|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 101/2023/HSST Ngày 27-12-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Việt
Ông Nguyễn Ngọc Cang
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hà - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2023/QĐXXST-HS ngày 11/12/2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn S, sinh năm 1987 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không;
Cha: Nguyễn Văn S1 (đã chết); Mẹ: Lâm Thị Ngọc S2, sinh năm 1964; Vợ: Nguyễn Thị Tiểu L, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 21/8/2018 Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh BR-VT xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 71/2018/HSST. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2021.
Bị bắt, tạm giữ và tạm giam ngày 23/02/2023 (có mặt).
2. Nguyễn Ngọc Quang L1, sinh năm 1999 tại Gia Lai; HKTT: tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa;
Cha: Nguyễn Ngọc P (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1962;
Tiền sự: không.
Tiền án: - Ngày 06/5/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh BR-VT xử phạt 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số
34/2019/HSST.
- Ngày 12/10/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh BR-VT xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 107/2020/HSST ngày. Bị can chấp hành xong hình phạt ngày 23/9/2022.
Bị bắt, tạm giữ và tạm giam ngày 23/02/2023 (có mặt).
3. Huỳnh Hoàng T1, sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; HKTT: căn hộ 391B Lầu 2 chung cư thuộc đường T, phường H, quận E, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Cha: Huỳnh D, sinh năm 1963; Mẹ: Hồ Thị Hoàng Y, sinh năm 1964;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ và tạm giam ngày 23/02/2023 (có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo S, L1, T1: Luật sư Lê Biên P1 – Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Tiêu L2, sinh năm 2000. Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc Quang L1 và Huỳnh Hoàng T1 đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý và có mối quan hệ quen biết với nhau nên đã rủ nhau cùng thực hiện hành vi mua bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời.
Thông qua mối quan hệ xã hội, Nguyễn Ngọc Quang L1 quen biết người đàn ông tên T2 (không rõ họ tên địa chỉ ở Tp . Hồ Chí Minh) bán ma túy nên khoảng tháng 11/2022, L1 giới thiệu cho Sáng làm quen với T2 qua ứng dụng Zalo. Đến khoảng tháng 1/2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân và ma túy sử dụng nên S, L1 bàn bạc cùng nhau mua ma túy về bán kiếm lời. Sáng là người bỏ tiền ra mua ma túy và trực tiếp phân chia thành nhiều gói ma túy to, nhỏ để bán với giá từ 100.000 đồng đến 24.000.000 đồng (tùy theo nhu cầu của khách). L1 sẽ là người đi tìm khách mua và trực tiếp đi bán ma túy cho S để nhận tiền công. Huỳnh Hoàng T1 sẽ lái xe ô tô (thuê xe tự lái) chở Sáng, L1 đi mua bán ma túy và được S cho tiền từ 500.000đ đến 1.000.000₫
Trong thoảng thời gian từ tháng 01/2023 cho đến khi bị bắt, S đã liên hệ, và mua ma túy của T2 (là người cung cấp ma túy) được 02 lần, việc giao dịch mua bán ma túy tại khu vực Quận F, Tp .. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 01/2023, Huỳnh Hoàng T1 lái xe ô tô (dạng thuê xe ô tô tự lái do Sáng thuê) đi đến khu vực quận F, Tp . (không rõ địa chỉ cụ thể) gặp T2 để mua một gói ma túy đá với giá 30.000.000 đồng. Khi đi Sáng nói dối với T1 đi lấy tiền nhưng thực chất là đi mua ma túy về bán. Lần này, S cho T1 500.000đ tiền công. Sau khi mua được ma túy, S đưa về nhà cất giấu và trực tiếp phân chia thành nhiều gói to nhỏ khác nhau có giá từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Sáng và L1 đã bán hết số ma túy trên cho các đối tượng nghiện trên địa bàn huyện L, tỉnh BR - VT.
Lần thứ hai: Ngày 21/02/2023, S rủ L1 và T1 cùng nhau đi thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy về bán thì L1 và T1 đồng ý. Sáng liên hệ thuê xe ô tô để T1 lái xe chở S và L1 đi gặp T2 mua một gói ma túy đá với giá 20.000.000 đồng tại khu vực Quận F, TP .. Sau khi mua được ma túy, T1 lái xe chở S và L1 về lại nhà S cất giấu ma túy. Lần này S cho T1 cho 1.000.000 đồng tiền công.
Khoảng 14 giờ ngày 23/02/2023, có người phụ nữ tên L2 (không rõ họ tên địa chỉ) liên hệ qua ứng dụng Z cho L1 hỏi mua nửa lạng ma túy đá (50 gam). L1 điện thoại cho S nói có khách mua ma túy thì S đồng ý bán nửa lạng ma túy đá (50 gam) với giá 24.000.000đ để T1 báo lại cho khách. Đồng thời, S gọi điện thoại yêu cầu T1 đến lấy xe ô tô (do S thuê) để chở S và L1 đi Tp . mua ma túy về bán (do trước đó T2 gọi lên lấy ma túy vì sắp tới sẽ cháy hàng). Trên đường đi, khi đến khu vực bùng binh “Lò Vôi” (thuộc xã P, huyện L, tỉnh BR-VT) thì L1 yêu cầu S quay về nhà lấy ma túy đi bán vì khách hối quá, S đồng ý. Khi tới nhà S đi vào nhà lấy ma túy còn L1, T1 ngồi trên xe đợi. Sáng đi vào sau nhà lấy gói ma túy đá đang cất giấu trong túi quần rồi triết ra ít ma tuý bỏ vào 01 gói nylon khác cất vào vị trí cũ. Sau đó, S cầm gói ma túy, một bộ dụng cụ sử dụng ma túy và một bịch bánh ngọt có chữ “C’est BON!” đi ra xe ô tô rồi để gói ma túy vào hộc tại vị trí giữa ghế tài xế và ghế phụ, lúc này L1 cầm gói ma túy lên xem rồi đặt xuống. Quá trình di chuyển qua thành phố V, L1 liên hệ với người mua ma túy và chỉ đường cho T1 chạy xe. Khi đến trước địa chỉ số B, đường P, phường B, thành phố V, tỉnh BR-VT, L1 lấy gói ma túy cho vào trong vỏ bánh ngọt có dòng chữ “C'est BON!” mang ra cất giấu tại nhà hoang bên đường rồi đi về hướng đối diện gặp L2 để nhận tiền nhưng chưa kịp nhận tiền thì bị bắt giữ. Còn S và T1 ngồi chờ trên xe một lúc không liên lạc được với L1 nên S vào xem còn ma túy và tìm L1, T1 cũng đi theo thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V, tỉnh BR-VT phối hợp Công an phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bắt giữ ba đối tượng thu được các vật chứng sau:
- 01 gói nylon hàn kín có chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (Sáng khai là ma túy đá);
- 02 gói nylon đã qua sử dụng, màu vàng đỏ có dòng chữ “C'est BON!”, kích thước 22cm x 14cm và 12 cm x 7cm (thu giữ tại hiện trường bên cạnh gói ma túy và trong xe ô tô biển kiểm soát: 72A-392.89).
- 01 điện thoại di động, màu trắng, số IMEI: 99001020989115 (thu giữ của Huỳnh Hoàng T1);
- 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng hồng, số IMEI: 355351089359515 (thu giữ của Nguyễn Văn S).
- 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 352838112973927 (thu giữ của Nguyễn Ngọc Quang L1).
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: một bình nhựa màu trắng, nắp bình nhựa màu trắng; một ống thủy tinh màu trắng; một ống hút nhựa màu trắng vàng) thu giữ trong xe ô tô biển kiểm soát: 72A-392.89.
- 01 xe ô tô đã qua sử dụng, màu trắng, hiệu HUYNDAI, loại xe ACCENT, biển kiểm soát: 72A-392.89.
Ngoài ra, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn S, Cơ quan Công an đã thu giữ thêm 01 gói nylon được hàn kín, có chứa chất kết tinh không màu - trong suốt và 10 túi nylon màu trắng không đựng gì.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn S khai nhận trực tiếp nhiều lần bán ma túy như sau: Bán 01 lần cho người tên Cù Long D1; bán 01 lần cho người tên T3, sử dụng số điện thoại 0933.406.xxx; bán 02 lần cho T4, sử dụng số điện thoại DĐ 0908.383.xxx; bán 03 lần cho T5, sử dụng số điện thoại 0876.898.xxx; bán 02 lần cho người tên M, sử dụng số điện thoại DĐ 0774.597.xxx; bán 02 lần cho N, số điện thoại DĐ 0345.413.xxx; bán 01 lần cho C, sử dụng số điện thoại DĐ 089867576); bán 02 lần cho T6 sử dụng số điện thoại DĐ 0937.443.xxx.
Nguyễn Ngọc Q L1 khai, không góp tiền mua ma túy cùng S nhưng là người trực tiếp tìm mối tiêu thụ và bán ma túy cho Sáng nhiều lần, mỗi lần bán thành công thì Sáng cho L1 từ 500.000đ đến 1.000.000đ. Do đã lâu, L1 không nhớ họ tên, địa chỉ, số điện thoại người mua.
Đối với Huỳnh Hoàng T1 khai nhận, lần thứ nhất chở S đi Tp . thì T1 không biết, lần thứ 2 và thứ 3 thì T1 biết rõ Sáng, L1 đi mua ma túy của T2 và đưa ma túy xuống Vũng Tàu bán cho khách.
