TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 101/2024/KDTM-ST Ngày 30 tháng 7 năm 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hạnh
2. Ông Phạm Quang Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa.
Bà Đào Linh Trang– Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 61/2024/TL – KDTMST ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2024/QÐST - KDTM ngày 04 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2024/QÐST-HPT ngày 20 tháng 7 năm 2022 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V. Địa chỉ trụ sở: Số H L, Phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng Quản trị V1. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A - Chức danh: Phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ KHDN và xử lý nợ pháp lý, theo Văn bản ủy quyền số 58/2023/UQ-HĐQT ngày 12/07/2023 của ông Ngô Chí D. Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phạm Tuấn A - Chức danh: Phó Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ KHDN và xử lý nợ pháp lý, theo Văn bản ủy quyền số 84/2023/UQ-HĐQT ngày 21/12/2023 của ông Ngô Chí D. Theo Hợp đồng ủy quyền số 1438/2023/UQ.VAMC-VPBANK ngày 25/12/2023 giữa VAMC và V1). Ông Phạm Tuấn A ủy quyền lại cho ông Lê Đức L, bà Trần Thị T, ông Trương Công Đ và bà Phạm Thị H theo Văn bản ủy quyền số 27/2024/UQ-VPB ngày 27/3/2024. Bà H có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH C. Mã số doanh nghiệp 010152xxxx, do Phòng đăng kí kinh doanh - Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố H cấp lần đầu ngày 09/08/2004 đăng kí thay đổi lần thứ 9 ngày 29/09/2021. Địa chỉ trụ sở theo đăng ký kinh doanh: Số C, ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Trần Thị Tuyết M - Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Việt H1 theo Giấy ủy quyền số 01/2024/GUQ-TCTD ngày 09/4/2024. 098548xxxx. Ông H1 có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1975. CMND/CCCD: 00117599xxxx do Cục C1 về TTXH cấp ngày09/08/2021. Địa chỉ: Số C, Ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Bà M vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Trần Huỳnh, sinh năm 1938 (đã chết). CMND/CCCD: 01334xxxx do công an thành phố H cấp ngày 07/09/2010. Địa chỉ: Số C, ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần H2: Bà Nguyễn Thị Đ1; bà Trần Thị Tuyết M; ông Trần Thanh B. Địa chỉ: Số C, Ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Bà Đ1, bà M, ông B vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Nguyễn Thị Đặng. CMND/CCCD: 010460xxxx do công an thành phố H cấp ngày 17/02/2004. Địa chỉ: Số C, ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Bà Đ1 vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Trần Thanh B. CMND/CCCD: 01193xxxx do công an thành phố H cấp ngày 089/08/2012. Địa chỉ: Số C, ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Ông B vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Nguyễn Kim H3, sinh năm 1980; cháu Trần Khôi N, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2007 và cháu Trần Bình M1, sinh ngày 01/8/2011. Địa chỉ: Số C, ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật của cháu N và cháu M1: ông Trần Thanh B và bà Nguyễn Thị Kim H4. 0913044065. Bà H4 vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Đ1 và ông Trần Thanh B: Bà Nguyễn Kim H3 theo Giấy ủy quyền ngày 11/5/2024 tại Văn phòng C2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Ngân hàng TMCP V do người đại diện theo ủy
quyền là bà Phạm Thị H trình bày:
Công ty TNHH C vay vốn tại V1 – Chi nhánh H5 theo các hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:
- Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021;Phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023 và các khế ước nhận nợ kèm theo. Hạn mức cho vay: 2,000,000,000 (Hai tỷ đồng). Mục đích sử dụng vốn: Phục vụ hoạt động kinh doanh thiết bị, máy móc. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021; Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022 và Phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023 và các khế ước nhận nợ kèm theo. Hạn mức cho vay: 5,000,000,000 đồng (Năm tỷ đồng). Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn hoạt động kinh doanh thiết bị máy móc; Phát hành bảo lãnh phục vụ kinh soạn; Phát hành LC phục vụ hoạt động kinh doanh. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022; Phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023. Hạn mức cho vay: 2,000,000,000 (Hai tỷ đồng). Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn hoạt động kinh doanh thiết bị máy móc; Phát hành bảo lãnh phục vụ kinh soạn; Phát hành LC phục vụ hoạt động kinh doanh. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 - 188537-01-SME ngày 23/05/2023. Hạn mức cho vay: 10,000,000,000 đồng (Mười tỷ đồng). Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay là: Căn hộ số 10 - Nhà N2 - TTQDDK88 Học viện C3, phường G, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng dất ở số 10101198003 do U cấp ngày 15/10/2004 mang tên ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đ1, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất công chứng số 1129 quyển số 02/2010 ngày 13/09/2010 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/09/2010; Phụ lục Hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 21/05/2018; Phụ lục Hợp đồng số 04/PLHĐ ngày 02/12/2021; Phụ lục Hợp đồng số 05/PLHĐ ngày 21/03/2023.
