Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/HS-ST

Ngày: 25- 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
  2. Ông Trương Minh Thọ

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 và thông báo mở lại phiên tòa số 21/2024/TB-HS ngày 02/4/2024 đối với bị cáo:

Bị cáo: Nguyễn Văn V, tên gọi khác: không; sinh ngày 20 tháng 02 năm 1990, tại: Khánh Hòa; nơi ĐKHKTT: Tổ H, Phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1961 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1960; vợ Hồ Thị KT1sinh năm 1991; tiền án: không;

Tiền sự:

  • - Tại quyết định số 82/QĐ-XPHC ngày 20/6/2019, Công an thành phố C về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác tường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác”. V đã nộp phạt ngày 26/6/2019;
  • - Tại Quyết định số 87/QĐ-XPHC ngày 25/6/2019, Công an thành phố C 2.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác tường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác”, V3nộp phạt ngày 28/6/2019.

Nhân thân: Tại Bản án số 69/2011/HSST ngày 18/8/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã xử phạt Nguyễn Văn V1 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, V3chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/8/2012, đã đóng 200.000đồng tiền án phí ngày 17/10/2011.

Bị bắt tạm giam ngày 05/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: anh Vũ Trọng H sinh năm 1981. Trú tại: Tổ L, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Văn C: 1985. Trú tại: B H, tổ dân phố L, Phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 14/4/2020, Nguyễn Văn V5xe ô tô tự lái hiệu Toyota Fortuner, biển số 51F – 764.26 của ông Đặng Văn C: 1985, ĐKHKTT: 2158 H, TDP L, Phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòavới giá 700.000 đồng/ngày để đi chở hàng và không thỏa thuận thời gian thuê. Sau đó, V6khiển xe ô tô trên lên thành phố Đ một sòng bạc để chơi đánh bạc. Tại đây, V7hết tiền nên một người tên T1(không rõ nhân thân, lai lịch) ở trong sòng bạc nói Vcầm cố xe ô tô hiệu Toyota Fortuner, biển số 51F – 764.26 để lấy tiền nhưng Vnói xe ô tô này không phải là xe của V8T2hướng dẫn Vlên mạng xã hội Facebook đặt làm giả giấy tờ xe ô tô để cầm cố. Đến ngày 16/4/2020, V9hệ với một tài khoản trên mạng xã hội Faceboook đặt làm giả một giấy chứng minh nhân dân mang tên Huỳnh Văn Đ1sinh năm: 1989 ĐKHKTT: E6/166 Liên Ấp 4 – 5, ĐP II, B, thành phố Hồ Chí Minh(hình trong giấy chứng minh nhân dân là hình của V10một giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 51F – 764.26 đề ngày 08/08/2016 mang tên Huỳnh Văn Đ1với giá là 10.000.000 đồng. Đến ngày 17/4/2020, V11được hai giấy tờ giả trên. Lúc này, T2giới thiệu cho V12người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) dẫn Vđến tổ L, Phường A, thành phố Đ Hlcầm cố xe ô tô. Tại đây, V13thiệu bản thân tên Huỳnh Văn Đ1 chủ xe ô tô hiệu Toyota Fortuner biển số 51F – 764.26. Lúc này, ông H2tra hình trong giấy chứng minh nhân dân là hình của V14tin tưởng V15là Huỳnh Văn Đ1là chủ xe ô tô biển số 51F - 764.26 nên ông H3ý cho V16chấp xe ô tô hiệu Toyota Fortuner biển số 51F- 764.26 với số tiền 400.000.000 đồng. Số tiền này, V3sử dụng để chơi đánh bạc.

Sau khi cầm xe, V17điện thoại cho anh C1dài thời gian thuê và vẫn trả tiền thuê xe hàng tháng cho anh C, đến thời gian khoảng 6, 7 tháng sau khi thuê xe thì bị cáo không trả tiền thuê xe cho anh C3kéo dài đến khoảng 15 ngày sau thời gian bị cáo không trả tiền thuê xe, do trên xe có gắn định vị nên thấy xe ở khu vực Đvà xe ít di chuyển nên anh C4ngờ bị cáo cầm xe, vì vậy anh C5điện thoại yêu cầu bị cáo V18trả xe để anh đi bảo dưỡng. Khoảng 2,3 ngày sau khi anh C5điện yêu cầu bị cáo trả xe thì mẹ và anh chị bị cáo có lên nhà anh C nói cho anh C biết việc bị cáo V3cầm xe và năn nỉ anh C đừng báo công an. Sau khi gia đình V19anh C6lên Đgặp H (là người cầm xe) để xác minh và nói anh H4xe cho anh C, không giao xe thì anh C sẽ báo công an, anh H5đồng ý giao xe mà lái xe bỏ đi. Do sợ mất xe và do gia đình bị cáo năn nỉ nên bố vợ anh C7ông L MT3có cho gia đình bị cáo mượn 500.000.000đ để chuộc xe từ anh H

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 Giấy chứng minh nhân dân số [...] đề ngày 25/7/2018, ghi tên Huỳnh Văn Đ2– sinh năm: 1989 – nơi đăng ký HKTT: E6/166 Liên Ấp 4 – 5 ĐP II, B, TP Hồ Chí Minh(bản chính).
  • - 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 191389 đề ngày 08/8/2016 của xe ô tô biển số 51F – 764.26 ghi tên Huỳnh Văn Đ2– nơi đăng ký HKTT: E6/166 Liên Ấp 4 – 5 ĐP II, B, TP Hồ Chí Minh(bản chính).
  • - 01 giấy thế chấp xe ô tô biển số 51F – 764.26, bên thế chấp: H– 1989 – địa chỉ: EL, B, TP H thế chấp là anh Võ Trọng H1(bản chính – viết tay).
  • - 01 hợp đồng thuê xe ô tô biển số 51F – 764.26, đề ngày 14/4/2020 (bản chính).
  • - 01 Bản phô tô Giấy chứng minh nhân dân mang tên Huỳnh Thị T– sinh năm 1960 – nơi cư trú: HCam Phúc BTP C, Khánh Hòa
  • - 01 Bản phô tô Sổ hộ khẩu số [...] chủ hộ là Nguyễn Văn Đ– địa chỉ: H DCam P., Khánh Hòa
  • - 01 Bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 156, tờ bản đồ số 52 – địa chỉ: Tổ dân phố H, Phường C, TP C, Khánh Hòa
  • - 01 Bản phô tô giấy mượn tiền, bên mượn là gia đình bà Huỳnh Thị T2 trú: H, C, TP C, Khánh Hòacùng gia đình, số tiền mượn: 500.000.000 đồng.

Các vật chứng này đã được lưu hồ sơ vụ án.

Ngày 17/01/2022, Phòng KCông an tỉnh Lkết luận giám định số: 1604/GĐ-PC09 kết luận:

  • - Chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 191389 ngày 08/8/2016; tên chủ xe: Huỳnh Văn Đ1là giả.
  • - Giấy chứng minh nhân dân số [...] đề ngày 25/7/2018; Họ tên: Huỳnh Văn Đ3ngày 15/8/1989 là giả.

Ngày 19/01/2022, Phòng KCông an tỉnh Lkết luận giám định số: 1605/GĐ-PC09 kết luận:

  • - Giấy thế chấp, đề ngày 17/4/2020 (Ký hiệu A)
  • - Bản tường trình, đề ngày 07/12/2021 (Ký hiệu M)

Chữ viết phần nội dung trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của N liệu mẫu so sánh ký hiệu M là do cùng một người viết ra.

Tại Bản kết luận định giá trong tố tụng hình sự số 181/KL – HĐĐG ngày 04/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 1 (một) xe ô tô biển số 51F-764.26, nhãn hiệu Toyota, số loại. Fortuner Kun60L - NKMSHU, sản xuất năm 2016, có 7 chỗ ngồi, loại nhiên liệu dầu Diesel, màu sơn bạc, dung tích động cơ 2494 cm³, đã qua sử dụng. Tại thời điểm định giá, xe ô tô còn sử dụng được, đủ điều kiện tham gia giao thông, có giá trị giao dịch phổ biến tại các cửa hàng mua bán lại là 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng).

Tại Bản cáo trạng số 94/CT-VKSÐL-LĐ ngày 02/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V2 “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này có đối tượng tên T2là người hướng dẫn cho Nguyễn Văn V22giả các giấy tờ, tài liệu. Tuy nhiên, V23nhận không biết nhân thân, lai lịch của T2nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đtiếp tục xác minh, khi có kết quả xác minh sẽ xử lý sau.

Đối với số tiền 400.000.000 đồng mà N1 của ông Vũ T3 H1sử dụng đánh bạc thắng thua bằng tiền và thua hết số tiền này thì ngoài lời khai của V25còn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh V26gia đánh bạc ở đâu, đánh bạc cùng với ai, công cụ phương tiện để sử dụng để đánh bạc nên chưa đủ cơ sở để xử lý Vvề hành vi đánh bạc như lời khai của V

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu quan điểm vụ án, giữ nguyên bản cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị:

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn V3 năm đến 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 04 đến 05 năm từ về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Đề nghị áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/4/2020 bị cáo V3lên mạng đặt làm giả giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe, sau đó sử dụng các giấy tờ giả này đem cầm cố cho anh Vũ T3 Hllấy số tiền 400.000.000₫ (bốn trăm triệu đồng) sử dụng vào việc đánh bạc và tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự như cáo trạng và kết luận của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, bị cáo đã từng bị đưa ra xét xử và có tiền sự, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, trị an xã hội nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian dài nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Không có

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo, nên áp dụng cho bị cáo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về dân sự: Bị cáo đã trả lại tiền cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thên nên không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V4“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341 và khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

    Nguyễn Văn V 11 (Mười một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

    Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/5/2022.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Công an thành phố Đà Lạt;
  • - THA thành phố Đà Lạt;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bộ phận THA phạt tù;
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hà Vân Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341 và khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn V 11 (Mười một) năm tù về tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội“Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/5/2022.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger