TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-6-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Trọng Hiếu;
- Ông Phạm Văn Thành;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Đước.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Đước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 332/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số I, ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An, tỉnh Long An, có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quyền K, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời trình bày của nguyên đơn bà Phan Thị Kim N cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:
Bà N và ông K tiến tới hôn nhân vào năm 2002. Trước khi tiến tới hôn nhân vợ chồng có tìm hiểu nhau được 01 tháng. Đến năm 2002, vợ chồng bà N tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 140, quyển số 01, ngày 27/11/2002. Sau khi tiến tới hôn nhân, vợ chồng chung sống hạnh phúc chỉ một năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng không hòa hợp nhau về tính tình, ông K đã xúc phạm bà N nhiều lần, nghi ngờ bà N có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Ông K không lo làm để chăm lo cho gia đình, thường xuyên đánh bạc, bà N là người tạo ra thu nhập chính trong gia đình. Trước đây, bà N không nộp đơn ly hôn vì các con còn nhỏ nên bà N không muốn ly hôn. Hiện nay các con đã lớn, bà N không muốn sống chung với ông K nữa, bà N nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông K. Bà N đã chịu đựng nhiều năm nay, bà N không thể tiếp tục chịu đựng nữa. Bà N đã về nhà mẹ ruột ở xã L để sinh sống.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T, sinh ngày 26/12/2003 và Nguyễn Trọng K1, sinh ngày 12/7/2011. Đối với cháu T đã trưởng thành, bà N không có yêu cầu gì. Bà N yêu cầu được nuôi dưỡng người con chưa thành niên tên K1, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Quyền K trình bày:
Ông K thống nhất với lời trình bày của bà N về thời gian chung sống, về quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn, về con chung, tài sản chung, nợ chung.
Về nguyên nhân mâu thuẫn, ông K không thống nhất với lời trình bày của bà N. Ông K có đi làm có thu nhập cũng đưa tiền cho bà N nuôi con, ông K không có xúc phạm bà N nhưng khi ông K nghe người khác bàn tán về bà N thì ông K có nói bà N đừng đi uống cà phê với bạn bè. Tuy nhiên, trong lúc vợ chồng cãi nhau, ông K có bực bội và nói kêu bà N nộp đơn ly hôn thì ông K sẽ đồng ý ly hôn. Nhưng đó là lúc là do ông K tức giận nhưng ông K không muốn ly hôn với bà N. Nếu bà N đã kiên quyết ly hôn, ông K có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử quyết định.
Về con chung: Trong trường hợp, Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn thì ông K cũng không có ý kiến gì, đồng ý giao con chung chưa thành niên cho bà N nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Phan Thị Kim N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quyền K có nơi trú tại ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Cần Đước thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về hôn nhân: Bà Phan Thị Kim N và ông Nguyễn Quyền K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 140, quyển số 01, ngày 27/11/2002 nên xác định hôn nhân của vợ chồng bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo bà N, vợ chồng chung sống hạnh phúc chỉ một năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng không hòa hợp nhau về tính tình, ông K đã xúc phạm bà N nhiều lần, nghi ngờ bà N có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Ông K không lo làm để chăm lo cho gia đình, thường xuyên đánh bạc, bà N là người tạo ra thu nhập chính trong gia đình. Còn về phía ông K, ông K trình bày có đi làm có thu nhập cũng đưa tiền cho bà N nuôi con, ông K không có xúc phạm bà N nhưng khi ông K nghe người khác bàn tán về bà N thì ông K có nói bà N đừng đi uống cà phê với bạn bè. Trong lúc vợ chồng cãi nhau, ông K có bực bội và nói kêu bà N nộp đơn ly hôn thì ông K sẽ đồng ý ly hôn. Nhưng ông K xác định ông K không muốn ly hôn với bà N.
Tại phiên tòa, bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông K, ông K thì không đưa ra được phương án đoàn tụ. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà N và ông K không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N với ông K.
[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T, sinh ngày 26/12/2003 và Nguyễn Trọng K1, sinh ngày 12/7/2011. Bà N yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K1, ông K cũng đồng ý giao cháu K1 cho bà N nuôi dưỡng, cháu K1 cũng có nguyện vọng muốn được sống với mẹ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu K1 cho bà N nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Bà N và ông K đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về nợ chung: Bà N và ông K đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà N chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Kim N việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Quyền K.
1. Về hôn nhân: Bà Phan Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Quyền K.
2. Về nuôi con chung: Giao cho bà Phan Thị Kim N nuôi dưỡng người con chung chưa thành niên tên Nguyễn Trọng K1, sinh ngày 12/7/2011. Ông Nguyễn Quyền K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Bà Phan Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu số 0010612 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cần Đước sang án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Võ Thu Xuân |
Bản án số 101/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 101/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Kim Ngọc yêu cầu ly hôn với Nguyễn Quyền K