Biện pháp bảo đảm: Bảo lãnh của cá nhân bà Trần Thị Tuyết M và ông Trần Thanh B, theo đó bà Trần Thị Tuyết M và ông Trần Thanh B đồng ý, bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Bên được bảo lãnh trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phạt, các khoản bồi thường thiệt hại và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của Công ty C theo Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ngày 23/05/2023; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HDBL ngày 27/06/2022; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL/VPBANK-SME ngày 19/11/2021; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL/188537/VPBANK - KINHDO ngày 05/04/2021 của bà Trần Thị Tuyết M và Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBANK - BK ngày 05/04/2021 của ông Trần Thanh B.
V1 đã giải ngân cho công ty C số tiền là ............ đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, công ty C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V1. Tạm tính đến ngày 30/7/2024, công ty C còn nợ V1 số tiền là: Nợ gốc: ............ đồng; Nợ lãi trong hạn:...............; Nợ lãi quá hạn:......... đồng. Tổng cộng: ............ đồng.
Nay Ngân hàng TMCP V đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty C phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022 và và phục lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo tạm tính đến ngày 30/7/2024 số tiền là: Nợ gốc: 5 đồng; Nợ lãi trong hạn: 87.032.633 đồng; Nợ lãi quá hạn: 35.431.588 đồng; Nợ lãi chậm trả: 4.888452 đồng. Tổng cộng: 127.352.677 đồng.
- Buộc Công ty C phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 -188537-01-SME ngày 23/05/2023 và phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo tạm tính đến ngày 30/7/2024 số tiền là: Nợ gốc: 6.279.866.069 đồng; Nợ lãi trong hạn: ..... đồng; Nợ lãi quá hạn: ..... đồng; Nợ lãi chậm trả: .... đồng. Tổng cộng: ........... đồng.
Buộc Công ty C phải tiếp tục chịu lãi và lãi chậm trả theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ kèm theo cho đến ngày Công ty C thực tế thanh toán hết nợ cho V1 và VAMC.
Trường hợp Công ty C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ cho V1 và VAMC, V1 và VAMC có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm là:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Căn hộ S - Nhà N - TTQDDK88 Học viện C3, phường G, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng dất ở số 10101198003 do U cấp ngày 15/10/2004 mang tên ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đ1, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất công chứng số 1129 quyển số 02/2010 ngày 13/09/2010 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/09/2010; Phụ lục Hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 21/05/2018; Phụ lục Hợp đồng số 04/PLHĐ ngày 02/12/2021; Phụ lục Hợp đồng số 05/PLHĐ ngày 21/03/2023.
- Buộc bà Trần Thị Tuyết M và ông Trần Thanh B có nghĩa vụ trả nợ thay Công ty Bách Khoa toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ nêu trên cho V1 theo các Hợp đồng bảo lãnh đã kí, V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mãi tài sản thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bà Trần Thị Tuyết M và ông Trần Thanh B để thu hồi khoản nợ cho V1 Đề nghị Tòa án tuyên: V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mãi các tài sản khác thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Nguyễn Đức N1 để thu hồi khoản nợ cho đến khi công ty C thanh toán hết nợ cho V1 theo thỏa thuận tại các Hợp đồng bảo lãnh đã ký kết với V1.
* Bị đơn: Công ty TNHH C. Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Việt H1 trình bày:
Thay mặt Công ty C, bà M xác nhận, Công ty TNHH C và Ngân hàng TMCP V đã ký các Hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:
Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 -188537-01-SME ngày 23/05/2023; Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022; Phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023;
Nội dung thông tin các khoản vay như sau:
Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021. Hạn mức cho vay: 2,000,000,000 (Hai tỷ đồng); Mục đích sử dụng vốn: Phục vụ hoạt động kinh doanh thiết bị, máy móc. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021. Hạn mức cho vay: 5,000,000,000 đồng (Năm tỷ đồng). Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn hoạt động kinh doanh thiết bị máy móc; Phát hành bảo lãnh phục vụ kinh doanh; Phát hành LC phục vụ hoạt động kinh doanh. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022: Hạn mức cho vay: 2,000,000,000 (Hai tỷ đồng). Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn hoạt động kinh doanh thiết bị máy móc; Phát hành bảo lãnh phục vụ kinh doanh; Phát hành LC phục vụ hoạt động kinh doanh. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 - 188537-01-SME ngày 23/05/2023. Hạn mức cho vay: 10,000,000,000 đồng (Mười tỷ đồng). Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, Công ty đã được Ngân hàng TMCP V giải ngân số tiền theo đúng các hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ kèm theo được ký kết giữa hai bên.
Tài sản để đảm bảo cho khoản vay của công ty tại Ngân hàng bao gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Căn hộ S - Nhà N - TTQDDK88 Học viện C3, phường G, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng dất ở số 10101198003 do U cấp ngày 15/10/2004 mang tên ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đ1, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất công chứng số 1129 quyển số 02/2010 ngày 13/09/2010 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/09/2010; Phụ lục Hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 21/05/2018; Phụ lục Hợp đồng số 04/PLHĐ ngày 02/12/2021; Phụ lục Hợp đồng số 05/PLHĐ ngày 21/03/2023.
Ngoài ra, bà M xác nhận bà và V1 có ký Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ngày 23/05/2023; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ngày 27/6/2022; Hợp đồng bảo lãnh số 0/1HĐBL/VPBANK-SME ngày 19/11/2021; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL/VPBANK – KINHDO ngày 05/4/2021.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Đ1, ông Trần Thanh B: bà Nguyễn Kim H3 trình bày:
Ông Trần Huỳnh 1 bố chồng bà chết ngày 16/6/2023. Ông nội của chồng bà là ông Trần L1 mất năm 1952 và bà nội của chồng bà tên là Lê Thị Huỳnh m năm 1988 và có mộ phần tại huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Bố chồng bà là bộ đội về hưu trước đây công tác tại Học viện C4. Bố mẹ chồng bà có hai người con là bà Trần Thị Tuyết M và ông Trần Thanh B – chồng bà. Ngoài ra, bố mẹ chồng bà không con nuôi hay con riêng nào khác.
Bà là con dâu của ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đặng . Nhà đất tại địa chỉ số C, ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của bố mẹ chồng bà. Sau khi bà và ông Trần Thanh B kết hôn và chuyển về sinh sống tại địa chỉ số C, ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội từ năm 2006 đến nay.
Trong quá trình vợ chồng bà chung sống tại địa chỉ trên đến năm 2020 vợ chồng bà có sửa toàn bộ nhà đất số C, ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội, cụ thể là xây thêm móng ở phần sân tầng 1, xây thêm 1 phần ở phía ngoài của tầng 2 và tầng 3, sơn sửa và xây mới lại. Khi sửa chữa thì vợ chồng bà có thông báo với Ngân hàng TMCP V và được ngân hàng đồng ý. Khi xây dựng vợ chồng cũng được UBND phường G phép xây dựng. Tổng số tiền vợ chồng bà sửa chữa nhà khoảng 2.000.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng: Bà thấy đây là khoản vay của công ty TNHH C. Do hiện nay công ty gặp khó khăn về kinh tế nên đề nghị ngân hàng tạo điều kiện về thời gian cho công ty trả nợ cho ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Thanh B trình bày:
Bố ông là ông Trần H2 (sinh năm 1938), bố ông có thời gian dài là sĩ quan quân đội nên đến năm 1989, gia đình ông được Nhà nước cấp cho Căn hộ 10, nhà
N2 - Tập thể quân đội K, phường G, quận B, thành phố Hà Nội (địa chỉ hiện nay: Số C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội). Gia đình ông nhiều lần sửa sang nhà cửa và sinh sống ổn định tại đó từ thời gian đó đến nay, bản thân ông cũng lấy vợ sinh con ở đây. Đến năm 2010, chị gái ông là bà Trần Thị Tuyết M có nói với bố ông về việc cần vốn kinh doanh và mượn căn hộ trên của bố mẹ ông để thế chấp vay ngân hàng. Do tin tưởng nên bố mẹ ông đã cho bà M mượn nhà để thế chấp vay khoảng 2.000.000.000 đồng, tuy nhiên do việc kinh doanh không tốt nên bà M đã phải liên tục đáo hạn khoản vay dẫn đến số tiền vay nợ tăng dần và hiện đã mắc nợ ngân hàng số tiền đến 7.000.000.000 đồng đến 8.000.000.000 đồng và Ngân hàng đang khởi kiện chị gái ông và gia đình chúng ông ra Tòa án Nhân dân quận Ba Đình.
Hiện nay, toàn bộ gia đình ông gồm mẹ, vợ và các con ông đang sinh sống tại căn hộ trên. Khi bố ông còn sống, vì ông là con trai duy nhất trong nhà, bố mẹ ông dự định sẽ để ông kế thừa việc sử dụng quản lý căn hộ làm nơi sinh sống và thờ cúng. Do vậy, vào năm 2020 sau nhiều năm đi làm hai vợ chồng có tiết kiệm được một khoản tiền nên đã quyết định đập nhà đi để xây lại thành nhà 04 tầng để đảm bảo chỗ ở cho mọi người vì 02 con ông đã lớn. Tổng số tiền vợ chồng ông đã đầu tư xây nhà, lắp đặt nội thất là khoảng gần 2 tỷ đồng. Hiện ông chưa làm đơn yêu cầu độc lập về số tiền vợ chồng ông đầu tư sửa chữa nói trên.
Cuối năm 2022, do sức khỏe của bố ông đã yếu nên bố và mẹ ông đã cùng lập di chúc để lại cho ông toàn bộ nhà đất nêu trên, đến năm 2023 bố ông mất gia đình chúng ông chưa tiến hành khai nhận di sản của bố ông để sang tên hợp pháp cho ông. Năm 2024, phát sinh việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của gia đình ông, trong nhà nảy sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng về việc giải quyết đối với quyền sử dụng đất đang thế chấp.
Để đảm bảo khẳng định hiện nay ông là người sở hữu phần di sản của bố ông là 50% tương đương 1/2 (một phần hai) giá trị quyền sử dụng đất theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở” số 10101198003 do U cấp ngày 15/10/2024.
Nay, ông yêu cầu độc lập với nội dung sau:
- Đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của Di chúc, số công chứng 5776/2022, quyển số 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/12/2022 tại Văn phòng C5 – thành phố Hà Nội;
Trong quá trình thụ lý và giải quyết Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng
cứ và hòa giải của đương sự; Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ; Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Do các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án, vì vậy Tòa án không hòa giải được cho các đương sự.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72; Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 91, 95, 98 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty TNHH C thanh toán cho V1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 là: ............ đồng, trong đó: Nợ gốc: ............ đồng; Nợ lãi trong hạn: ............ đồng; Nợ lãi quá hạn: ............ đồng và lãi phát sinh được thỏa thuận theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022 và và phục lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 - 188537-01-SME ngày 23/05/2023 và phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo cho đến khi công ty C trả hết nợ.
Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất công chứng số 1129 quyển số 02/2010 ngày 13/09/2010 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/09/2010; Phụ lục Hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 21/05/2018; Phụ lục Hợp đồng số 04/PLHĐ ngày 02/12/2021; Phụ lục Hợp đồng số 05/PLHĐ ngày 21/03/2023; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ngày 23/05/2023; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ngày 27/6/2022; Hợp đồng bảo lãnh số 0/1HĐBL/VPBANK-SME ngày 19/11/2021; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL/VPBANK – KINHDO ngày
05/4/2021; Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBANK-BK ngày 05/5/2021 là phù hợp với quy định pháp luật cần được chấp nhận.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Trần Thanh B là chưa đủ căn cứ để khởi
Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm; Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022 và và phục lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 -188537-01-SME ngày 23/05/2023 và phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo được ký giữa V1 với công ty C, mục đích vay: Phục vụ hoạt động kinh doanh thiết bị, máy móc
Bổ sung vốn hoạt động kinh doanh thiết bị máy móc; Phát hành bảo lãnh phục vụ kinh doanh; Phát hành LC phục vụ hoạt động kinh doanh
Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh. Do vậy, xác định đây là tranh chấp kinh doanh thương mại được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Buộc Công ty TNHH C có địa chỉ đăng ký kinh doanh tại số C, ngách C, ngõ F L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội. Do công ty C không thanh toán được khoản nợ cho V1 khi đến hạn trả nợ. Do vậy, V1 đã khởi kiện công ty C đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình, đề nghị Tòa án giải quyết buộc công ty C phải thanh toán trả V1 toàn bộ khoản nợ gốc và lãi phát sinh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu.
Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố;
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Nguyễn Kim H3 không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không có căn cứ để xem xét.
[2] Về nội dung: Căn cứ các Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022 và và phục lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 -188537-01-SME ngày 23/05/2023 và phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022. V1 đã giải ngân cho công ty C tổng số tiền là: ............ đồng thông qua các khế ước nhận nợ kèm theo hợp đồng tín dụng. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, công ty C đã trả cho V1 số tiền cụ thể: Nợ lãi trong hạn: ...... đồng; Lãi: ...... đồng. Tổng cộng: ............ đồng. công ty C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày ............ Vì vậy, V1 đã chuyển toàn bộ nợ của công ty C sang nợ quá hạn theo quy định. Và từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến nay công ty C không trả bất cứ khoản tiền nợ gốc và lãi nào cho V1.
Tại phiên tòa hôm nay, V1 xác nhận công ty C còn nợ V1 số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 là ............ đồng, trong đó: Nợ gốc: ............ đồng; Nợ lãi trong hạn: ............ đồng; Nợ lãi quá hạn: ............ đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy: các Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022 và và phục lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 - 188537-01-SME ngày 23/05/2023 và phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo được các bên ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Trong hợp đồng này, các bên tự nguyện giao kết thực hiện hợp đồng và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung hợp đồng, tại thời điểm ký hợp đồng các bên đều có đầy đủ năng lực về hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội. Do đó, xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên và phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự năm 2015.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME
ngày 27/06/2022 và và phục lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 -188537-01-SME ngày 23/05/2023 và phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo, công ty C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày ............ nên theo Điều ............ của Hợp đồng tín dụng quy định về nghĩa vụ thanh toán, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chuyển nợ quá hạn:
Nay V1 khởi kiện buộc công ty C phải thanh toán cho V1 số tiền còn nợ tính đến ngày 30/7/2024 là ............ đồng, trong đó: Nợ gốc: 3.086.670.386 đồng đồng; Nợ lãi trong hạn: ............ đồng; Nợ lãi quá hạn: ............ đồng.
Xét thấy việc thỏa thuận lãi trong hạn, lãi quá hạn và cách tính lãi trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp là đúng pháp luật và phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, phù hợp với Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên được chấp nhận. Do đó, việc V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán trả V1 số tiền nợ trên là có căn cứ chấp nhận.
[3] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của V1: Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn không thanh toán trả cho V1 nợ gốc và nợ lãi thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thi hành án.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất công chứng số 1129 quyển số 02/2010 ngày 13/09/2010 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/09/2010; Phụ lục Hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 21/05/2018; Phụ lục Hợp đồng số 04/PLHĐ ngày 02/12/2021; Phụ lục Hợp đồng số 05/PLHĐ ngày 21/03/2023 giữa V1 và ông Trần H2, bà Nguyễn Thị Đ1 đã được Văn phòng C6 chứng nhận. Ông H2, bà Đ1 đã đồng ý thế chấp tài sản của mình là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Căn hộ S - Nhà N - TTQDDK88 Học viện C3, phường G, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng dất ở số 10101198003 do U cấp ngày 15/10/2004 mang tên ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đặng đ đảm bảo cho khoản vay của công ty C.
Như vậy, xác định tài sản nêu trên bảo đảm cho khoản vay của công ty C tại V1. Việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện không trái các quy định của pháp luật và đã
được ông H2, bà Đặng đăng k giao dịch bảo đảm ngày 13/9/2020 và được Văn phòng Đ2 xác nhận thế chấp. Việc ông H2, bà Đặng k hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và các bên tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Ông H2, bà Đ1 dùng tài sản của mình để đảm bảo cho khoản vay của công ty C theo Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ngày 23/05/2023; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ngày 27/6/2022; Hợp đồng bảo lãnh số 0/1HĐBL/VPBANK-SME ngày 19/11/2021; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL/VPBANK – KINHDO ngày 05/4/2021; Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBANK-BK ngày 05/5/2021, bên bảo lãnh bà Trần Thị Tuyết M và ông Trần Thanh B đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không huỷ ngang cho Bên được bảo lãnh (Công ty C) trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi các khoản phí, các khoản phạt, các khoản bồi thường thiệt hại và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của bên được bảo lãnh với bên Ngân hàng phát sinh từ tất cả các hợp đồng, văn bản tín dụng khác ký giữa bên bảo lãnh và bên Ngân Hàng bao gồm cả phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, các khế ước nhận nợ và văn bản liên quan là phù hợp với quy định pháp luật nên được cháp nhận
Như vậy, có đủ căn cứ để xác nhận các hợp đồng thế chấp và hợp đồng bảo lãnh nêu trên có giá trị pháp lý. Vì vậy, yêu cầu của V1 đề nghị Tòa án tuyên khi án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu độc lập của ông Trần Thanh B:
- Về mặt hình thức của bản di chúc: Căn cứ Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn: “Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây: 1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc".
Hội đồng xét xử nhận thấy, bản di chúc của ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đ1 được công chứng viên Phùng Tuấn A1 lập và ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị
Đ1 đã ký và điểm chỉ trước mặt công chứng viên. Vì vậy, bản di chúc của ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đ1 đã đáp ứng đúng quy định về mặt hình thức của di chúc lập bằng văn bản.
Căn cứ theo quy định tại Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”
“1.Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện”.
HĐXX nhận thấy, tại thời điểm ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đặng 11 di chúc hoàn toàn minh mẫn, có đủ năng lực trách nhiệm dân sự và di chúc thể hiện ý chí của ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đặng đối v việc để lại di sản thừa kế. Do đó, đối với bản di chúc số công chứng 5776/2022; quyển số 04-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2010 tại Văn phòng C5 là có giá trị pháp luật.
Tại Điều 4 của bản di chúc quy định: “4. Sau khi chúng tôi chết, người nhận di sản sẽ được toàn quyền thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế hoặc khai nhận di sản thừa kế tại Cơ quan công chứng theo Di chúc này để đăng ký sang tên, đứng tên trên Giấy chứng nhận và trở thành chủ sở hữu, sử dụng Toàn bộ nhà đất của chúng tôi nêu trên, có toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ tài sản là Nhà đất nêu trên khi hoàn thành xong thủ tục đăng ký sang tên. Toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc phân chia di sản thừa kế hoặc khai nhận di sản thừa kế và chi phí đăng ký sang tên tại Cơ quan có thẩm quyền sẽ do Người nhận di sản chịu trách nhiệm thanh toán và thực hiện”.
