|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/DS-ST Ngày: 18 - 9 - 2024. V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phan Công Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đoàn Thị Thanh Phượng.
- Ông Trần Văn Đông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Công Hậu, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Tín, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 66/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị JUAN, CHING – HSUAN (Nguyễn Thanh H ngày 24/8/1984. Địa chỉ: Số D, ngõ A, phố S, quận F, thành phố C, Đài Loan, T QuốcNgười đại diện theo ủy quyền: Bà Hồ Thị C ngày 08/5/1961. Địa chỉ: khóm D, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc LiêuSĐT: 0942.161.xxx (Văn bản ủy quyền ngày 31/8/2023)(có mặt).
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lý Quang L1, sinh năm 1966 (vắng mặt). Địa chỉ: Số A, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Anh Phan Quốc T1, sinh ngày 03/12/2005 (vắng mặt). Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- Chị Trần Thị Trúc L2, sinh ngày 15/8/1977 (vắng mặt). Địa chỉ: Số D, đường R, Khóm G, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Chị Nguyễn Thị D (vắng mặt). Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
- Chị La Ngọc N, sinh năm 1997 (có mặt). Địa chỉ: Số E, đường R, Khóm G, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05/9/2023, các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh H1 người đại diện theo uỷ quyền bà Hồ Thị C1 trình bày:
Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm 2023, chị Nguyễn Thanh H2 cho chị L3 tiền nhiều lần, cụ thể: Ông Lý Quang Lưu C2 K số tiền 10.000.000 đồng cho chị L4 Phan Quốc T2 tiền chuyển khoản cho chị L5 đồng; chị La Ngọc N1 khoản cho chị L6 đồng; chị Trần Thị T3 L2chuyển khoản cho chị L 195.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị D1 khoản cho chị L7 đồng. Tất cả do chị H3 ông L1anh Tchị L2chị Dchị Nđưa số tiền trên cho chị L8 cộng 322.578.000 đồng. Sau đó, chị H4 trả lại số tiền cho những người trên. Nay, chị H9 cầu chị Nguyễn Thị L9 số tiền 322.578.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi theo quy định Nhà nước từ ngày 05/9/2023 cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm. Tại phiên toà, bà C3 sung yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu chị L9 thêm 4.500.000 đồng, do bà tính nhầm nên còn thiếu.
Theo chị Nguyễn Thị L là bị đơn trình bày: Chị có nhận số tiền của nhiều người chuyển tiền vào tài khoản của chị, nhưng do chị không biết chữ nên không biết ai đã chuyển tiền cho chị. Việc chuyển khoản số tiền bao nhiêu thì chị không nhớ. Sau đó, chị H2 nhờ chị chuyển khoản cho chị La Ngọc N2 tiền 45.000.000 đồng và chuyển cho chị Nguyễn Huyền T4(cháu ruột của Hsố tiền 11.000.000 đồng. Ngoài ra, còn chuyển nhiều khoản khác nhưng chị không nhớ đã chuyển cho ai, H3 chị chuyển tiền để đóng lãi cho nhiều người. Do đó, chị không đồng ý trả 322.578.000 đồng và lãi suất theo yêu cầu của chị H
Theo ông Lý Q L1là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Ông chỉ quen biết Hcòn Lchỉ biết qua HVào ngày 28/4/2023, Hmượn tiền của ông và yêu cầu ông chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng cho L10 giao dịch tại Ngân hàng N3để cho L3. Ông đã chuyển khoản cho L11. Hiện tại H5 chưa trả ông số tiền này, nhưng ông sẽ tự thoả thuận với H
Theo chị La N3 N1là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị Hchị L12 chị là chị em bạn dì. Chị H2 mượn tiền của chị nhiều lần để cho L3, cụ thể như sau: Vào ngày 06/12/2022, chị có đưa cho chị L13 tiền 2.500.000 đồng; ngày 23/12/2022, chị tiếp tục đưa cho chị L200.000 đồng; ngày 24/01/2023, chị đưa thêm 500.000 đồng. Tổng cộng số tiền chuyển khoản là 3.200.000 đồng. Hiện tại, chị H4 trả cho chị xong. Nếu chị L14 cấp được chứng cứ chuyển khoản cho chị 45.000.000 đồng như chị L15 bày, chị L22 quyền khởi kiện chị để đòi.
Theo chị Trần Thị T3 L2là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị H6 cháu chồng của người chị ruột, còn chị L16 biết qua chị HChị H7
hỏi mượn tiền của chị và yêu cầu chị chuyển khoản cho L3. Chị đã chuyển khoản nhiều lần cho L cụ thể như sau: Vào ngày 09/5/2023, chị chuyển khoản số tiền 95.000.000 đồng; ngày 10/5/2023, chị tiếp tục chuyển số tiền 50.000.000 đồng; ngày 12/5/2023, chị chuyển khoản tiếp cho Lsố tiền 50.000.000 đồng. Hiện tại H4 chuyển trả cho chị xong số tiền này.
