N phải nộp phát sinh là 398.000.000 đồng. Lệ phí trước bạ không phát sinh do chưa đến các Cơ quan thẩm quyền đăng ký biến động đất.
Căn cứ theo Tờ trình số 9990 ngày 25/9/2023 kèm theo Kết luận giám định của Chi cục Thuế khu vực B tại mục 8.2, 8.3, 8.4 kết luận:
Mục (8.2). Trường hợp chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị L (thực chất là bà Vũ Thị N) cho ông Nguyễn văn T2 thửa đất số 1370, tờ bản đồ 24, tọa lạc tại xã T. Theo kết quả xác định nghĩa vụ tài chính qua giao dịch chuyển nhượng bất động sản tại điểm (6.2) như trên. Trong hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ Có qui định bên chuyển nhượng chịu trách nhiệm nộp thuế. Và tại biên bản lấy lời khai ngày 29/6/2023 đối với ông Nguyễn Văn T2, biên bản lấy lời khai của ông Võ Văn N1 ngày 30/6/2023 thì trong giao dịch bất động sản này bà Vũ Thị N phải chịu trách nhiệm nộp thuế và lệ phí trước bạ. Theo biên bản làm việc ngày 12/7/2023 giữa Bộ phận một cửa B và Cơ quan cảnh sát điều tra, mặc dù bà Nguyễn Thị L đã kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân và ông Nguyễn Văn T2 đã kê khai nộp lệ phí trước bạ nhưng nếu tính đúng theo giá giao dịch trên thị trường thì số thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ đã kê khai sai dẫn đến thiếu tiền thuế phải nộp và chưa nộp đủ vào ngân sách nhà nước với số thuế là 58.507.787 đồng.
Mục (8.3). Trường hợp của chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị L (thực chất là bà Vũ Thị N) cho ông Trịnh Văn H thửa đất số 1371, tờ bản đồ 24, tọa lạc tại xã T. Theo kết quả xác định nghĩa vụ tài chính qua giao dịch chuyển nhượng bất động sản tại điểm (6.3) như trên. Trong hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ Có qui định bên chuyển nhượng chịu trách nhiệm nộp thuế. Và tại biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2023 đối với ông Trịnh Văn H, biên bản lấy lời khai của ông Võ Văn N1 ngày 30/6/2023 thì trong giao dịch bất động sản này bà Vũ Thị N phải chịu trách nhiệm nộp thuế và lệ phí trước bạ. Theo biên bản lảm việc ngày 12/7/2023 giữa Bộ phận một cửa Bàu Bàng và Cơ quan cảnh sát điều tra, mặc dù bà Nguyễn Thị L đã kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân và ông Nguyễn Văn T2 đã kê khai nộp lệ phí trước bạ nhưng nếu tính đúng theo giá giao dịch trên thị trường thì số thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ đã kê khai sai dẩn đến thiếu tiền thuế phải nộp và và chưa nộp đủ vào ngân sách nhà nước với số thuế là 58.403.475 đồng.
Mục (8.4). Trường hợp của chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị L (thực chất là bà Vũ Thị N) cho ông Bồ Văn S1 thửa đất số 1372, tờ bản đồ 24, tọa lạc tại xã T. Theo kết quả xác định nghĩa vụ tài chính qua giao dịch chuyển nhượng bất động sản tại điểm (6.4) như trên. Trong hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ Có qui định bên chuyển nhượng chịu trách nhiệm nộp thuế. Và tại biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2023 đối với ông Trịnh Văn H, biên bản lấy lời khai của ông Võ Văn N1 ngày 30/6/2023 thì trong giao dịch bất động sản này bà Vũ Thị N phải chịu trách nhiệm nộp thuế và lệ phí trước bạ. Theo biên bản lảm việc ngày 12/7/2023 giữa Bộ phận một cửa Bàu Bàng và Cơ quan cảnh sát điều tra, mặc dù bà Nguyễn Thị L đã kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân và ông Nguyễn Văn T2 đã kê khai nộp lệ phí trước bạ nhưng nếu tính đúng theo giá giao dịch trên thị trường thì số thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ đã kê khai sai dẫn đến thiếu tiền thuế phải nộp và và chưa nộp đủ vào ngân sách nhà nước với số thuế là 54.592.962 đồng.
Việc Vũ Thị N chuyển nhượng cho các cá nhân gồm ông Nguyễn Văn T2, ông Trịnh Văn H và ông Bồ Văn S với giá trị thấp gồm các thửa 1370, 1371, 1372, tờ bản đồ số 24, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Qua đó đã trốn số tiền thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ mà N phải nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với tổng số tiền là 171.504.224 đồng.
Đối với ông Nguyễn Văn T2, ông Trịnh Văn H và ông Bồ Văn S là các cá nhân nhận chuyển nhượng các thửa đất số 1370, 1371, 1372, tờ bản đồ số 24 thuộc xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương từ N và theo thỏa thuận thì trách nhiệm thực hiện các thủ tục đăng ký biến động đất đai và kê khai nộp thuế, lệ phí do N thực hiện, đồng thời ông T2, ông H và ông S không thỏa thuận với N để ghi thấp giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện trên các hợp đồng chuyển nhượng, việc kê khai số tiền chuyển nhượng trên hợp đồng chuyển nhượng đều do N thực hiện kê khai. Do đó, hành vi của ông T2, ông H và ông S không cấu thành tội “Trốn thuế” theo quy định.
Đối với ông Võ Văn N1 nhận ủy quyền theo yêu cầu của N để thay thế cho Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thực tế ông N1 không nhận thù lao ủy quyền như nội dung thể hiện trên Hợp đồng ủy quyền. Ông N1 là người được N nhờ thực hiện các thủ tục đăng ký biến động đất đai và kê khai nộp thuế, phí, lệ phí thay N và đến nay đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, lệ phí có liên quan. Thực tế ông N1 không chuyển nhượng đất gồm 17 thửa tại xã T cho Vũ Thị N, mục đích của việc ký Hợp đồng là để sang tên đất cho N, việc kê khai số tiền chuyển nhượng trên hợp đồng chuyển nhượng đều do N thực hiện kê khai. Do đó, hành vi của ông N1 không cấu thành tội “Trốn thuế” theo quy định.
Đối với bà Hoàng Thị Lan N2 và ông Trịnh Đình D1 không nhận được chi phí môi giới trong việc môi giới chuyển nhượng các thửa đất số 1370, 1371, 1372, tờ bản đồ số 24 thuộc xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương và việc kê khai số tiền chuyển nhượng trên hợp đồng chuyển nhượng đều do N thực hiện kê khai. Do đó, hành vi của bà N2, ông D1 không cấu thành tội “Trốn thuế” theo quy định.
Đối với ông Đặng Bá D: Bà L xác nhận đã nhận đủ số tiền 19.900.000.000 đồng từ bị cáo Vũ Thị N và không thanh toán số tiền là 300.000.000 đồng tiền môi giới cho ông Đặng Bá D, ông D không nhận được số tiền 300.000.000 đồng từ bà L. Do đó, không đề cập xử lý đối với ông D.
Đối với ông Đặng Thanh T1: Ông T1 được N nhờ đại diện ký “Giấy đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với bà Nguyễn Thị L để mua lại 11 thửa đất nêu trên của bà Nguyễn Thị L với giá 20.000.000.000 đồng (hai mươi tỷ đồng). Mục đích để thuận lợi trong việc trả giá mua, bán 11 thửa đất với bà L. Đồng thời, bà L xác nhận đã nhận đủ số tiền 19.900.000.000 đồng từ N và không thanh toán hay cấn trừ khoản tiền nào khác, bà L không trả cho ông T1 số tiền 200.000.000 đồng tiền làm giấy tờ. Do đó, không đề cập xử lý đối với T1.
Đối với ông Đ do bị cáo N không cung cấp được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, có căn cứ tiến hành xử lý sau.
Cáo trạng số 69/CT–VKSBB ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Vũ Thị N về tội “Trốn thuế” quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 249; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Thị N số tiền từ 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng) đến 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) về tội “Trốn thuế".
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 569.504.224 đồng (năm trăm sáu mươi chín triệu năm trăm lẻ bốn nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng) là tiền bị cáo đã trốn thuế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Bị cáo là người có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân, lệ phí phát sinh từ việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T2, ông Trịnh Văn H và ông Bồ Văn S nhưng bị cáo không thực hiện, với tổng số tiền thuế thu nhập cá nhân đã trốn thuế là 569.504.224 đồng (năm trăm sáu mươi chín triệu năm trăm lẻ bốn nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vây, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến hoạt động quản lý thuế của Nhà nước. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã nộp toàn bộ tiền để khắc phục hậu quả, bị cáo có cha chồng là thương binh, bản thân bị cáo có nhiều đóng góp cho xã hội được nhà nước tặng giấy khen. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phat mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 569.504.224 đồng (năm trăm sáu mươi chín triệu năm trăm lẻ bốn nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng) là tiền bị cáo đã trốn thuế.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điểm b, d Khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị N phạm tội “Trốn thuế”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Thị N số tiền 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng).
- Về biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 569.504.224 đồng (năm trăm sáu mươi chín triệu năm trăm lẻ bốn nghìn hai trăm hai mươi bốn đồng).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
(Thể hiện tại Giấy nộp tiền ngày 01/7/2024 tại Ngân Hàng TMCP N4 – Chi nhánh B1).
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Duy |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự về tội trốn thuế
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trốn thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trốn Thuế
