Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 101/2023/HS-ST

Ngày: 27/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuý Hồng

Ông Nguyễn Đình Phùng.

Ông Dương Thanh Bình.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Thanh Việt – Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phương Trà – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2023/HSST-QĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Thị Minh T, sinh ngày: 10 tháng 02 năm 1985 tại Bình Định; nơi cư trú: KP.Định Tố, TT.V, huyện V, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; con ông: Lê Thành N, sinh năm: 1955 và bà Huỳnh Thị X, sinh năm: 1957; chồng: Lê Thái V, sinh năm: 1985, có 01 người con, sinh năm: 2009; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 20/3/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, bị cáo có mặt tại phiên tòa. (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Trọng Q – Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. (Có mặt).

Bị hại:

  1. Võ Thị Kim D, sinh năm: 1983 và Trương Văn T1, sinh năm 1978; cùng trú tại thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định. (Có mặt).
  2. Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1985 và Trần Thanh T3, sinh năm: 1985; Cùng trú tại KP.Định An, TT.V, huyện V, tỉnh Bình Định). (Có mặt).
  3. Trần Thị T4, sinh năm 1957; trú tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định. (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Đặng Thị L, sinh năm 1960; trú tại K.Định Tân, TT.V, huyện V, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
  2. Đỗ Thị Thu Y, sinh năm 1983; trú tại K.Định An, TT.V, huyện V, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
  3. Trần Thị Minh C, sinh năm 1970; trú tại K.Định Bình, TT.V, huyện V, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
  4. Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1963. (Vắng mặt).
  5. Nguyễn Thị D1, sinh năm 1960. (Vắng mặt). Cùng trú tại KP.Định Tân, TT.V, huyện V, tỉnh Bình Định.
  6. Lê Thị Hồng P, sinh năm 1983. (Vắng mặt).
  7. Huỳnh N1, sinh năm 1987. (Vắng mặt).
  8. Trần Đình T5, sinh năm 1982. (Vắng mặt). Cùng trú tại KP.Định Tố, TT.V, huyện V, tỉnh Bình Định

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

  1. Lê Thái V, sinh năm: 1985; trú tại: B L, phường T, Q. T, Tp .. (Vắng mặt).
  2. Lê Thành N, sinh năm: 1965; trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị Minh T làm ăn thua lỗ dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ cho một số người gồm: Đặng Thị L, Trần Thị Minh C, Võ Thị Kim D. Đến hạn T không có tiền trả nợ nên Thân nảy sinh ý định đưa ra thông tin sai sự thật là cần tiền làm dịch vụ đáo hạn tại Ngân hàng để vay tiền của chị Võ Thị Kim D, Nguyễn Thị Thùy T2, Trần Thị T4 rồi dùng số tiền vay này trả nợ cho người khác. Đến ngày 26/11/2020, T trốn vào TP . Hồ Chí Minh thuê nhà ở trọ, cắt liên lạc với các chủ nợ nhằm để tránh né việc trả nợ.

1. Đối với chị Võ Thị Kim D:

Lê Thị Minh T nói dối với chị D là cần huy động tiền làm dịch vụ đáo hạn tại Ngân hàng. Do tin tưởng nên chị D đồng ý cho T vay nhiều lần như sau:

  • Ngày 14/8/2020, T vay của chị D 200.000.000 đồng để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng, thỏa thuận lãi suất là 2.500đ/1.000.000đ/ngày (tức 7,5%/tháng), hạn trả nợ khi D đòi thì trả. D đã chuyển số tiền trên qua tài khoản Ngân hàng A1 của T; T nhận được tiền rồi viết nội dung mượn tiền vào cuốn vở của D và kí tên xác nhận. Đối với khoản vay này, T chưa trả nợ gốc, có trả lãi nhiều lần bằng hình thức chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho chị D.
  • Ngày 17/8/2020, T vay của chị D 230.000.000 đồng cũng với thỏa thuận như trên. Ba ngày sau, T trả đủ số tiền nợ gốc này cho chị D và gạch chéo (X) trên giấy mượn tiền; còn tiền lãi thì T gộp chung với tiền lãi của khoản vay khác và chuyển trả sau cho D qua tài khoản ngân hàng.
  • Ngày 24/8/2020, T vay của chị D 420.000.000 đồng cũng với thỏa thuận như trên. Ba ngày sau T đem tiền mặt đến nhà chị D trả đủ số tiền nợ gốc trên và trả tiền lãi 3.150.000 đồng; đồng thời T đã tự gạch chéo khoản nợ này trên giấy mượn tiền.
  • Sau 03 lần vay nêu trên, T tiếp tục vay của chị D 03 lần nữa, nhưng cả hai không viết giấy tờ mà xác nhận bằng cách nhắn tin qua Zalo, cụ thể:
    • Ngày 08/9/2020, T vay của chị D 200.000.000 đồng (nhận bằng tiền mặt) để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng, thỏa thuận lãi suất vay là 2.500đ/1.000.000đ/ngày (tức 7,5%/tháng), hạn trả nợ là 01 tháng. Đến ngày 08/10/2020, T đem 15.000.000 đồng đến trả tiền lãi cho chị D và đề nghị để tiền nợ gốc làm đáo hạn ngân hàng tiếp thì D đồng ý.
    • Ngày 08/9/2020, T vay của chị D 50.000.000 đồng cũng với thỏa thuận tương tự như nêu trên. Đến ngày 08/10/2020 (cùng thời điểm trả nợ của khoản vay 200 triệu đồng trên), T đem 3.750.000 đồng đến trả tiền lãi cho chị D và đề nghị để tiền nợ gốc làm đáo hạn ngân hàng tiếp thì D đồng ý.
    • Ngày 26/10/2020, T vay của chị D 100.000.000 đồng cũng thỏa thuận như nêu trên. Lúc này, T nói với chị D là xóa các tin nhắn Zalo xác nhận nợ trước đây để tránh lộn xộn, nhầm lẫn nên D đưa điện thoại cho T xóa tin nhắn, rồi chị D bảo T viết thêm 03 khoản vay của ngày 08/9/2020 và ngày 26/10/2020 vào giấy mượn tiền để xác nhận nợ thì T đồng ý và viết 03 khoản vay này vào phía dưới giấy mượn tiền, nhưng không viết thời hạn trả nợ. Sau đó, D mới tự viết các dòng chữ “Đến ngày 8/10/2020 trả lại”, “Đến ngày 8/10 trả lại”, “Đến ngày 26/11/2020 trả lại” vào từng khoản vay tương ứng.

Như vậy, Lê Thị Minh T đã vay của chị Võ Thị Kim D 550.000.000 đồng và trả lãi cho chị D tổng cộng là 85.695.000 đồng, còn chiếm đoạt là: 550.000.000 đồng - 85.695.000 đồng = 464.305.000 đồng.

2. Đối với chị Nguyễn Thị Thùy T2:

Lê Thị Minh Thân L1 nói dối với chị T2 là cần huy động tiền làm dịch vụ đáo hạn tại Ngân hàng. Do tin tưởng, chị T2 đã đồng ý cho T vay nhiều lần, cụ thể như sau:

Từ tháng 3/2020 đến ngày 14/10/2020, Lê Thị Minh T đã vay của chị T2 33 lần, với tổng số tiền: 5.925.000.000 đồng (theo giấy mượn tiền) + 100.000.000 đồng (của 02 lần đầu, không còn giấy) = 6.025.000.000 đồng (với lí do để làm đáo hạn ngân hàng nhưng thực tế T dùng số tiền trên trả nợ cho người khác). Sau đó, T đã trả cho chị T2 tiền gốc tổng cộng: 4.620.000.000 đồng (theo giấy mượn tiền) + 100.000.000 đồng (02 lần đầu, không còn giấy) = 4.720.000.000 đồng và gạch bỏ các khoản vay đã trả trên giấy mượn tiền. Còn nợ số tiền gốc là 1.305.000.000 đồng (thể hiện tại 08 khoản vay chưa bị gạch bỏ trên giấy mượn tiền do chị Nguyễn Thị Thùy T2 cung cấp). Trong quá trình vay, chị T2 đã nhận tiền lãi các khoản vay do T trả tổng cộng là 89.260.000 đồng.

Như vậy, Lê Thị Minh T còn chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thùy T2 là: 1.305.000.000 đồng - 89.260.000 đồng = 1.215.740.000 đồng.

3. Đối với bà Trần Thị T4:

Lê Thị Minh Thân L1 nói dối với bà T4 là cần huy động tiền làm dịch vụ đáo hạn tại Ngân hàng. Do tin tưởng, bà T4 đã đồng ý cho T vay nhiều lần, cụ thể như sau:

  • Ngày 04/5/2020, T vay của bà T4 110.000.000 đồng để làm đáo hạn cho khách hàng tại ngân hàng AgriBank huyện V, thỏa thuận lãi suất 04%/tháng, hạn trả nợ 02 -> 30 ngày. Khoản vay này, T chưa trả tiền gốc, còn tiền lãi đã trả 04 lần tổng cộng: 17.600.000 đồng.
  • Ngày 21/5/2020, T vay của bà T4 30.000.000 đồng cũng với thỏa thuận như nêu trên. Đối với khoản vay này, T chưa trả tiền gốc, còn tiền lãi đã trả 04 lần tổng cộng: 4.800.000 đồng.
  • Ngày 26/5/2020, T vay của bà T4 50.000.000 đồng cũng với thỏa thuận như nêu trên. Đối với khoản vay này, T chưa trả tiền gốc, còn tiền lãi đã trả 04 lần tổng cộng: 8.000.000 đồng.
  • Ngày 24/6/2020, T vay của bà T4 200.000.000 đồng cũng với thỏa thuận như nêu trên. Đối với khoản vay này, T chưa trả tiền gốc, còn tiền lãi đã trả 03 lần tổng cộng: 24.000.000 đồng.

Như vậy, Lê Thị Minh T đã vay của bà Trần Thị T4 390.000.000 đồng và trả lãi cho bà T4 tổng cộng là 54.400.000 đồng, còn chiếm đoạt là: 390.000.000 đồng - 54.400.000 đồng = 335.600.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSBĐ-P2 ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Lê Thị Minh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định luận tội: Đề nghị căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Minh T từ 12 đến 13 năm tù về tội

Về dân sự: Bị cáo Lê Thị Minh T phải bồi thường cho chị Võ Thị Kim D là 464.305.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thùy T2 1.215.740.000 đồng và bà Trần Thị T4 335.600.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Trọng Q – Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. (Có mặt).

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định:

Do làm ăn thua lỗ không có tiền để trả nợ nên trong thời gian từ tháng 03/2020 đến tháng 10/2020, bị cáo Lê Thị Minh T đã đưa ra thông tin gian dối để vay tiền của các bị hại rồi chiếm đoạt. Bị cáo đã chiếm đoạt của chị Võ Thị Kim D 464.305.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thùy T2 1.215.740.000 đồng, bà Trần Thị T4 335.600.000 đồng. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Lê Thị Minh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi bị cáo Lê Thị Minh T gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, nên cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội thời gian dài, tương xứng với tính chất mức độ do hành vi bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Lê Thị Minh T có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên phạm vào tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, chị Võ Thị Kim D yêu cầu bị cáo hoàn trả cho chị số tiền 464.305.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thùy T2 yêu cầu bị cáo hoàn trả cho chị số tiền 1.215.740.000 đồng và bà Trần Thị T4 yêu cầu bị cáo hoàn trả cho chị số tiền 335.600.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ theo yêu cầu bị hại nên chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã thu giữ 03 giấy mượn tiền. Đây là chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên lưu vào hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    • - Căn cứ vào: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Minh T 12 ( mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/3/2023.
  2. Bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 BLHS.

    Buộc bị cáo Lê Thị Minh T hoàn trả cho vợ chồng chị Võ Thị Kim D số tiền 464.305.000 đồng, vợ chồng chị Nguyễn Thị Thùy T2 1.215.740.000 đồng và bà Trần Thị T4 335.600.000 đồng.

  3. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Lưu vào hồ sơ vụ án:

    • 01 (một) giấy mượn tiền lập ngày 15/4/2020 có thể hiện nội dung Lê Thị Minh T nhiều lần mượn tiền của Nguyễn Thị Thùy T2 trong thời gian từ ngày 15/4/2020 đến ngày 14/10/2020, trong đó có nhiều lần mượn tiền bị gạch bỏ. Tình trạng: bản gốc, loại giấy vở học sinh kẽ ô ly, gồm 02 tờ (04 trang). Do Nguyễn Thị Thùy T2 cung cấp.
    • 01 (một) giấy mượn tiền lập ngày 24/6/2020 có 02 trang thể hiện nội dung Lê Thị Minh T mượn tiền của Trần Thị T4 với số tiền: 200.000.000 đồng vào 24/6/2020, 50.000.000 đồng vào ngày 26/5/2020, 30.000.000 đồng vào ngày 21/5/2020, 110.000.000 đồng vào ngày 04/5/2020. Tình trạng: bản gốc, loại giấy vở học sinh kẽ ô ly. Do Trần Thị T4 cung cấp.
    • 01 (một) giấy mượn tiền lập ngày 14/8/2020 có thể hiện nội dung Lê Thị Minh T nhiều lần mượn tiền của vợ chồng Võ Thị Kim D trong thời gian từ 14/8/2020 đến 26/10/2020. Trong đó, có 02 lần mượn tiền bị gạch bỏ: ngày 17/8/2020 và ngày 24/8/2020. Tình trạng: bản gốc, loại giấy vỏ học sinh kẽ ô ly, gồm 01 tờ (02 trang). Do Võ Thị Kim D cung cấp.
  4. Về án phí:
    • Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Minh T phải chịu 200.000 đồng.
    • Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Minh T phải chịu 72.313.000 đồng.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS (2015) tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP CA tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan HSNV CA tỉnh Bình Định;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh Bình Định;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 101/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do làm ăn thua lỗ không có tiền để trả nợ nên trong thời gian từ tháng 03/2020 đến tháng 10/2020, bị cáo Lê Thị Minh T đã đưa ra thông tin gian dối để vay tiền của các bị hại rồi chiếm đoạt. Bị cáo đã chiếm đoạt của chị Võ Thị Kim D 464.305.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thùy T2 1.215.740.000 đồng, bà Trần Thị T4 335.600.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger