Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-4-2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”.


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  • 1. Ông Trần Văn Chánh
  • 2. Bà Thiều Thị Phi Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.


Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2547/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Đặng Trọng L, sinh năm 1962.
  • Địa chỉ: Số nhà A, tổ C, khu phố G, Phường L, TP ., tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960.
  • Địa chỉ: Số nhà A, tổ C, khu phố G, Phường L, TP ., tỉnh Đồng Nai.

(Ông Lbà T có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hoà giải nguyên đơn ông Đặng Trọng L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Nguyễn Thị T kết hôn với nhau vào năm 1992, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là phường P, thành phố B), tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, về sau không hạnh phúc do không hợp nhau về tính tình, bất đồng quan điểm. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, nên tôi xin ly hôn với bà T để trả tự do cho nhau.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi có một con chung là: Đặng Nguyễn Tố L1, sinh ngày: 12/11/1997. Con đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông L tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 1992. Trong quá trình chung sống ban đầu vợ chồng có xảy ra những xích mích nhưng dần dần hai vợ chồng đã tìm ra tiếng nói chung, không còn xảy ra mâu thuẫn gì. Nay ông L xin ly hôn thì bà không đồng ý vì bà muốn con có đầy đủ cả bố và mẹ.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi có một con chung là: Đặng Nguyễn Tố L1, sinh ngày: 12/11/1997. Con đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của ông Lbà T không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, ông L yêu cầu ly hôn với bà T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Về con chung: Ông Lbà T có một con chung là: Đặng Nguyễn Tố L1, sinh ngày: 12/11/1997. Con đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Ông Lbà T tự thoả thuận, không xem xét, giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.

2

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Ông Đặng Trọng L yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị T. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự, ông Đặng Trọng L là nguyên đơn, bà Nguyễn Thị T là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Đặng Trọng L nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị T có địa chỉ là số nhà A, tổ C, khu phố G, Phường L, TP ., tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng: Ông Đặng Trọng Lbà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Lbà T theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Trọng Lbà Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã được Ủy ban nhân dân xã P (nay là phường P, thành phố B), tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 1992 nên áp dụng Điều 6, Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo ông L, trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc sau đó không hạnh phúc do không hợp nhau về tính tình, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã ly thân gần một năm nay không còn quan tâm chăm sóc nhau. Ông đã làm đơn ly hôn và nộp cho Toà án để giải quyết, sau rút đơn về để hàn gắn nhưng cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, ngày càng trầm trọng. Nay ông kiên quyết xin ly hôn với bà T.

Theo bà T trình bày: trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra xích mích, cãi vã về quan điểm cuộc sống nhưng sau đó nhường nhịn để giữ êm ấm gia đình và muốn giữ danh dự cho con khi con lập gia đình riêng, nên bà không đồng ý ly hôn.

Như vậy, các đương sự đều thừa nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau phát sinh mâu thuẫn. Toà án cũng đã hoà giải để hai vợ chồng đoàn tụ nhưng ông L vẫn kiên quyết xin ly hôn với bà T. Còn bà T tuy trình bày không muốn ly hôn nhưng không có biện pháp nào cữu vãn hôn nhân vợ chồng. Lý do không ly hôn chỉ vì muốn giữ danh dự cho con cái. Điều đó thể hiện bà T không còn tình cảm vợ chồng với ông L và không tích cực trong việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Qua kết quả xác minh tại nơi cư trú ngày 07/12/2023 thì địa phương không nắm rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng ông Lbà T do không thấy trình báo. Quá trình giải quyết ông L cung cấp quyết định đình chỉ giải quyết số 591/2016/QĐST-HNGĐ ngày 09/12/2016 về việc ly hôn giữa ông và bà T.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ông Lbà T là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông L, giải quyết cho ông L được ly hôn với bà T để trả tự do cả hai là phù hợp.

[5] Về con chung: Ông Lbà T có một con chung là: Đặng Nguyễn Tố L1, sinh ngày: 12/11/1997. Con đã trưởng thành, có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về tài sản chung: Ông Lbà T trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về nợ chung: Ông Lbà T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Ông L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 6, Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Trọng L. Ông Đặng Trọng L được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
  2. Về con chung: Ông Lbà T có một con chung là: Đặng Nguyễn Tố L1, sinh ngày: 12/11/1997. Con đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét.
  3. Về tài sản chung: Ông Lbà T tự thoả thuận, Toà án không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có, Toà án không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Ông Đặng Trọng L phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009221 ngày 20/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS ND tỉnh Đồng Nai;
  • - T.H.A dân sự TP. Biên Hoà;
  • - VKS TP Biên Hoà;
  • - Các đương sự.
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Thành Thị Thu Trang

5


THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thành Thị Thu T1

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 101/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vợ chồng ly hôn do mâu thuẫn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger