|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày: 26-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Cảnh;
- Ông Thái Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 và ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Lê Lâm Nguyễn H, sinh năm: 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Tổ B, Khu phố D, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm: 1968 và bà Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm: 1969; anh, chị, em ruột: Không; vợ: Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm: 1988; con: có 01 người con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 29/9/2011, bị Toà án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án số 240/2011/HSST.
- Ngày 30/6/2016, bị Toà án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 75/QĐ-TA, đến ngày 01/10/2017, trở về địa phương.
- Ngày 03/01/2019, bị Toà án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 08/QĐ-TA. Đến ngày 11/4/2020, trở về địa phương.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/11/2023 đến ngày 15/11/2023 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đ1 (tên gọi khác: H1), sinh năm: 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Tổ C, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị M1, sinh năm: 1960 (chết); anh, chị, em ruột: 02 người kể cả bị cáo; vợ, con: chưa có;
Tiền án: Ngày 17/5/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xử 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 44/2022/HSST. Đến ngày 06/3/2023, chấp hành xong trở về địa phương.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 21/11/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 12 xử 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 173/2018/HSST. Đến ngày 17/8/2019, chấp hành xong trở về địa phương.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/11/2023 đến ngày 15/11/2023 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Họ và tên: Trương Lụt L, sinh năm: 1993 tại tỉnh Long An; nơi thường trú: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T2, sinh năm: 1970 và bà Trương Thị L1, sinh năm: 1969; anh, chị, em ruột: 03 người kể cả bị cáo; vợ, con: chưa có;
Tiền án:
- Ngày 20/3/2012, bị Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 33/2012/HSST. Đến ngày 21/7/2013, chấp hành xong trở về địa phương.
- Ngày 06/6/2014, bị Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 6 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 70/2014/HSST. Đến ngày 28/7/2016, chấp hành xong trở về địa phương.
- Ngày 27/3/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 19/2018/HSST. Đến ngày 25/10/2020, chấp hành xong trở về địa phương.
- Ngày 06/5/2021, bị Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 6 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 43/2021/HSST. Ngày 29/12/2021, Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 117/2021/HS-PT. Đến ngày 14/7/2023, chấp hành xong trở về địa phương.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/11/2023 đến ngày 15/11/2023 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4/ Họ và tên: Huỳnh Văn L2, sinh năm: 1993 tại tỉnh Long An; nơi thường trú: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; chỗ ở: Ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Chưa xác định được, mẹ: bà Huỳnh Thị T3, sinh năm: 1956; anh, chị, em ruột: 02 người kể cả bị cáo; vợ, con: chưa có;
Tiền án:
- Ngày 20/3/2012, bị Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xử phạt 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 33/2012/HSST. Đến ngày 21/01/2013, chấp hành xong trở về địa phương.
- Ngày 06/6/2014, bị Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 6 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 70/2014/HSST. Đến ngày 28/7/2016, chấp hành xong trở về địa phương.
- Ngày 27/3/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xử phạt 06 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 19/2018/HSST. Đến ngày 19/4/2023, chấp hành xong trở về địa phương.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/11/2023 đến ngày 15/11/2023 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5/ Họ và tên: Lưu Hoài L3, sinh năm: 1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi thường trú: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: Ấp A, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Quốc V, sinh năm: 1972 và bà Đỗ Ngọc D, sinh năm: 1970; anh, chị, em ruột: 02 người kể cả bị cáo; vợ: Huỳnh Thị Châu P, sinh năm: 1997, con: chưa có.
Tiền án: Ngày 25/5/2017, bị Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt Lưu Hoài L3 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 77/2017/HSST. Đến ngày 09/11/2017, chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam C1 nhưng chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/11/2023 đến ngày 15/11/2023 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
6/ Họ và tên: Nguyễn Văn L4 (tên gọi khác: L5), sinh năm: 1985 tại tỉnh Long An; nơi thường trú: Ấp V, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1960 và bà Lê Thị H2, sinh năm: 1967 (chết); anh, chị, em ruột: 05 người kể cả bị cáo; vợ: Chưa xác định, con: 02 người, lớn sinh năm 2010 và nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án:
- Ngày 11/12/2015, bị Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 73/2015/HSST. Đến ngày 03/3/2016, chấp hành xong trở về địa phương.
