|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày 30 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Trọng Thực
Ông Nguyễn Văn Xuân
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam Công an tỉnh H tiến hành xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ tên: Đỗ Đức T; sinh năm 2002; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố: Không có; Mẹ: Đỗ Thị Kim T1, sinh năm 1984, Nghề nghiệp: Lao động tự do; A, chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất; Vợ: Đinh Thị G, sinh năm 2002; Con: 01 con, sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Chưa có
- Nhân thân: Ngày 04/11/2019 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 9 tháng cải tạo không giam giữ về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
T bị bắt tạm giam từ ngày 04/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
*Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Vương Thị Thanh N – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Vắng mặt.
*Bị hại: Ông Hứa Văn H, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn T2, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Hứa Văn H ở thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang và anh Đinh Văn N1 ở bản N, xã C, huyện B, tỉnh Sơn La cùng thuê trọ ở thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên để bán thịt lợn. Khoảng 05 giờ ngày 05/9/2021 Đỗ Đức T là bạn của N1 cùng đến giúp N1 và anh Huỳnh m lợn. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, anh N1 bảo T mang thịt lợn về cho bà ngoại của T ở thôn T, xã Đ. Do T không có xe nên T đã hỏi mượn anh H xe để mang thịt về nhà cho bà cho bà ngoại T3 thì anh H đồng ý và giao cho T3 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng đen bạc, biển số 22 B1 – 588.54 (giấy tờ xe đã có sẵn ở trong cốp xe). Đồng thời anh H bảo T3 ‘đi 15 phút rồi về để anh đi có việc. Sau khi nhận được xe của anh H, T3 nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe nói trên. T3 điều khiển xe 22B1 - 588.54 đến cửa hàng C ở Chợ Đ thuộc xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên (do anh Trịnh Văn A ở thôn Đ, xã Đ làm chủ) để cầm cố xe nhưng anh A không nhận cầm cố xe vì đăng ký xe không mang tên T3. Sau đó T3 đặt vấn đề muốn bán chiếc xe nói trên thì anh A gọi điện thoại cho anh Lê Văn T2 ở thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên làm nghề buôn bán xe máy cũ đến cửa hàng cầm đồ của anh A để xem xe. Khi anh T2 đến thì T3 nói với anh T2 là xe của mẹ T3 mua rồi cho T3. Anh T2 kiểm tra đăng ký xe và tin như T3 nói nên đã đồng ý mua chiếc xe máy này với giá 9.000.000 đồng. Anh A đưa bút và mẫu giấy bán xe máy để T3 viết các thông tin trên mẫu giấy bán xe rồi ký ghi rõ họ tên dưới mục người bán. Sau đó anh T2 trả T3 số tiền 9.000.000 đồng thì T3 cầm tiền rồi giao đăng ký xe máy và giấy bán xe máy cho anh T2 giữ. Số tiền 9.000.000 đồng có được từ việc bán chiếc xe máy nêu trên, T3 khai trả nợ cho người nam giới tên O (chưa rõ nhân thân, lai lịch) số tiền 7.000.000 đồng, còn 2.000.000 đồng Tình tiêu xài cá nhân hết. Sau đó T3 bỏ trốn khỏi địa phương. Sau khi không thấy mang xe máy về trả lại cho anh H thì anh N1 đến nhà T3 để tìm và nhiều lần gọi đến số điện thoại của T3 nhưng không liên lạc được.
Đến ngày 09/9/2021, anh N1 và anh H biết tin T3 mang xe của anh H đến cửa hàng cầm đồ An D bán nên anh H đã đến Công an xã L để trình báo. Ngày 15/9/2021 anh Lê Văn T2 đã tự nguyện giao nộp cho công an xã L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc, biển số 22B1 - 588.54 cùng đăng ký xe và 01 giấy bán xe. Sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.
2
Tại Kết luận định giá tài sản số 165 ngày 30/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V đã kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số 22B1 – 588.54 có giá trị là 9.000.000₫.
Ngày 16/12/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Hứa Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số 22B1 - 588.54. Anh Huỳnh nhận lại tài sản không yêu cầu đề nghị gì. Bút lục số: 18 – 23.
Anh Lê Văn T2 khi mua xe mô tô 22B1 - 588.54 của T3, anh A giới thiệu cho anh T2 mua xe của T3 nhưng các anh đều không biết là xe do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý. Đối với số tiền 9.000.000₫ anh T2 bỏ ra để mua xe của bị can T3 đến nay anh yêu cầu bị can T3 phải bồi thường trả anh số tiền trên. Bị can T3 nhất trí bồi thường nhưng chưa có để bồi thường.
Bản cáo trạng số 88/CT-VKS-VL ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Đỗ Đức T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố; Đồng thời đề nghị HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức T phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Đức T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Buộc bị cáo T trả lại cho anh Lê Văn T2 số tiền 9.000.000đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Anh Hứa Văn H đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số 22B1 - 588.54 và không có yêu cầu gì nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
3
XÉT THẤY
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp khách quan với lời khai của người bị hại, của người liên quan...cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung của Bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu và đã có đủ cơ sở kết luận: “Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/9/2021 tại thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Đỗ Đức T đã thực hiện hành vi mượn anh Hứa Văn H chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số 22B1 – 588.54 có trị giá là 9.000.000 đồng. Sau đó chiếm đoạt chiếc xe trên rồi mang đi bán lấy tiền tiêu sài rồi bỏ trốn thì bị phát hiện.”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đã truy tố bị cáo Đỗ Đức T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ; Bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của anh H thông qua hình thức hợp đồng là mượn xe của anh H rồi bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, gây dư luận xấu. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu do đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 9 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần phải nghiêm trị đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và cũng là bài học giáo dục phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
4
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập không ổn định, Hội đồng xét xử sẽ miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Tại quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng đen bạc biển số 22B1 - 588.54 cho anh Hứa Văn H nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Văn T2 mua xe mô tô 22B1 - 588.54 của T với giá 9.000.000đ, anh T2 không biết là tài sản do phạm tội mà có. Nay anh T2 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này nên cần buộc bị cáo trả anh T2 số tiền nói trên.
[6] Tại phiên tòa, quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt và các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận;
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm./.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức T phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 04/6/2024.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự:
Buộc bị cáo Đỗ Đức T trả lại anh Lê Văn T2 số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng chẵn).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đỗ Đức T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 450.000₫ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) án phí trách nhiệm dân sự.
5
Vụ án được xét xử sơ thẩm công khai. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án theo pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nam Thắng |
6
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Nguyễn Nam Thắng |
7
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Đức T phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