* Kết quả giám định:
Tại bản kết luận giám định số: 98/KL-KTHS-MT ngày 03/3/2023 của Phòng K (P3) Công an tỉnh B kết luận:
“- Mẫu A1 gửi đến giám định có khối lượng 49,8286 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
- Mẫu A2 gửi đến giám định có khối lượng 2,4438 gam, là ma túy, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra, các bị can Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc Quang L1 và Huỳnh Hoàng T1 đều khai nhận về hành vi mua bán trái phép ma túy của bản thân.
Đối với đối tượng tên T2 là người bán ma túy (cung cấp ma túy) cho S do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý theo quy định.
Đối với đối tượng tên L2 (là người liên lạc mua ma túy của L1) và các đối tượng mua ma túy của S là người có tên Cù Long D1 (không rõ lai lịch); người tên T3, sử dụng số điện thoại 0933.406.xxx (chủ thuê bao là Cao Công D2, địa chỉ tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh BR-VT); người tên là T4, sử dụng số điện thoại DĐ 0908.383.xxx (chủ thuê bao là Đỗ Văn H, địa chỉ: Tổ C ô3, KP H, TT L, huyện L, tỉnh BR-VT. H khai không sử dụng ma túy và bị mất điện thoại có số di động trên từ tháng 4/2021); T5, sử dụng số điện thoại 0876.898.xxx (chưa xác minh được chủ thuê bao); người có tên M, sử dụng số di động 0774597272 (chủ thuê bao Phạm Thị L3, địa chỉ: B T, P H, Q. L, Đà Nẵng); người tên N, số điện thoại DĐ 0345.413.xxx (chưa xác minh được chủ thuê bao); người tên C, sử dụng số điện thoại DĐ 089867576 (chủ thuê bao Lê Thiên P2, địa chỉ xã P, huyện L, tỉnh BR-VT. Qua xác minh Lê Thiên P2 đã bị bắt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ ngày 13/10/2022); người tên T6 sử dụng số điện thoại DĐ0937.443.xxx (chủ thuê bao là Nguyễn Hữu H1, địa chỉ H, TT L, huyện L, tỉnh BR-VT). Cơ quan điều tra ra Quyết định thu giữ điện tín đối với các thuê bao di động trên nhưng đến nay chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của tất cả các chủ thuê bao để làm rõ việc có liên quan trong vụ án. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 11/QĐ-CSMT ngày 13/10/2023 tách hành vi của các đối tượng và tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra, xác minh theo quy định.
Đối với Nguyễn Thị Tiểu L (là vợ Nguyễn Văn S) có tên đăng ký tài khoản số “0704652465” tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M1); “1110704652465" tại Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1). Qua làm việc, L khai không biết và không sử dụng các tài khoản trên mà do Sáng tự đăng ký, sử dụng các tài khoản. Nguyễn Ngọc Quang L1 sử dụng số tài khoản số “050113507273” tại Ngân hàng thương mại cổ phần S3 (S4), L1 khai không sử dụng số tài khoản để mua bán ma túy. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã có văn bản xác minh đối với 03 số tài khoản nêu trên nhưng đến nay chưa có kết quả, khi nào có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với xe ô tô hiệu HUYNDAI, loại ACCENT, màu trắng, số máy: G4LCKF718255, số khung: RLUA441BBKN029954, biển kiểm soát 72A-392.89. Chủ xe là bà Nguyễn Thị Lệ T7; địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh BR-VT. Bà T7 cho Nguyễn Văn S thuê chiếc xe (Hợp đồng thuê xe tự lái),
không biết S sử dụng chiếc xe trên đi bán ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị Lệ T7.
Bản cáo trạng số 116/CT-VKS-P1 ngày 31-10-2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc Quang L1, Huỳnh Hoàng T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa;
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn S từ 18 đến 19 năm tù, xử phạt Huỳnh Hoàng T1 từ 15 đến 16 năm tù;
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Ngọc Quang L1 từ 17 đến 18 năm tù.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
- Luật sư Lê Biên P1 phát biểu bào chữa cho các bị cáo: Luật sư thống nhất về tội danh, điều luật truy tố đối với các bị cáo S, L1, T1. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã hợp tác với cơ quan điều tra khai báo các lần phạm tội trước đó nên áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo. Bị cáo Sáng gia đình có công với cách mạng nên đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Đề nghị xem xét quyết định hình phạt nhẹ nhất cho các bị cáo.