- Ngày 25/11/2019, bị Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xử phạt 04 năm tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 154/2019/HSST. Đến ngày 08/02/2023, chấp hành xong trở về địa phương.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/11/2023 đến ngày 15/11/2023 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
7/ Họ và tên: Võ Văn H3, sinh năm: 1990 tại tỉnh Long An; nơi thường trú: Ấp V, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H4, sinh năm 1965 và bà Võ Thị B, sinh năm 1964; anh, chị, em ruột: Không có; vợ: Nguyễn Thị L6, sinh năm: 1988 (không đăng ký kết hôn), con: 01 người con sinh năm 2014.
Tiền án:
- Ngày 25/11/2021, bị Toà án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 6 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 58/2021/HSST.
Tiền sự: Không có.
Nhân thân:
- Ngày 16/9/2011, bị Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xử phạt 7.000.000 đồng, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 141/2011/HSST. Đến ngày 19/10/2021, bị cáo thi hành xong bản án.
- Ngày 26/8/2014, bị Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 107/2014/HSST. Đến ngày 10/7/2015, chấp hành xong trở về địa phương.
- Ngày 19/01/2017, bị Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 05/2017/HSST. Đến ngày 26/2/2019, chấp hành xong trở về địa phương.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/11/2023 đến ngày 15/11/2023 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Đặng Văn T5, sinh năm: 1993; địa chỉ: Số E đường Đ, khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có đơn xin vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Anh Trần Công H5, sinh năm: 2003; địa chỉ: Nông trường T, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Phạm Nhật N, sinh năm: 2002; địa chỉ: Kênh B, Nông trường T, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H6, sinh năm: 1981; địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Anh Nguyễn Cao T6, sinh năm: 2004; địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Tấn H7, sinh năm: 2001; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Bà Võ Thị B, sinh năm: 1965; địa chỉ: Ấp V, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt)
- Bà Võ Thị T7, sinh năm: 1974; địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An. (vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị C, sinh năm: 1984; địa chỉ: ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/11/2023, H điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 93H1-217.30 (trong cốp xe có giấu 01 cây xăm gạo) đến chơi tại phòng trọ A2, nhà trọ L7; địa chỉ: Số B đường L, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Đ1 rủ H đi trộm xe máy bán lấy tiền tiêu xài, H đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 02/11/2023, Đ1 tiếp tục điện thoại rủ L đi trộm tài sản, L đồng ý và hẹn gặp nhau tại ngã ba Quốc lộ B giao nhau với đường N, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Lăng chuẩn bị 02 con dao tự chế dài khoảng 60 cm và 01 cái kìm bỏ vào túi đựng cần câu cá rồi mang trên vai điều khiển xe máy hiệu Yamaha Nouvo, biển số 68T1-059.94 đến điểm hẹn gặp Đ1 và H. Lăng đưa túi đựng cần câu cá cho Đ1 mang trên vai và chở Đ1, L chạy xe máy biển số 93H1-137.02 đi tìm tài sản trộm nhưng không có nên L đi về, còn Đ1 và H về phòng trọ của Đ1 ngủ.
Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, Đ1 trực tiếp rủ H và Đ1 điện thoại rủ L đi trộm cắp tài sản hẹn nhau tại ngã ba đường Q 22 giao nhau với đường Nguyễn Văn H8, L điều khiển xe máy biển số 68T1-059.94 đến điểm hẹn chở Đ1 mang túi đựng cần câu trên vai, H chạy xe máy biển số 93H1-137.02 đi đến khu vực đường T tìm tài sản trộm. Đến khoảng 11 giờ 10 phút cùng ngày, khi đến đường K, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì L phát hiện anh Đặng Văn T5 đang bẫy chim, bên cạnh để chiếc xe máy hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh không có biển kiểm soát. Trên xe có treo 01 lồng chim bằng kim loại bên trong có 01 con chim hút mật và 05 con chim hút mật được quấn bằng vải màu xanh, dây rút màu trắng. L nói với Đ1 và H “Có xe kìa, làm không”. Đ1 nói với L và H “Cướp luôn đi”. Lúc này, Đ1 xuống xe mở túi đựng cần câu ra lấy 01 con dao, L lấy 01 con dao đuổi chém anh T5, anh T5 hoảng sợ nhảy xuống mương nước. L nhanh chóng lấy xe của anh T5 chạy đi. Đ1 mang con dao bỏ vào túi đựng cần câu điều khiển xe Nouvo chạy theo. Cùng lúc, H chạy xe lại chỗ anh T5 hù doạ để cho anh T5 không truy đuổi theo L và Đ1, rồi chạy xe đi về nhà. Trên đường đi, L đưa con dao cho Đ1 giữ. Đ1 để con dao vào túi đựng cần câu và để túi đựng cần câu ở cây xăng thuộc địa phận huyện Đ, tỉnh Long An.
Sau khi chiếm đoạt xe của anh T5 xong, L điện thoại cho H3 bán xe, H3 đồng ý mua giá 8.000.000 đồng nhưng L không bán. Sau đó, L điện thoại cho L2 nhờ bán xe và hẹn gặp tại cầu Đ thuộc huyện Đ, tỉnh Long An. Lăng và Đ1 đến điểm hẹn gặp L2 điện thoại cho L3 hỏi bán xe, L3 đồng ý và hẹn giao dịch tại quán cà phê nhà của L3 tại Ấp A, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Lúc này, L đổi lấy xe Nouvo, biển số 68T1-059.94, mang lồng chim và chim về nhà H3. Còn Đ1 chạy xe Wave Alpha đi theo L2 đến nhà L3 gặp L3 và L4 bán xe. Tại đây, L2 bán xe cho L3 10.500.000 đồng, L3 bán xe cho L4 11.500.000 đồng.
Trong quá trình giao dịch mua bán xe, L điện thoại cho L2 nhờ mua 01 đầu khoá dùng mở ổ khoá từ, để tiếp tục đi trộm. L2 đồng ý và hỏi L3 mua ổ khoá từ. Do có sẵn nên L3 bán với số tiền 500.000 đồng.
Mua xe xong, L4 đến khu vực giáp ranh biên giới Thomo thuộc huyện Đ, tỉnh Long An bán cho người thiếu niên (không rõ lai lịch) với số tiền 13.500.000 đồng. Còn L2 nhận số tiền 10.500.000 đồng bán xe được cùng Đ1 đi về nhà H3 đưa cho L 10.000.000 đồng do đã cấn trừ 500.000 đồng mua đầu mở ổ khoá từ. L nhận tiền cho H3 1.000.000 đồng, cho L2 500.000 đồng. Chia cho Đ1 3.500.000 đồng và chia cho H 500.000 đồng. Số tiền còn lại 4.500.000 đồng Lăng giữ. Sau đó, L chở Đ1 đi về cây xăng lấy túi đựng cần câu về nhà. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/11/2023, N1 (không rõ lai lịch) đến nhà L mượn điện thoại di động và túi đựng cần câu nên L cho mượn rồi đi ngủ. Đ1 đi bộ lại chỗ rửa xe của anh Nguyễn Cao T6 nhờ chở về phòng trọ và cho T6 số tiền 100.000 đồng. Đến khi Cơ quan Công an đến mời L về trụ sở làm việc thì tìm thấy trong nhà có túi đựng cần câu cá bên trong có 01 con dao, 01 cái kìm và giao nộp, N1 chưa trả điện thoại cho L.
Kết luận định giá tài sản số 246/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện C, kết luận:
- 01 chiếc xe máy hiệu Wave Alpha, màu xanh không có biển số, trị giá 16.200.000 đồng.
- 01 cái lồng chim bằng kim loại, trị giá 200.000 đồng.
- 06 con chim hút mật trị giá 800.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 17.200.000 đồng (bút lục 345-346).
Vật chứng, đồ vật tạm giữ (bút lục 328-336):
- * Thu giữ của Đặng Văn T5: 01 nón bảo hiểm màu cam trắng, trên nón có ghi chữ “Điện Máy Nội Thất Tâm” của anh T5 mà các đối tượng cướp xe bỏ lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Đặng Văn T5.
- * Thu giữ của Nguyễn Cao T6:
- 01 xe máy hiệu Honda Vario, biển số 59Y3-739.67, số máy: KF41E2167089, số khung: MH1KF4127MK163392. Qua xác minh, chiếc xe máy trên do anh Nguyễn Tấn H7 mua và đứng tên chủ sở hữu năm 2021. Vào sáng ngày 02/11/2023, anh H7 mang xe đến tiệm rửa xe của Nguyễn Cao T6 gửi rửa xe. Đến 14 giờ 00 phút cùng ngày, T6 lấy xe này chở Đ1 về phòng trọ, H7 và T6 không biết việc Đ1 đi cướp tài sản. Cơ quan Cơ quan Cảnh sát Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Nguyễn Tấn H7.
- * Thu giữ của Lê Lâm Nguyễn Huỳnh :
- 01 quần đùi thun, màu xám, 01 áo sơ mi ngắn tay, màu xám, 01 đôi dép màu cam, 01 cây xâm gạo dài khoảng 40 cm.
- 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 93H1-217.30, số máy: E3X9E025539, số khung: RLCUE3210GY009779.
- * Thu giữ của Nguyễn Ngọc Đ1:
- 01 nón bảo hiểm, màu đen có dòng chữ AIRBLADE, 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc carô, màu xám nâu, 01 quần Jean, màu xanh.
- 01 điện thoại di động hiệu Zip Mobile, số Imei: 846171821078828.
- Tiền Ngân hàng N2 100.000 đồng.
- * Thu giữ của Trương Lụt L:
- 01 lồng chim bằng kim loại bên trong có 01 con chim hút mật.
- 04 con chim hút mật.
- 01 quần Jean dài, màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay, màu nâu, 01 đôi giầy, màu trắng.
- 01 cái kìm cắt kim loại dài khoảng 60 cm, 01 con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 60 cm, 01 túi đựng cần câu cá.
- 01 đầu mở khóa từ.
- Tiền Ngân hàng N2 300.000 đồng.
- 01 xe máy hiệu Yamaha Nouvo, không có biển số, số máy: 5P11431904, số khung: RLCN5P110BY431894.
- * Thu giữ của Huỳnh Văn L2:
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei 1: 862208040430114, số Imei 2: 862208040430106.
- 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 62S1-373.30, số máy: E34CE130027, số khung: RLCUE4140PY012636.
- * Thu giữ của Lưu Hoài L3:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei 1: 351330882597889, số Imei 2: 351330882783703.
- * Thu giữ của Nguyễn Văn L4: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 352055020529507, số sim: 0848324959.
- * Thu giữ của Võ Văn H3:
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei: 356107167513046, số thuê bao 0368525604.
- Tiền Ngân hàng N2 500.000 đồng.
Về dân sự: Bị hại Đặng Văn T5 yêu cầu bồi thường giá trị tài sản thiệt hại là chiếc xe gắn máy hiệu Wave Alpha, màu xanh tương đương số tiền 18.700.000 đồng.
Đối với 01 xe gắn máy hiệu Wave Alpha, màu xanh của bị hại Đặng Văn T5 chưa thu hồi được, chưa làm việc được người người mua chiếc xe này và 01 dao tự chế dùng gây án, 01 điện thoại di động của Trương Lụt L chưa truy tìm được, chưa làm việc được với người tên N1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục truy tìm, điều tra làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Bản cáo trạng số: 50/CT-VKS.CC ngày 06/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử các bị cáo:
- Trương Lụt L về tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp “Sử dụng vũ khí” và “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Nguyễn Ngọc Đ1 và Lê Lâm Nguyễn Huỳnh v tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp “Sử dụng vũ khí”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Huỳnh Văn L2, Nguyễn Văn L4 và Võ Văn H3 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Lưu Hoài L3 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình và đồng ý với Bản kết luận định giá tài sản số 246/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Vào khoảng 11 giờ 10 phút ngày 02/11/2023, tại đường K thuộc ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; các bị cáo Trương Lụt L, Nguyễn Ngọc Đ1 và Lê Lâm Nguyễn H dùng dao đuổi chém bị hại Đặng Văn T5, làm bị hại T5 hoảng sợ bỏ chạy để chiếm đoạt 01 xe máy hiệu Wave Alpha màu xanh, 01 lồng chim bằng kim loại, 06 con chim hút mật, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 17.200.000 đồng. Cùng ngày, bị cáo Trương Lụt L và bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 liên hệ với các bị cáo Võ Văn H3, Huỳnh Văn L2, Lưu Hoài L3 và Nguyễn Văn L4 bán chiếc xe gắn máy hiệu Wave Alpha, màu xanh của bị hại T5 tại khu vực Ấp A, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An và chia nhau tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:
- Bị cáo Trương Lụt L đã phạm vào tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp “Sử dụng vũ khí” và “Tái phạm nguy hiểm”, được quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 và Lê Lâm Nguyễn H đã phạm vào tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp “Sử dụng vũ khí”, được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Các bị cáo Huỳnh Văn L2, Nguyễn Văn L4 và Võ Văn H3 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Bị cáo Lưu Hoài L3 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; riêng bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 và bị cáo Lưu Hoài L3 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trương Lụt L từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Lâm Nguyễn Huỳnh từ G (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L2 từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L4 từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ Văn H3 từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lưu Hoài L3 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo Trương Lụt L không nói lời nói sau cùng.
Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Lê Lâm Nguyễn Huỳnh n lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo khắc phục lỗi lầm, sớm tái hòa nhập cộng đồng trở thành công dân tốt.
Bị cáo Nguyễn Văn L4 nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
Bị cáo Huỳnh Văn L2 nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Lưu Hoài L3 nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Võ Văn H3 nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo lo lắng cho gia đình và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng 50/CT-VKS.CC ngày 06/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án: Vào khoảng 11 giờ 10 phút ngày 02/11/2023, tại đường K thuộc ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; các bị cáo Trương Lụt L, Nguyễn Ngọc Đ1 và Lê Lâm Nguyễn H dùng dao đuổi chém bị hại Đặng Văn T5, làm anh T5 hoảng sợ bỏ chạy để chiếm đoạt 01 xe máy hiệu Wave Alpha màu xanh, 01 lồng chim bằng kim loại và 06 con chim hút mật với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 17.200.000 đồng. Cùng ngày, bị cáo Trương Lụt L và bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 liên hệ các bị cáo Võ Văn H3, Huỳnh Văn L2, Lưu Hoài L3 và Nguyễn Văn L4 bán xe gắn máy hiệu Wave Alpha, màu xanh thuộc sở hữu của anh T5 tại khu vực Ấp A, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An và chia nhau tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị cáo là có cơ sở, đúng quy định pháp luật, đúng tội, đúng người. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
- Bị cáo Trương Lụt L đã phạm vào tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp “Sử dụng vũ khí” và “Tái phạm nguy hiểm”, được quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 và Lê Lâm Nguyễn H đã phạm vào tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp “Sử dụng vũ khí”, được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Các bị cáo Huỳnh Văn L2, Nguyễn Văn L4 và Võ Văn H3 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Bị cáo Lưu Hoài L3 đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo L, Đ1, H là rất nguy hiểm cho xã hội chẳng những xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến tinh thần, tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người tại địa phương. Khi thực hiện hành vi các bị cáo nhận thức được rằng hành vi của mình sẽ bị pháp luật trừng trị. Song các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội tới cùng chỉ vì cần tiền tiêu xài nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân các bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo L4, L3, L2 và H3 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương và hoạt động bình thường của các tổ chức, cơ quan nhà nước. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là bị pháp luật nghiêm cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, hám lợi nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm, bất chấp sự trừng trị của pháp luật.
Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
[3] Tình tiết tăng nặng:
Các bị cáo Trương Lụt L, Huỳnh Văn L2, Nguyễn Văn L4, Võ Văn H3 và Lê Lâm Nguyễn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo L và bị cáo L2 có tiền án với tình tiết tái phạm nguy hiểm, bị cáo L4 và bị cáo H3 có tiền án với tình tiết tái phạm. Các bị cáo L, L2, L4, H3 đều chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện tội phạm nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm. Bị cáo Lê Lâm Nguyễn H có nhân thân xấu, thể hiện thái độ chưa chấp hành tốt quy định của pháp luật: Năm 2011, bị xử phạt về tội “Chống người thi hành công vụ”; năm 2016 và năm 2018 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 và Lưu Hoài L3 có tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về xử lý vật chứng vụ án:
- 01 quần đùi thun, màu xám, 01 áo sơ mi ngắn tay, màu xám, 01 đôi dép màu cam, 01 cây xâm gạo dài khoảng 40 cm. Đây là bộ đồ và dụng cụ của H sử dụng để đi cướp tài sản, không có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 93H1-217.30, số máy: E3X9E025539, số khung: RLCUE3210GY009779. Qua xác minh, chiếc xe máy trên do Phạm Tuấn V1 đứng tên đăng ký xe. Vào năm 2020, anh V1 đã bán xe cho bị cáo H, đây là phương tiện H sử dụng để đi cướp tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 nón bảo hiểm, màu đen có dòng chữ AIRBLADE, 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc carô, màu xám nâu, 01 quần Jean, màu xanh. Đây là tài sản mà bị cáo Đ1 sử dụng để đi cướp tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Zip Mobile, số Imei: 846171821078828 của bị cáo Đ1 dùng làm phương tiện liên lạc đi cướp tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Tiền Ngân hàng N2 100.000 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội của bị cáo Đ1 được chia tiêu xài còn lại; các bị cáo L, Đ1, H đã thỏa thuận tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại T5 đủ số tiền 18.700.000 đồng mà bị hại T5 yêu cầu và bị cáo Đ1 từ chối nhận lại số tiền 100.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 quần Jean dài, màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay, màu nâu, 01 đôi giày, màu trắng. Đây là bộ đồ của L sử dụng để đi cướp tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 cái kìm cắt kim loại dài khoảng 60 cm, 01 con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 60 cm, 01 túi đựng cần câu cá. Đây là tài sản của L sử dụng để đi cướp tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 đầu mở khóa từ. Đây là dụng cụ của L nhờ L2 mua của L3 để đi trộm cắp tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- Tiền Ngân hàng N2 300.000 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội của bị cáo L tiêu xài còn lại; các bị cáo L, Đ1 và H đã thỏa thuận tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại T5 đủ số tiền 18.700.000 đồng mà bị hại T5 yêu cầu và bị cáo L từ chối nhận lại số tiền 300.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei 1: 862208040430114, số Imei 2: 862208040430106. Đây là tài sản của L2 dùng làm phương tiện liên lạc để tiêu thụ chiếc xe do phạm pháp mà có. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei 1: 351330882597889, số Imei 2: 351330882783703. Đây là tài sản của L3 dùng làm phương tiện liên lạc để tiêu thụ chiếc xe do phạm pháp mà có. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu N3, số Imei: 352055020529507, số sim: 0848324959. Đây là tài sản của L4 dùng làm phương tiện liên lạc để tiêu thụ xe do phạm pháp mà có. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu N3, số Imei: 356107167513046, số thuê bao 0368525604. Đây là điện thoại và số thuê bao của bà Võ Thị B (mẹ của H3), do H3 mới đi tù về không có tiền mua điện thoại nên có lúc mượn điện thoại của bà sử dụng. Tiến hành làm việc H3 trình bày có mượn điện thoại của bà B để gắn sim khuyến mãi sử dụng. Lăng điện thoại chào bán xe do phạm pháp mà có nhưng không thỏa thuận được. Khi Công an mời làm việc thì H3 bẻ sim ném bỏ. Bà Võ Thị B từ chối nhận lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Tiền Ngân hàng N2 500.000 đồng mà H3 đã tự nguyện nộp lại trong số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo H3 thu lợi bất chính. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) trong số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo H3 thu lợi bất chính, bị cáo H3 tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền trên của bị cáo H3 nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) của bị cáo L2 thu lợi bất chính, bị cáo L2 tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền trên của bị cáo L2 nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) của bị cáo L4 thu lợi bất chính, bị cáo L4 tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền trên của bị cáo L4 nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) của bị cáo L3 thu lợi bất chính, bị cáo L3 tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền trên của bị cáo L3 nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về những vấn đề khác:
- Đối với 01 nón bảo hiểm màu cam trắng, trên nón có ghi chữ “Điện Máy Nội Thất Tâm” của anh T5 mà các bị cáo L, Đ1, H sau khi cướp chiếc xe máy đã bỏ lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Đặng Văn T5 là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với 01 chiếc xe máy hiệu Honda Vario, biển số 59Y3-739.67, số máy: KF41E2167089, số khung: MH1KF4127MK163392. Qua xác minh, chiếc xe máy trên do anh Nguyễn Tấn H7 mua và đứng tên chủ sở hữu năm 2021. Vào sáng ngày 02/11/2023, anh H7 mang xe đến tiệm rửa xe của anh Nguyễn Cao T6 gửi rửa xe. Đến 14 giờ 00 phút cùng ngày, anh T6 lấy xe này chở Đ1 về phòng trọ, H7 và T6 không biết việc Đ1 đi cướp tài sản. Cơ quan Cơ quan Cảnh sát Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Nguyễn Tấn H7 là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
- 01 xe máy hiệu Yamaha Nouvo, không có biển số, số máy: 5P11431904, số khung: RLCN5P110BY431894. Qua xác minh số máy, số khung được cấp cho xe máy biển số 76E1-060.83 do chị Võ Thị T7 mua và đứng tên chủ sở hữu năm 2012. Vào ngày 13/10/2023, chị T7 đi làm để xe máy biển số 76E1-060.83 phía sau nhà tại Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An thì bị mất trộm. Chị T7 có đến Công an xã T, huyện B, tỉnh Long An trình báo sự việc. Do sự việc mất trộm xe máy biển số 76E1-060.83 tại Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C có văn bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Long An tiếp nhận xe máy trên để điều tra theo thẩm quyền nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Long An không tiếp nhận. Trương Lụt L khai vào ngày 30/10/2023, L gặp T2 (không rõ lai lịch) quen biết ngoài xã hội tại ngã tư Đ thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và mượn xe máy hiệu Yamaha Nouvo, biển số 68T1-059.94 để đi lại. Sau đó, L sử dụng xe đi cướp tài sản và cho N1 (không rõ lai lịch) mượn xe làm mất biển số. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng tách ra khỏi hồ sơ vụ án trả cho chị Võ Thị T7 là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
- 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 62S1-373.30, số máy: E34CE130027, số khung: RLCUE4140PY012636. Đây là phương tiện L2 sử dụng đi tiêu thụ xe do người khác phạm tội mà có. Qua xác minh, chiếc xe máy trên của chị Huỳnh Thị C (chị ruột Huỳnh Văn L2). Vào ngày 02/11/2023, chị C cho L2 mượn xe đi công việc. Chị C không biết L2 sử dụng xe đi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Huỳnh Thị C là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với 01 chiếc xe gắn máy hiệu Wave Alpha, màu xanh của bị hại Đặng Văn T5 chưa thu hồi được, chưa làm việc được người người mua chiếc xe này; 01 dao tự chế dùng gây án; 01 điện thoại di động của bị cáo Trương Lụt L chưa truy tìm được, chưa làm việc được với người tên N1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục truy tìm, điều tra làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Đặng Văn T5 yêu cầu bồi thường giá trị tài sản thiệt hại là chiếc xe gắn máy hiệu Wave Alpha, màu xanh tương đương số tiền 18.700.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo L và bị cáo Đ1, mỗi bị cáo bồi thường thiệt hại 7.000.000 đồng và bị cáo H bồi thường thiệt hại 4.700.000 đồng, tổng cộng số tiền 18.700.000 đồng cho bị hại T5.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Căn cứ vào Điều 35, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; cần buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo L chịu 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Đ1 chịu 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Huỳnh chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Điều luật, tội danh và hình phạt:
[1] Đối với Trương Lụt L:
- Căn cứ vào điểm d, h khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Trương Lụt L phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trương Lụt L 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
[2] Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1:
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
[3] Đối với bị cáo Lê Lâm Nguyễn Huỳnh :
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Lâm Nguyễn Huỳnh phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Lâm Nguyễn Huỳnh 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
[4] Đối với bị cáo Nguyễn Văn L4:
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L4 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L4 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
[5] Đối với bị cáo Lưu Hoài L3:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Hoài L3 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Lưu Hoài L3 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
[6] Đối với bị cáo Huỳnh Văn L2:
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn L2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L2 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
[7] Đối với bị cáo Võ Văn H3:
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H3 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Võ Văn H3 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- * Tịch thu tiêu hủy:
- 01 quần đùi thun, màu xám, 01 áo sơ mi ngắn tay, màu xám, 01 đôi dép màu cam, 01 cây xâm gạo dài khoảng 40 cm.
- 01 nón bảo hiểm, màu đen có dòng chữ AIRBLADE, 01 áo sơ mi ngắn tay, sọc carô, màu xám nâu, 01 quần Jean, màu xanh.
- 01 quần Jean dài, màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay, màu nâu, 01 đôi giầy, màu trắng.
- 01 cái kìm cắt kim loại dài khoảng 60 cm, 01 con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 60 cm, 01 túi đựng cần câu cá.
- 01 đầu mở khóa từ.
- * Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 93H1-217.30, số máy: E3X9E025539, số khung: RLCUE3210GY009779.
- 01 điện thoại di động hiệu Zip Mobile, số Imei: 846171821078828.
- Tiền Ngân hàng N2 100.000 đồng.
- Tiền Ngân hàng N2 300.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Imei 1: 862208040430114, số Imei 2: 862208040430106.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei 1: 351330882597889, số Imei 2: 351330882783703.
- 01 điện thoại di động hiệu N3, số Imei: 352055020529507, số sim: 0848324959.
- 01 điện thoại di động hiệu N3, số Imei: 356107167513046, số thuê bao 0368525604.
- Tiền Ngân hàng N2 500.000 đồng;
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 27/PNK ngày 18/01/2024 và Phiếu thu số CTGS 028 ngày 18/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C).
- * Truy thu số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo:
- Số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) của bị cáo L2;
- Số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) của bị cáo H3;
- Số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) của bị cáo L4;
- Số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) của bị cáo L3;
3. Về trách nhiệm dân sự: Trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trương Lụt L đồng ý bồi thường cho bị hại ông Đặng Văn T5 số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng), trả một lần số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1 đồng ý bồi thường cho bị hại ông Đặng Văn T5 số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng), trả một lần số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lê Lâm Nguyễn H đồng ý bồi thường cho bị hại ông Đặng Văn T5 số tiền 4.700.000đ (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng), trả một lần số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 35, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc các bị cáo Trương Lụt L, Nguyễn Ngọc Đ1, Lê Lâm Nguyễn H, Huỳnh Văn L2, Nguyễn Văn L4, Võ Văn H3 và Lưu Hoài L3, mỗi bị cáo phải chịu nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Trương Lụt L và bị cáo Nguyễn Ngọc Đ1, mỗi bị cáo phải chịu nộp 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo bị cáo Lê Lâm Nguyễn Huỳnh p chịu nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền yêu cầu thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Lâm Nguyễn H cùng đồng phạm phạm tội "Cướp tài sản" Bị cáo Nguyễn Văn L4 cùng đồng phạm phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
