|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA Bản án số: 39/2023/HSST Ngày 27 - 12 - 2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Hiền.
Thẩm phán: Bà Điêu Thị Kim Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lèo Thị Chan, bà Trịnh Lan Anh, ông Lê Bắc Hải.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Đặng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án số: 34/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Lò Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05/9/1994, tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn Á và bà Lò Thị C; có vợ Lò Thị L (bị hại trong vụ án) và có 02 con (con lớn sinh năm 2007 (đã chết), con nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/9/2023 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng Văn Q, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.
- Bị hại: Chị Lò Thị L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người làm chứng:
- + Bà Cà Thị D, sinh năm 1964. Địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Chị Lường Thị Q1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Người phiên dịch cho người làm chứng: Ông Lường Văn P, sinh năm 1964. Địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn T và chị Lò Thị L là vợ chồng sinh sống với nhau tại bản Nong Xưa, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Năm 2021, vợ chồng Lào có vay của anh Hoàng Văn D1, sinh năm 1971, trú tại bản Tả, xã C, huyện M số tiền 5.200.000 đồng để làm ăn. Sau đó, chị L đã đưa tiền cho T để trả cho D1 nhưng T không trả mà sử dụng để chi tiêu hết (T không nói cho vợ biết). Chiều ngày 31/8/2023, D1 đến gặp chị L đòi tiền nhưng chị L bảo với D1 đã đưa tiền cho chồng đem trả trước đó nên D1 yêu cầu Lào cùng về nhà gặp T. Khi biết chồng chưa trả tiền cho D1 nên vợ chồng T và L đã cãi, chửi nhau. Thấy vậy, D1 can ngăn và đi về còn chị L đi ra ngã ba bản Nong Xưa ở gần nhà để bán rau. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T đi đến lán chị L bán rau và ném chìa khóa nhà về phía chị L rồi tiếp tục xảy ra cãi nhau. Hai người vừa cãi nhau vừa đi lại quanh khu vực mọi người bán hàng. Khi đi qua sạp hàng của bà Cà Thị D, sinh năm 1964 (ở cùng bản) thì Lò Văn T hỏi “mày muốn chết à?” nhưng Lào vẫn tiếp tục cự, cãi, chửi chồng. Thấy vậy, T hét lớn “tao sẽ giết mày” rồi lao vào dùng tay trái túm tóc L giật mạnh về phía sau làm Lào ngã ngửa xuống đất, T cúi xuống định dùng tay đánh nhưng nhìn thấy 01 con dao dạng liềm dài 33 cm, lưỡi bằng kim loại ở cạnh đó nên T cầm con dao kề vào cổ Lào cứa liên tiếp 06 nhát (cứa đi, cứa lại), L dùng tay trái giật con dao ra thì bị lưỡi dao cứa vào tay. Thấy vậy, chị Lường Thị Q1, sinh năm 1994 (ở cùng bản) đang bán hàng gần đó vào can ngăn kéo T ra, bà D đến giật lấy con dao trên tay của T, còn chị L được chị Lò Thị S, sinh năm 2004 trú tại bản Ít, xã N, huyện M đưa về nhà bố mẹ đẻ của T rồi được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện M.
Ngày 01/9/2023, Lò Văn T đã đến Công an xã C, huyện M đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình.
* Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án xác định: Hiện trường là khu vực ngã ba chợ tạm đường liên xã thuộc bản Nong Xưa, xã C, huyện M. Tại hiện trường không phát hiện dấu vết gì liên quan đến vụ án. Cà Thị D đã giao nộp 01 con dao (dạng liềm) cho Cơ quan điều tra (ngày 07/10/2023 đã cho bị cáo Lò Văn T nhận dạng, xác định là hung khí bị cáo sử dụng để gây án).
* Kết quả tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể, đồng thời giám định tỷ lệ thương tật đối với chị Lò Thị L và giám định ADN trên con dao do bà D giao nộp, phát hiện:
Tại vùng cổ trước của Lào có 02 vết thương đã được khâu phục hồi, chưa cắt chỉ, kích thước 10 cm x 0,3 cm và 05 x 0,3 cm; Mặt trong đốt III ngón II bàn tay trái có 01 vết thương đã được khâu phục hồi, chưa cắt chỉ, kích thước 1,5 cm x 0,1 cm; mặt trong đốt III ngón III bàn tay trái có 01 vết thương đã được khâu phục hồi, chưa cắt chỉ, kích thước 2,5 cm x 0,1 cm.
Tại Bản Kết luận giám định số 296/KLTTCT-TTPY ngày 04/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S xác định: “Tỷ lệ tổn thương của Lò Thị L tại thời điểm giám định là 10% (Mười phần trăm). Thương tích vết thương phần mềm vùng cổ, bàn tay trái do tác động trực tiếp của vật sắc, diện tiếp xúc giới hạn gây ra”.
Tại Bản kết luận giám định số 6636/KL-KTHS ngày 09/10/2023 của V Bộ C1 xác định: “Trên con dao gửi giám định có bám dính máu người, không phân tích được kiểu gen do ít dấu vết, không xác định được có phải là máu của Lò Thị L và Lò Văn T không”.
Công văn số 92/TTPY-CM ngày 21/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S xác định: “Tại thời điểm khám giám định cho nạn nhân Lò Thị L, xác định 02 vết thương phần mềm vùng cổ trước là 02 vết thương nằm trong vùng trọng yếu, nguy hiểm trên cơ thể người”.
Công văn số 103/TTPY-CM ngày 23/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S xác định: “Vết thương tại vùng cổ của chị Lò Thị L ở vị trí nhiều mạch máu, dù không tổn thương sâu, nhưng nếu để quá lâu mà không được khâu phục hồi để cầm máu thì nạn nhân sẽ dẫn đến sốc mất máu và tử vong”.
Ngày 27/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành thực nghiệm, điều tra. Lò Văn T đã thực hiện lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người bị hại và người làm chứng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường.
Quá trình điều tra bị cáo Lò Văn T thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Sau khi gây án bị cáo ra đầu thú.
Vật chứng của vụ án: 01 con dao (dạng liềm có mũi nhọn, cong). Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng chờ xử lý.
Tại cáo trạng số: 178/CT-VKSSL-P2 ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố Lò Văn T về tội Giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Giết người.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 13 đến 14 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận việc bị hại không yêu cầu bồi thường.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao dạng liềm.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T: Nhất trí với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo sống ở vùng sâu vùng xa, trình độ nhận thức hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo tích cực trong quá trình chị L cứu chữa tại bệnh viện, tại phiên tòa chị L xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 13 năm tù.
- Bị cáo Lò Văn T nhất trí với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.
- Người bị hại không có ý kiến tranh luận, không yêu cầu bị cáo bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, cụ thể:
Do có mâu thuẫn với nhau về việc trả nợ, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 31/8/2023, tại khu vực ngã ba chợ tạm đường liên xã thuộc bản N, xã C, huyện M, giữa Lò Văn T và Lò Thị L đã xảy ra xô xát. T đã có hành vi dùng dao dạng liềm dài 33 cm, lưỡi bằng kim loại là hung khí nguy hiểm cứa liên tiếp 06 (sáu) nhát vào cổ là vị trí trọng yếu trên cơ thể của bị hại, hậu quả tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị L là 10%, việc chị L không chết là do được đưa đi cấp cứu kịp thời. Hành vi bị cáo thực hiện thể hiện rõ tính chất côn đồ, ý thức chủ quan của bị cáo là nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lò Văn T tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, các vật chứng thu giữ; Biên bản kiểm tra dấu vết trên thân thể người bị hại; Kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh S; Công văn của Trung tâm pháp y tỉnh S và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án.
Do đó, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội Giết người với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Bị cáo Lò Văn T là người có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, bị cáo biết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tính mạng, sức khỏe của chị L được pháp luật bảo vệ; thể hiện sự côn đồ, coi thường pháp luật và những quy tắc ứng xử trong cuộc sống, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong dư luận và quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đến cơ quan công an để đầu thú, bố bị cáo là thương binh hạng 4/4 và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây hậu quả làm chết người nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: “cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm” theo quy định tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật Hình sự: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn, bị cáo là người được sinh ra lớn lên và cư trú ổn định, hiện nay không có nơi cư trú nào khác, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên cần chấp nhận.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với một con dao dạng liềm xét thấy đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và một số mẫu vật giám định còn lại, cần tịch thu, tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo Lò Văn T là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Giết người.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/9/2023); Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị hại chị Lò Thị L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) con dao dạng liềm bằng kim loại cán bằng gỗ và phần còn lại của các mẫu tóc ghi thu của Lò Văn T và Lò Thị L sau giám định (được niêm phong trong một phong bì còn nguyên niêm phong).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27/12/2023).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Tòng Thị Hiền |
Bản án số 39/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự (giết người)
- Số bản án: 39/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn T và chị Lò Thị L là vợ chồng sinh sống với nhau tại bản Nong Xưa, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Năm 2021, vợ chồng Lào có vay của anh Hoàng Văn D1, sinh năm 1971, trú tại bản Tả, xã C, huyện M số tiền 5.200.000 đồng để làm ăn. Sau đó, chị L đã đưa tiền cho T để trả cho D1 nhưng T không trả mà sử dụng để chi tiêu hết (T không nói cho vợ biết). Chiều ngày 31/8/2023, D1 đến gặp chị L đòi tiền nhưng chị L bảo với D1 đã đưa tiền cho chồng đem trả trước đó nên D1 yêu cầu Lào cùng về nhà gặp T. Khi biết chồng chưa trả tiền cho D1 nên vợ chồng T và L đã cãi, chửi nhau. Thấy vậy, D1 can ngăn và đi về còn chị L đi ra ngã ba bản Nong Xưa ở gần nhà để bán rau. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T đi đến lán chị L bán rau và ném chìa khóa nhà về phía chị L rồi tiếp tục xảy ra cãi nhau. Hai người vừa cãi nhau vừa đi lại quanh khu vực mọi người bán hàng. Khi đi qua sạp hàng của bà Cà Thị D, sinh năm 1964 (ở cùng bản) thì Lò Văn T hỏi “mày muốn chết à?” nhưng Lào vẫn tiếp tục cự, cãi, chửi chồng. Thấy vậy, T hét lớn “tao sẽ giết mày” rồi lao vào dùng tay trái túm tóc L giật mạnh về phía sau làm Lào ngã ngửa xuống đất, T cúi xuống định dùng tay đánh nhưng nhìn thấy 01 con dao dạng liềm dài 33 cm, lưỡi bằng kim loại ở cạnh đó nên T cầm con dao kề vào cổ Lào cứa liên tiếp 06 nhát (cứa đi, cứa lại), L dùng tay trái giật con dao ra thì bị lưỡi dao cứa vào tay. Thấy vậy, chị Lường Thị Q1, sinh năm 1994 (ở cùng bản) đang bán hàng gần đó vào can ngăn kéo T ra, bà D đến giật lấy con dao trên tay của T, còn chị L được chị Lò Thị S, sinh năm 2004 trú tại bản Ít, xã N, huyện M đưa về nhà bố mẹ đẻ của T rồi được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện M. Ngày 01/9/2023, Lò Văn T đã đến Công an xã C, huyện M đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình.
