Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26/7/2024.

“V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

*Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc H.

*Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Đăng M.

Ông Nguyễn Xuân K.

* Th ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Viết C - Thư ký

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 154/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/ QĐXX -HNGD ngày 18 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 44/2024/QÐST-HNGD ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thạch T, sinh năm 1995 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: TDP T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Đoàn Ngọc A, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Địa chỉ: TDP T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 20/3/2024, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Trần Thạch T trình bày:

Chị và anh Đoàn Ngọc A kết hôn với nhau từ ngày 10/3/2016. Trớc khi kết hôn anh chị có đợc tự nguyện tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.

Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh vào khoảng cuối năm 2018, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, to tiếng, anh Ngọc A còn đánh đập chị. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đoàn Ngọc A.

* Về con chung: Chị Trần Thạch T xác định vợ chồng có 02 con chung là Đoàn Trần Gia H1, sinh ngày 12/6/2016 và Đoàn Trần Gia L, sinh ngày 07/04/2021. Hiện con chung đang ở cùng chị, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung và không đề nghị Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A tự thoả thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 05/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đoàn Ngọc A trình bày:

Anh và chị Trần Thạch T kết hôn với nhau từ ngày 10/3/2016. Trớc khi kết hôn anh chị có đợc tự nguyện tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đi đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.

Về mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2024, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, khi mâu thuẫn trầm trọng anh có đánh chị T vài cái. Tuy nhiên anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng nếu chị T nhất quyết xin ly hôn thì anh đồng ý.

* Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 02 con chung là Đoàn Trần Gia H1, sinh ngày 12/6/2016 và Đoàn Trần Gia L, sinh ngày 07/04/2021. Nếu phải ly hôn anh nhất trí để chị T nuôi cả 02 con chung, anh không đề nghị Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung, công nợ chung: Anh và chị T tự thoả thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy ý kiến con chung ngày 20/6/2024 cháu Đoàn Trần Gia H2, sinh ngày 12/6/2016 trình bày: Cháu có biết bố mẹ cháu đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án, cháu muốn bố mẹ cháu đoàn tụ, nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ là Trần Thạch T.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thạch T và bị đơn là anh Đoàn Ngọc A vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thạch T được ly hôn với anh Đoàn Ngọc A.
  • Về quan hệ con chung: Giao cho chị Trần Thạch T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đoàn Trần Gia H2, sinh ngày 12/6/2016 và Đoàn Trần Gia L, sinh ngày 07/04/2021. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, anh Đoàn Ngọc A có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  • Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  • Về án phí: Chị Trần Thạch T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thạch T khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn và con chung với anh Đoàn Ngọc A có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

3.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Chũ ngày 10/3/2016, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A là hợp pháp. Quá trình chung sống chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A cùng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, to tiếng, khi mâu thuẫn anh Ngọc A có đánh chị T. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đoàn Ngọc A. Anh Đoàn Ngọc A xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng nếu chị T nhất quyết xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị T.

Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Ngọc A và chị Trần Thạch T đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn, cãi nhau và có đánh nhau; mặc dù anh Ngọc A xác định vẫn còn tình cảm với chị T và muốn đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng lại không đưa ra giải pháp cụ thể, trường hợp chị T nhất quyết xin ly hôn thì anh đồng ý. Toà án đã tống đạt trực tiếp thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh Ngọc A không đến để hoà giải. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Đoàn Ngọc A. Chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A đã căng thẳng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, không thể hòa giải được nữa. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thạch T, cho chị Trần Thạch T được ly hôn với anh Đoàn Ngọc A là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2 Về con chung: Chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Đoàn Trần Gia H2, sinh ngày 12/6/2016 và Đoàn Trần Gia L, sinh ngày 07/04/2021. Chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A đều có ý kiến vợ chồng ly hôn chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung là Đoàn Trần Gia H2Đoàn Trần Gia L, cháu H2 cũng có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, cần chấp nhận sự thỏa thuận của chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A, giao con chung là Đoàn Trần Gia H2, sinh ngày 12/6/2016 và Đoàn Trần Gia L, sinh ngày 07/04/2021 cho chị Trần Thạch T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn anh Đoàn Ngọc A có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Trần Thạch T và anh Đoàn Ngọc A cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Trần Thạch T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thạch T.

    • Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thạch T được ly hôn với anh Đoàn Ngọc A.
    • Về quan hệ con chung: Giao cho chị Trần Thạch T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đoàn Trần Gia H2, sinh ngày 12/6/2016 và Đoàn Trần Gia L, sinh ngày 07/04/2021. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, anh Đoàn Ngọc A có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    • Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Trần Thạch T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Xcá nhận chị Trần Thạch T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006091 ngày 01/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Khoản tiền này được chuyển thành án phí, chị Trần Thạch T không phải nộp án phí nữa.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - UBND thị trấn Chũ (số 19/2016);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 101/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thạch T - Đoàn Ngọc A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger