Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/DS-ST

Ngày: 25/7/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Thái Tín Hiền

Ông Sơn Khem

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 415/2023/TLST-DS, ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N1;

Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 318/GUQ-NHNo-VC ngày 25/7/2024) (bà T có mặt).

Địa chỉ: Số D đường N, khóm A, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Võ Văn B (Võ Thanh B1); sinh năm: 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số E, khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trương Thị L; sinh năm: 1969 (có mặt)

Địa chỉ: Số C, khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bà Võ Yến L1; sinh năm: 1991 (có mặt)

Địa chỉ: Số C, khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

3. Ông Võ Văn Đ; sinh năm: 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số C, khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

4. Bà Võ Thị Yến N; sinh năm: 1999 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số C, khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 05/5/2023 của nguyên đơn Ngân hàng N1 cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Huỳnh Ngọc T trình bày:

Ngày 19/10/2018, Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng với ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201801023. Theo Hợp đồng, ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cho ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) vay số tiền 135.000.000 đồng; mục đích vay: Nuôi tôm.; lãi suất 10,5%/ năm; thanh toán trả lãi hàng quý, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 08 tháng.

Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201801023 ngày 19/10/2018 trên được bảo đảm bằng Hợp đồng thế chấp số 2017.03.135/HĐTC ngày 25/07/2017 được ký kết giữa ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) và bà Trương Thị L với Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 351294, có diện tích 17.957,4 m² (loại đất: Đất trồng lúa nước còn lại), thửa số 92; tờ bản đồ số 4, tọa lạc khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do UBND thị xã V cấp ngày 31/12/2015 cho hộ ông Võ Văn B.

Tính đến hết ngày 25/7/2024, tổng nợ của ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) tại Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V là: 221.700.514 đồng (trong đó nợ gốc: 135.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 57.554.384 đồng, nợ lãi quá hạn 29.146.130 đồng).

Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201801023 ngày 19/10/2018. Tuy nhiên, tính đến nay, ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng N1.

Nay ngân hàng N1 yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 toàn bộ số tiền 221.700.514 đồng (trong đó nợ gốc: 135.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 57.554.384 đồng, nợ lãi quá hạn 29.146.130 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201801023 ngày 19/10/2018, kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) (Võ Thanh B1) trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N1.

Trường hợp ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) trình bày: Ông thừa nhận có vay Ngân hàng N1 – Chi nhánh thị xã V số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh đúng theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng và đúng theo hợp đồng tín dụng số 77606LAV201801023 ngày 19/10/2018 và thống nhất thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo hợp đồng cũng như yêu cầu của ngân hàng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị L trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền mà ngân hàng khởi kiện.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Thị L và Võ Yến L1 đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn Võ Văn B (Võ Thanh B1) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Văn Đ, Võ Thị Yến N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) phải trả nguyên đơn Ngân hàng N1 số tiền 221.700.514 đồng (trong đó nợ gốc: 135.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 57.554.384 đồng, nợ lãi quá hạn 29.146.130 đồng) và ông B1 phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí thẩm định đo đạc theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ngân hàng N1 khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) có địa chỉ tại khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
  2. Bị đơn ông Võ Văn B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Yến N, ông Võ Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  3. Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) tại Hợp đồng tín dụng số 77606LAV201801023 ngày 19/10/2018 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 10,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông B1 còn nợ lại tiền nợ gốc là 135.000.000 và tiền lãi chưa thanh toán kể từ ngày 16/6/2020 cho đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) thanh toán nợ nhưng ông B1 không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên ngân hàng N1 yêu cầu bị đơn ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông B1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử 25/7/2024 số tiền là 221.700.514 đồng (trong đó nợ gốc: 135.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 57.554.384 đồng, nợ lãi quá hạn 29.146.130 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 77606LAV201801023 ngày 19/10/2018 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  4. Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1, ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) và bà Trương Thị L, ông Võ Văn Đ, bà Võ Yến L1 và bà Võ Thị Yến N đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2017.03.135/HĐTC ngày 25/07/2017, dùng tài sản là thửa số 92, tờ bản đồ số 4, tọa lạc ấp khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân thị xã V cấp cho hộ ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) ngày 31/12/2015 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với thửa đất thế chấp nêu trên hiện đang tồn tại 01 căn nhà của ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) và bà Trương Thị L, có kết cấu: Nhà trước có vách lá, mái lợp tôn xi măng, cột đúc, không có cửa, nền đất, đòn tay tầm vong, có chiều ngang 4,5m, chiều dài 10m; nhà sau có vách lá, mái lá, cột cây tạp, đòn tay tre, nền đất, không có cửa, có chiều ngang 4,9m, chiều dài 6,5m (nhà cất năm 2021) và 01 căn chòi của ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) và bà Trương Thị L dùng để trang thiết bị sử dụng cho nuôi tôm, có kết cấu: Mái lá, vách lá, nền đất, đòn tay tre + trâm bầu, có chiều ngang 4,5m, chiều dài 9m (cất năm 2021). Ngoài ra, còn có 14 cây dừa loại A, 03 cây me loại A. Phần còn lại của thửa 92 là đất trống. Thửa đất nêu trên do hộ ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và vợ chồng ông B1 đang quản lý, sử dụng. Đồng thời, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2017.03.135/HĐTC ngày 25/07/2017 được ký kết giữa ngân hàng với bị đơn ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị L, ông Võ Văn Đ, bà Võ Yến L1 và bà Võ Thị Yến N phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp, trong đó có nêu rõ tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.
  5. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn ngân hàng N1 đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.
  6. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  7. Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Võ Văn B.

    Buộc ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền 221.700.514 đồng (trong đó nợ gốc: 135.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 57.554.384 đồng, nợ lãi quá hạn 29.146.130 đồng). Ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 77606LAV201801023 ngày 19/10/2018 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn ngân hàng N1 được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Trương Thị L, bà Võ Yến L1, ông Võ Văn Đ, bà Võ Thị Yến N có trách nhiệm cùng với bị đơn ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) bàn giao tài sản thế chấp, cụ thể: Thửa đất số 92 (mục đích sử dụng: Đất trồng lúa nước), diện tích 17.957,4m² và tài sản trên thửa đất 92 gồm: 01 căn nhà của ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) và bà Trương Thị L, có kết cấu: Nhà trước có vách lá, mái lợp tôn xi măng, cột đúc, không có cửa, nền đất, đòn tay tầm vong, có chiều ngang 4,5m, chiều dài 10m; nhà sau có vách lá, mái lá, cột cây tạp, đòn tay tre, nền đất, không có cửa, có chiều ngang 4,9m, chiều dài 6,5m (nhà cất năm 2021) và 01 căn chòi của ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) và bà Trương Thị L dùng để trang thiết bị sử dụng cho nuôi tôm, có kết cấu: Mái lá, vách lá, nền đất, đòn tay tre + trâm bầu, có chiều ngang 4,5m, chiều dài 9m (cất năm 2021) và 14 cây dừa loại A, 03 cây me loại A, thửa đất thuộc tờ bản đồ số 4 tọa lạc khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 351294 do Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) ngày 31/12/2015 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2017.03.135/HĐTC ngày 25/07/2017.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
    • 3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

      - Bị đơn ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) chịu 11.085.026 đồng.

      - Nguyên đơn ngân hàng N1 và P triên Nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí, hoàn trả cho ngân hàng N1 và P triên Nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.890.074 đồng theo biên lai thu số 0000374 ngày 01 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

    • 3.2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) phải chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn ngân hàng N1 đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Võ Văn B (Võ Thanh B1) có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N1 số tiền 750.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THATAND tinh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 101/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger