|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2024/DS-ST.
Ngày: 30-7-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Mi Mi
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đặng Văn Minh
- Ông Nguyễn Thanh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 130/2024/TLST – DS ngày 10 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-DS ngày 24/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2024/QĐST-DS ngày 12/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ: B - 268 Đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Trụ sở chi nhánh: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng Thương mại cổ phần S: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Đức Thạch D: Ông Nguyễn Đắc H – Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh B. Theo quyết định số 3524/2023/QĐ -PC ngày 25/12/2023.
Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Nguyễn Đắc H:
- Bà Phan Thị Bạch V – Chức vụ: Phó Giám đốc. Theo Giấy ủy quyền số 64/2024/GUQ-CNBT ngày 22/01/2024
- Ông Nguyễn Triết Truân N– Nhân viên. Theo Giấy ủy quyền số 77/2024/GUQ-CNBT ngày 22/01/2024
- Ông Nguyễn Thái H1 – Chuyên viên quản lý nợ. Theo Giấy ủy quyền số 74/2024/GUQ-CNBT ngày 22/01/2024
Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn M - H, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa vắng mặt tất cả các đương sự.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/3/2024, bản tự khai của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắc là Ngân hàng) do ông Nguyễn Thái H1 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh B và ông Nguyễn Ngọc T có ký kết theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân) vào ngày 24/6/2022, hạn mức sử dụng thẻ là 50.000.000đồng, lãi suất tại thời điểm làm thẻ 2,6%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông Nguyễn Ngọc T đã thực hiện giao dịch phát sinh với số tiền gốc 45.000.000đồng, phí và lãi phát sinh đối với số thẻ 356480 – 3195: Nợ gốc 45.000.000đồng, nợ lãi, phí là 19.811.061đồng. Tổng cộng: 64.811.061 đồng (tính đến ngày 30/7/2024). Quá trình vay ông T đã trả gốc và lãi tổng cộng 36.030.000đồng. Hiện ông T còn nợ gốc là 14.390.000đồng, nợ lãi quá hạn là 14.391.061đồng. Tổng cộng 28.781.061đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh B đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở về khoản nợ vay nói trên nhưng ông T vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng.
Nay, Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu ông Nguyễn Ngọc T phải trả số nợ tổng cộng 28.781.061đồng, gồm: Nợ gốc là 14.390.000đồng, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 30/7/2024 là 14.391.061đồng. Và tiền lãi phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi ông Nguyễn Ngọc T hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T vắng mặt nên không có bản khai tại hồ sơ.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 203 và Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân) vào ngày 24/6/2022, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn có địa chỉ tại Khu phố N, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thái H1 vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà ông Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[3.1] Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân) vào ngày 24/6/2022 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh B với ông Nguyễn Ngọc T thì tại thời điểm ký kết hợp đồng Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh B có đầy đủ tư cách pháp nhân, ông Nguyễn Ngọc T có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; các bên giao kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không giả tạo, không bị ép buộc, lừa dối, các bên đã đọc lại, hiểu rõ, nhất trí và cùng ký tên. Vì vậy, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân) vào ngày 24/6/2022 giữa các bên được thực hiện đúng quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông T đã thực hiện giao dịch theo bảng tóm tắt sao kê của Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh B, cụ thể ông Nguyễn Ngọc T đã thực hiện giao dịch phát sinh với số tiền gốc 45.000.000đồng, phí và lãi phát sinh đối với số thẻ 356480 – 3195: Nợ gốc 45.000.000đồng, nợ lãi, phí là 19.811.061đồng. Tổng cộng: 64.811.061 đồng. Quá trình vay ông T đã trả gốc và lãi tổng cộng 36.030.000đồng. Hiện, ông T còn nợ gốc là 14.390.000đồng, nợ lãi quá hạn là 14.391.061đồng. Tổng cộng 28.781.061đồng (tính đến ngày 30/7/2024).
Ông Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông T vẫn vắng mặt, việc đó thể hiện bị đơn không thực hiện theo thỏa thuận, trốn tránh không có ý kiến gì phản hồi, từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình nên có căn cứ để xác định bị đơn đã vi phạm việc thỏa thuận giữa các bên. Do đó, ông Nguyễn Ngọc T phải có nghĩa vụ trả số nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gốc và lãi (tính đến ngày 30/7/2024) tổng cộng 28.781.061đồng, gồm nợ gốc là 14.390.000đồng, nợ lãi quá hạn là 14.391.061đồng và lãi phát sinh theo thỏa thuận cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng là phù hợp với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, phù hợp Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 91 và Khoản Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91 và Khoản Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Buộc ông Nguyễn Ngọc T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gốc và lãi (tính đến ngày 30/7/2024) tổng cộng 28.781.061đồng, gồm nợ gốc là 14.390.000đồng, nợ lãi quá hạn là 14.391.061đồng; Và tiền lãi phát sinh từ ngày 31/7/2024 cho đến khi ông Nguyễn Ngọc T thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho chủ thẻ là khách hàng cá nhân) ngày 24/6/2022.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 1.315.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013201 ngày 05/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ông Nguyễn Ngọc T phải chịu 1.439.053đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mi Mi |
Bản án số 101/2024/DS-ST. ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 101/2024/DS-ST.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