Tại Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015định về Thời điểm, địa điểm mở thừa kế:
“1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.
2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản”.
Như vậy, thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người để lại di chúc chết. Tại bản di chúc thể hiện người lập di chúc là ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đặng. Ông Huỳnh c năm 2023 và bà Nguyễn Thị Đ1 hiện nay vẫn còn sống. Vì vậy, di chúc nêu trên chưa có hiệu lực do chưa đáp ứng đủ điều kiện để phát sinh hiệu lực.
HĐXX nhận thấy, đối với yêu cầu độc lập của ông Trần Thanh B chưa đủ điều kiện để khởi kiện. Vì vậy, dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác khi ông Trần Thanh B có yêu cầu.
[5] Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Kim H3, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Đặng k1 đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm; Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Thanh B không phải chịu án phí do yêu cầu độc lập được chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
- Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
- Vì các căn cứ nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 30; Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 463; Điều 466; Điều 468 Điều 470; Điều 295; Điều 298; Điều 319; Điều 321; Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 127 Luật Đất đai 2003; Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”. Căn cứ Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số:
97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
- Xác nhận Công ty TNHH C còn nợ Ngân hàng TMCP V tổng số tiền còn nợ theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022 và và phục lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 -188537-01-SME ngày 23/05/2023 và phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo, tạm tính đến ngày 30/7/2024 là: ............ đồng, trong đó: Nợ gốc: ............ đồng; Nợ lãi trong hạn: ............ đồng; Nợ lãi quá hạn: ............ đồng.
- Buộc Công ty TNHH C phải trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền còn nợ theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022 và và phục lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 - 188537-01-SME ngày 23/05/2023 và phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo tạm tính đến ngày 30/7/2024 là: là ............ đồng, trong đó: Nợ gốc: ............ đồng; Nợ lãi trong hạn: ............ đồng; Nợ lãi quá hạn: ............ đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc chậm trả cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP V theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại theo các Hợp đồng cho vay hạn mức số 100321-188537-01-SME ngày 05/04/2021; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 240622-188537-01-SME ngày 27/06/2022 và và phục lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 130323 -188537-01-SME ngày 23/05/2023 và phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ ngày 10/06/2023; Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 191121-188537-01-SME ngày 19/11/2021 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/12/2022 cùng các Khế ước nhận nợ kèm theo hai bên đã ký.
Trường hợp hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của nguyên đơn cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn cho vay.
2. Trường hợp Công ty TNHH C không trả được nợ, Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại: Căn hộ S - Nhà N - TTQDDK88 Học viện C3, phường G, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng dất ở số 10101198003 do U cấp ngày 15/10/2004 mang tên ông Trần H2 và bà Nguyễn Thị Đ1, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất công chứng số 1129 quyển số 02/2010 ngày 13/09/2010 và Phụ lục Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 09/09/2010; Phụ lục Hợp đồng số 02/PLHĐ ngày 21/05/2018; Phụ lục Hợp đồng số 04/PLHĐ ngày 02/12/2021; Phụ lục Hợp đồng số 05/PLHĐ ngày 21/03/2023.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu có dư Ngân hàng TMCP V phải trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền còn thiếu.
- Đồng thời buộc bà Trần Thị Tuyết M và ông Trần Thanh B thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ngày 23/05/2023; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL ngày 27/6/2022; Hợp đồng bảo lãnh số 0/1HĐBL/VPBANK-SME ngày 19/11/2021; Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL/VPBANK – KINHDO ngày 05/4/2021; Hợp đồng bảo lãnh số 02/HĐBL/VPBANK-BK ngày 05/5/2021.
3.
4. Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đưa ra yêu cầu độc lập nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
5. Về án phí sơ thẩm:
- Công ty TNHH C phải chịu ............................ đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm (chưa nộp).
- Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm
và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là ............ đồng theo biên lai thu số ............ ngày ..... tháng .... năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 30 tháng 7 năm 2024. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngời kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần H2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhung |
Bản án số 101/2024/KDTM-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 101/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