Theo anh Phan Quốc T5 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị H7 nhờ anh chuyển khoản cho chị L3 tiền nhiều lần, cụ thể trong khoản thời gian từ 01/5/2023 đến 24/5/2023, anh đã chuyển khoản cho chị L13 tiền 102.878.100 đồng.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng và hòa giải hợp lệ cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị D, nhưng đương sự vắng mặt, không gửi bất kỳ chứng cứ gì cho Tòa án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi tuyên án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị D2 thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà để thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thanh H8 là người nước ngoài khởi kiện chị Nguyễn Thị L17 cầu thanh toán tiền vay là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo quy định khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định điểm khoản 3 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Anh Phan Quốc Tchị La N3 N4 L2có yêu cầu giải quyết vắng mặt (bút lục 71, 87, 90, 134); chị Nguyễn Thị D đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án nhưng vắng mặt không không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự, theo quy định tại
khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về phạm vi giải quyết vụ án:
Tại phiên toà, nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đòi bị đơn trả 4.500.000 đồng là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận xem xét, theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngoài yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.
[1.4] Viện kiểm sát đề nghị Toà án xác minh làm rõ mục đích chuyển tiền, số tiền đã chuyển, đã nhận. Xét thấy, Toà án đã đưa các đương sự tham gia tố tụng, đồng thời triệu tập để làm rõ nội dung sự việc, nhưng đương sự vắng mặt, xem như đương sự đã từ bỏ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, theo quy định tại khoản 5, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, những nội dung này cũng có thể làm rõ tại phiên toà, nên không cần thiết phải tạm ngừng phiên toà theo đề nghị của Viện kiêm sát.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Chị Nguyễn Thanh H9 cầu chị Nguyễn Thị L9 số tiền vay 322.578.000 đồng. Chị L19 nhận có nhận tiền của nhiều người chuyển khoản nhưng không nhớ đã nhận bao nhiêu tiền.
Để chứng minh cho lời trình bày của mình, chị H4 cung cấp lời khai của những người đã trực tiếp chuyển khoản cho chị L18 ông Lý Q Llanh Phan Quốc Tchị Trần Thị Trúc L2chị L N1đồng thời cung cấp bản sao kê ngân hàng của những người đã chuyển khoản cho chị L(bút lục 63-65, 72-77, 80-81, 85) thể hiện số tiền đã chuyển 306.578.000 đồng.
Nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chuyển tiền 16.00.000 đồng của chị Nguyễn Thị D cho chị L, nhưng tại phiên toà bị đơn chị Nguyễn Thị L19 nhận có nhận số tiền 16.000.000 đồng do chị D1 khoản. Mặc dù chị D3 Toà án triệu tập để làm rõ nội dung vụ án, nhưng chị D4 mặt, không thể hiện ý kiến của chị đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xem như chị D5 nhận với lời trình bày của nguyên đơn.
[2.2] Từ sự phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 322.57800 đồng, theo quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu tính lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất từ ngày 05/9/2023 (ngày nộp đơn khởi kiện) cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm (18/9/2024) là 01 năm 13 ngày trên số tiền 322.578.000 đồng, lãi suất 10%/năm.
Giữa các đương sự không cung cấp được chứng cứ thể hiện có thoả thuận lãi suất và thời hạn vay. Nên xác định có tranh chấp về lãi suất, nguyên đơn yêu cầu thời hạn tính lãi từ ngày nộp đơn khởi kiện với mức lãi suất 10%/năm là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, lãi suất sẽ được tính như sau: 322.578.000 đồng x 0,83%/tháng x 01 năm 13 ngày = 33.288.969 đồng.
[4] Kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 0,83%/tháng.
[5] Chị L20 rằng có chuyển tiền cho chị N, chị N2theo yêu cầu của chị HChị H10 thừa nhận. Do chị L21 có yêu cầu phản tố, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị L22 quyền khởi kiện vụ án dân sự khác đối với chị N1chị N2nếu có yêu cầu, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của chị H đối với chị L được chấp nhận, nên chị L23 chịu (322.578.000 đồng + 33.288.969 đồng) x 5% = 17.793.348 đồng, theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị H12 nhận lại 8.064.450 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000055 ngày 26/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu, theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468, khoản 1 Điều Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 1, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận cầu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh H8(tên gọi theo tiếng nước ngoài: JUAN, CHING – HSUAN) đối với chị Nguyễn Thị L.
Buộc chị Nguyễn Thị L22 nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Thanh H11 tiền 355.420.740 đồng (Ba trăm năm mươi lăm triệu bốn trăm hai mươi ngàn bảy trăm bốn mươi đồng) (trong đó tiền vay gốc 322.578.000 đồng, tiền lãi 33.866.969 đồng).
2. Kể từ ngày 19/9/2024 cho cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 0,83%/tháng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Chị Nguyễn Thị L23 chịu số tiền 17.793.348 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn ba trăm bốn mươi tám đồng).
3.2. Chị Nguyễn Thanh H12 nhận lại 8.064.450 đồng (Tám triệu không trăm sáu mươi bốn ngàn bốn trăm năm mươi đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000055 ngày 26/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.
4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời gian 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Phan Công Trí |
Bản án số 76/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 76/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phú-Trung