- Các bị cáo S, L1, T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không bào chữa bổ sung. Lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc Quang L1, Huỳnh Hoàng T1 là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và cùng nhau thực hiện hành vi mua bán ma túy để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng. Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 cho đến ngày 23/02/2023, Nguyễn Văn S đã 02 lần mua ma túy đá của người đàn ông tên T2 ở quận F, thành phố Hồ Chí Minh (không rõ lai lịch) để bán cho các con nghiện. Cụ thể: Lần thứ nhất mua 01 gói ma túy đá với giá 20.000.000 đồng đưa về chỗ ở phân chia thành nhiều gói ma túy và cùng Nguyễn Ngọc Quang L1 bán hết số ma túy trên. Lần thứ 02: Ngày 21/2/2023, S rủ L1 và T1 đi gặp T2 để mua 02 gói ma túy đá với giá 30.000.000 đồng đưa về chỗ ở cất giấu. Đến ngày 23/02/2023, khi S, L1 và T1 mang 49,8286 gam ma túy loại Methamphetamine bán cho người phụ nữ tên L nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 2,4438 gam ma túy Methamphetamine tại nhà của S. Số ma túy thu giữ trong vụ án có tổng khối lượng là 52,2724 gam chất ma túy loại Methamphetamine.
Nguyễn Ngọc Q L1 là người đi bán ma túy nhiều lần cho S để nhận tiền công từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Huỳnh Hoàng T1 giúp sức với vai trò là người điều khiển xe chở S, L1 đi mua và bán ma túy cho người khác để được Sáng trả tiền công từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.
Do đó hành vi của các bị cáo thực hiện đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự đúng như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độc quản lý độc quyền về các chất ma túy của nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là công dân đã trưởng thành đủ nhận thức về tác hại to lớn của ma túy đối với sức khỏe con người và xã hội nhưng vì muốn thu lợi bất chính mà các bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.
Các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm nên thuộc trường hợp đồng phạm. Nguyễn Văn S là người chủ mưu, người thực hành tích cực, trực tiếp đi mua ma túy với khối lượng lớn về bán lại kiếm lời. Bị cáo S có nhân thân xấu, năm 2019 bị xử phạt 3 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, do vậy cần xử lý nghiêm khắc nhất. Nguyễn Ngọc Q L1 là người thực hành tích cực, đi bán ma túy nhiều lần cho
Sáng để được trả công bằng tiền, bị cáo L1 nhân thân xấu, có 02 tiền án nên cũng cần xử phạt nghiêm khắc. Huỳnh Hoàng T1 là người giúp sức, điều khiển xe chở S, L1 đi mua và bán ma túy để được trả tiền công do vậy cũng cần xử lý tương xứng với tính chất hành vi phạm tội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng:
Các bị cáo nhiều lần thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo L1 là người có 2 tiền án, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ:
Các bị cáo S, L1, T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.
Bị cáo S có cha, mẹ ruột tham gia cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Các bị cáo bị bắt quả tang và bị thu giữ điện thoại di động, kiểm tra điện thoại thể hiện việc mua bán ma túy trước đó của các bị cáo. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau về các lần phạm tội trước đó, phù hợp với vật chứng thu giữ được thể hiện việc bác bị cáo thành khẩn khai báo, làm sáng tỏ vụ án. Do vậy, luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tự thú đối với các bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 02 (hai) phong bì được niêm phong vụ số 98/1, 98/2 ngày 07/03/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 10 (mười) túi nylon màu trắng không đựng gì; 02 (hai) gói nylon màu vàng đỏ có dòng chữ “C'est BON!" (vỏ bánh ngọt) có kích thước 22cm x 14cm và 12 cm x 7cm là vật chứng liên quan đến tội phạm và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 (một) Một điện thoại di động màu trắng, số IMEI: 99001020989115; 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng hồng, số IMEI: 355351089359515; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng, hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 352838112973927 liên quan đến tội phạm nên tịch thu sung công quỹ.
[7] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc Quang L1, Huỳnh Hoàng T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Văn S 18 (mười tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Ngọc Quang L1 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Huỳnh Hoàng T1 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/02/2023.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì được niêm phong vụ số 98/1, 98/2 ngày 07/03/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 10 (mười) túi nylon màu trắng không đựng gì; 02 (hai) gói nylon màu vàng đỏ có dòng chữ “C'est BON!” (vỏ bánh ngọt) có kích thước 22cm x 14cm và 12 cm x 7cm;
- Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động màu trắng, số IMEI: 99001020989115; 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, màu trắng hồng, số IMEI: 355351089359515; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 352838112973927.
(Các vật chứng trên được Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 16/BB-CTHADS ngày 03-11-2023).
5. Án phí:
Các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Ngọc Quang L1, Huỳnh Hoàng T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Bản án số 101/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 101/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S Mua bán trái phép chất ma túy
